NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN 1
1
MỤC LỤC 2
2
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC GIÁ 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Các chiến lược định giá sản phẩm 4
1.2.1 Định giá sản phẩm mới 4
1.2.2 Định giá sản phẩm cải tiến 5
MỞ ĐẦU
Ngày nay xu thế toàn cầu hoá kinh doanh đang phát triển mạnh mẽ và xuất hiện
nhiều khuynh hướng trái ngược nhau. Với sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia và sự
phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế
hoá mạnh mẽ, những thị trường toàn cầu về nhân lực, công nghệ, tư bản, hàng hoá
nguyên vật liệu, dịch vụ…ngày càng được mở rộng. Do đó các doanh nghiệp phải lấy thị
trường toàn cầu làm trung tâm. Mặt khác với sự mở rộng giao lưu giữa các quốc gia làm
thay đổi nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng đòi hỏi
các doanh nghiệp phải liên tục thay đổi. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang làm
thay đổi thế giới. Các doanh nghiệp ngày càng hướng tới sự phát triển bền vững trên cơ
sở phát huy kỹ năng của nguồn nhân lực và sức mạnh của công nghệ mới và sự sáng tạo
toàn diện của nhân viên. Tối đa hoá lợi nhuận ngày nay sẽ là hệ quả của sự thoả mãn nhu
cầu khách hàng toàn diện.
Do đó, để giữ vững vị trí của công ty mình trên thị trường cạnh tranh đầy khốc
liệt, vai trò của nhà quản trị là hết sức quan trọng trong việc hoạch định các chiến lược
riêng biệt. Trong đó có thể nói chiến lược marketing là một trong những yếu tố chủ chốt
quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Và giá là một trong bốn biến số quan trọng
của marketing mix. Giá đóng vai trò quyết định trong việc mua hàng này hay hàng khác
đối với người tiêu dùng.
3
Xây dựng và quản lý chiến lược giá đúng đắn là điều kiện quan trọng đảm bảo
doanh nghiệp có thể xâm nhập và chiếm lĩnh được thị trường và hoạt động kinh doanh có
hiệu quả cao. Tuy nhiên giá cả chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Sự hình thành và vận
động của nó rất phức tạp. Việc quản trị chiến lược giá hợp lý đòi hỏi phải giải quyết
nhiều vấn đề tổng hợp và đồng bộ.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC GIÁ
1.1 Khái niệm
Giá là một trong 4 biến số quan trọng của marketing mix. Giá đóng vai trò quyết
định trong việc mua hàng này hay hàng khác đối với người tiêu thụ. Đối với công ty
hảo hạng và đề ra mức giá cao nhất, thì công ty mới gia nhập, có thể triển khai một trong
số những chiến lược khác. Công ty mới ấy có thể thiết kế một sản phẩm có chất lượng
cao và đề ra giá trung bình (ô 2), thiết kế một sản phẩm chất lượng trung bình và đề ra giá
trung bình (ô 5) v v. Công ty cũng phải xem xét qui mô và tốc độ tăng trưởng thị trường
trong mỗi ô và các đối thủ cạnh tranh đặc biệt.
1.3 Các chiến lược điều chỉnh giá
1.3.1 Định giá chiết khấu và bớt giá
Chiết khấu tiền mặt là sự giảm giá cho những người mua nào thanh toán sớm.
Ví dụ: Nếu người bán ghi là “2/10 net 30” có nghĩa việc thanh toán được kéo dài
5
trong vòng 30 ngày, nhưng người mua có thể được lợi 2% trên giá nếu thanh toán
hóa đơn trong vòng 10 ngày. Những chiết khấu này khá phổ biến và phục vụ cho
mục đích cải thiện thanh toán khoản của người bán và làm bớt phí tổn thu nợ cũng
như lượng nợ khó đòi.
Chiết khấu số lượng là sự giảm giá cho những người mua nhiều. Chiết khấu này
phải được áp dụng cho mọi khách hàng nhằm khích lệ họ mua nhiều nhờ đó giảm được
nhiều phí tổn và tăng được tổng lợi nhuận của công ty.
Chiết khấu chức năng (chiết khấu thương mại) được nhà sản xuất giành cho các
thành viên trong kênh phân phối nhằm kích thích họ hoàn thành tốt các công việc của họ.
Chiết khấu theo mùa là sự giảm giá cho các khách hàng mua hàng hay dịch vụ vào
mùa vắng khách. Ví dụ các khách sạn vùng biển giảm giá phòng vào mùa đông lạnh.
Bớt giá là một dạng khác của việc giảm giá so với biểu giá đã quy định. Chẳng hạn,
bớt giá khi mua mới đổi cũ là giảm giá cho những trường hợp trả lại hàng cũ khi mua
hàng mới, thường được áp dụng đối với các sản phẩm dùng lâu bền. Bớt giá cổ động là
những khoản chi trả hay bớt giá để thưởng cho những trung gian phân phối tham gia vào
để đứng trụ được trong những thị trường ngày càng cạnh tranh nhiều hơn.
1.3.4 Định giá cổ động
Định giá lỗ để thu hút khách hàng: trong một số trường hợp, các siêu thị và cửa
hàng tạp hóa sẽ định ra một mức giá bán thấp hơn giá vốn cho một số sản phẩm để thu
hút khách hàng mua nhiều hơn hay hi vọng rằng họ sẽ mua cả những sản phẩm khác có
mức lãi bình thường.
Định giá cho những dịp đặc biệt: người bán cũng có thể áp dụng cách định giá
khuyến mãi vào những dịp đặc biệt trong những thời kỳ nhất định để thu hút thêm khách
hàng hay khuyến khích khách hàng mua nhiều hơn.
Khấu hồi tiền mặt: các nhà sản xuất thỉnh thoảng cũng đưa ra những khoản khấu
hồi (trả bớt lại) tiền mặt cho khách hàng mua sản phẩm trong một thời hạn nhất định nào
đó nhằm khuyến khích họ mua sản phẩm của doanh nghiệp.
7
Tài trợ mua hàng bằng lãi suất thấp: thay vì hạ giá bán sản phẩm, doanh nghiệp có
thể tài trợ cho người mua với lãi suất thấp. Tuy nhiên, mặc dù việc tài trợ với lãi suất thấp
có thu hút thêm khách hàng đến với cửa hàng, nhưng nhiều người vẫn không mua vì họ
hiểu rằng phải thanh toán trong một thời gian ngắn một khoản tiền khá lớn trong thời
gian quy định.
Bảo hành và hợp đồng dịch vụ: doanh nghiệp có thể kích thích việc mua hàng bằng
cách có kèm theo bảo hành miễn phí hay hợp đồng dịch vụ
Chiết khấu về mặt tâm lí: đây là một kỹ thuật điều chỉnh giá, theo đó doanh nghiệp
định giá cao giả tạo cho sản phẩm ngay ban đầu, rồi sau đó bán ra với mức giá thấp hơn
nhiều.
1.3.5 Các chiến lược định giá danh mục sản phẩm
Định giá mặt hàng
Các công ty thường triển khai các mặt hàng của một dãy sản phẩm (product line). Ví
dụ hãng Panasonic đưa ra 5 loại máy quay video màu, từ cái đơn giản nặng 2 kg đến loại
phức tạp nặng 2,8 kg gồm hệ thống điều chỉnh ánh sáng, tiêu cự tự động và ống kính hai
tốc độ. Mỗi loại máy nối tiếp trong chuỗi mặt hàng ấy đều có những đặc điểm khác nữa.
Các nhà marketing phải quyết định các bậc giá cho những loại sản phẩm khác nhau ấy.
Trong ngành chế biến thịt, lọc dầu, hóa chất, luyện kim, thường có các sản phẩm phụ
và sau khi xử lý, chúng có những giá trị nhất định. Các sản phẩm phụ trong ngành chế
biến thịt là da, xương, huyết, lòng, tim, gan,… trong ngành lọc dầu là nhựa đường, dầu
nhớt…; trong ngành luyện kim là xi măng xỉ, bê tông xỉ, khí lò cốc, lò cao v v. Khi tìm
kiếm được thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm phụ này, chúng cho phép giảm được
nhiều chi phí, do đó giảm được giá bán sản phẩm chính khiến nó có sức cạnh tranh cao
hơn.
Định giá hai phần
Các doanh nghiệp dịch vụ thường tính một giá cước cố định cộng thêm cước phí sử
dụng biến đổi. Chẳng hạn người thuê bao điện thoại phải trả một cước phí sử dụng tối
thiểu là 68000 đồng cho 450 cuộc gọi nội hạt hằng tháng,ngoài ra phải trả thêm một
9
khoản cước phí phụ trội cho những lần gọi vượt quá mức quy định trên và các cuộc gọi
đường dài.
Định giá sản phẩm trọn gói
Người bán thường kết hợp các sản phẩm của mình lại với nhau rồi bán với giá trọn
gói. Ví dụ như một người bán mỹ phẩm có thể chào bán cả gói gồm một số loại nước
hoa, son môi, phấn trang điểm với giá rẻ hơn là mua riêng từng thứ nhằm kích thích
khách hàng mua một lúc được nhiều mặt hàng.
1.4 Thay đổi giá cả sản phẩm
1.4.1 Chủ động giảm giá
Nhiều hoàn cảnh có thể làm cho một công ty phải xét đến chuyện giảm giá sản phẩm
của mình xuống mặc dù điều này có thể gây nên những trận chiến về giá cả. Một nguyên
nhân là sự quá thừa năng lực, công ty thì cần thêm khách hàng nhưng không thể đạt dược
bằng các biện pháp khác. Từ cuối những năm 70 nhiều công ty đã từ bổ lối định giá theo
hãng dẫn đầu và chuyển sang lối định giá linh hoạt.
Có nguyên nhân khác nữa là sự giảm thị phần đáng kể do cạnh tranh mãnh liệt về giá.
Một số ngành công nghiệp Mỹ – xe hơi, điện tử, gia dụng, máy ảnh, đồng hồ và thép
đang mất dần thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản vì sản phẩm của Nhật có
chất lượng cao lại đang bán với giá rẻ hơn sản phẩm của Mỹ. Hãng General Motors đã
Các nhà cạnh tranh rất dễ phản ứng với sự thay đổi giá. Làm thế nào công ty có thể
lường trước được các phản ứng có thể có của các nhà cạnh tranh? Có thể phản ứng của
đối thủ cạnh tranh nằm trong chiều hướng chung của việc thay đổi giá. Như vậy phản ứng
của đối thủ có thể lường trước được. Có thể đối thủ coi sự thay đổi giá như sự thách đố
mới và phản ứng theo quyền lợi riêng của họ. Trong trường hợp này Công ty phải xác
định xem quyền lợi riêng của họ là gì? Khi có nhiều nhà cạnh tranh công ty phải dự đoán
được phản ứng của mỗi đối thủ.
1.4.5 Đáp ứng với những thay đổi giá cả
Công ty nên đáp ứng thế nào đối với một sự thay đổi giá do đối thủ cạnh tranh khởi
xướng. Công ty cần xem xét những vấn đề như tại sao đối thủ thay đổi giá? Đối thủ lập
kế hoạch thay đổi giá tạm thời hay lâu dài. Điều gì sẽ xảy ra cho thị phần và lợi nhuận
11
của công ty nếu công ty không phản ứng lại? Hay đáp ứng có thể có của đối thủ sẽ như
thế nào?
Những người dẫn đầu thị trường thường phải đương đầu với việc cắt giảm giá để tiến
công của những doanh nghiệp nhỏ hơn đang muốn gia tăng thị phần. Nếu sản phẩm của
người thách thức thị trường ngang hàng với sản phẩm của người dẫn đàu thì giá thấp hơn
của nó sẽ làm thu hẹp thị phần của người dẫn đầu thị trường. Khi đó, người dẫn đầu có
thể lựa chọn một trong các giải pháp sau:
+ Giữ nguyên giá
+ Nâng cao chất lượng nhận thức được và giữ nguyên giá
+ Giảm giá
+ Tăng giá và cải tiến chất lượng
+ Tung ra một loại sản phẩm nghênh chiến giá thấp.
12
CHƯƠNG II: CHIẾN LƯỢC GIÁ CỦA COCA – COLA
TẠI VIỆT NAM
2.1 Lịch sử công ty Coca - Cola
2.1.1 Giới thiệu đôi nét về Coca – Cola toàn cầu
Vào năm 1886, lần đầu tiên Coca-Cola được giới thiệu đến công chúng ở Atlanta, đã
hơn 200 nước trên thế giới.
2.1.2 Lịch sử Coca-Cola Việt Nam
Năm 1960: Lần đầu tiên Coca-Cola được giới thiệu tại Việt Nam.
Tháng 2 năm 1994: Coca-Cola trở lại Việt Nam và bắt đầu quá trình kinh doanh lâu
dài.
Tháng 8 năm 1995: Liên Doanh đầu tiên giữa Coca-Cola Đông Dương và công ty
Vinafimex được thành lập, có trụ sở tại miền Bắc.
Tháng 9 năm 1995: Một Liên Doanh tiếp theo tại miền Nam mang tên Công ty Nước
Giải Khát Coca-Cola Chương Dương cũng ra đời do sự liên kết giữa Coca-Cola và công
ty Chương Dương của Việt Nam.
Tháng 1 năm 1998: Thêm một liên doanh nữa xuất hiện tại miền Trung - Coca-Cola
Non Nước. Đó là quyết định liên doanh cuối cùng của Coca-Cola Đông Dương tại Việt
Nam, được thực hiện do sự hợp tác với Công ty Nước Giải Khát Đà Nẵng.
Tháng 10 năm 1998: Chính Phủ Việt Nam đã cho phép các Công ty Liên Doanh trở
thành Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các Liên Doanh của Coca-Cola tại Việt
Nam lần lượt thuộc về quyền sở hữu hoàn toàn của Coca-Cola Đông Dương, và sự thay
đổi này đã được thực hiện trước tiên bởi Công ty Coca-Cola Chương Dương – miền
Nam.
14
Tháng 3 đến tháng 8 năm 1999: Liên doanh tại Đà Nẵng và Hà Nội cũng chuyển sang
hình thức sở hữu tương tự.
Tháng 6 năm 2001: Do sự cho phép của Chính phủ Việt Nam, ba Công ty Nước Giải
Khát Coca-Cola tại ba miền đã hợp nhất thành một và có chung sự quản lý của Coca-
Cola Việt Nam, đặt trụ sở tại Quận Thủ Đức – Thành Phố Hồ Chí Minh.
Từ ngày 1 tháng 3 năm 2004: Coca-Cola Việt Nam đã được chuyển giao cho Sabco,
một trong những Tập Đoàn Đóng Chai danh tiếng của Coca-Cola trên thế giới.
Hiện nay, Coca-Cola Việt Nam có 3 nhà máy đóng chai trên toàn quốc: Hà Tây – Đà
Nẵng – Tp.Hồ Chí Minh với tổng số vốn đầu tư trên 163 triệu USD. Số điểm bán hiện có
trên thị trường: 130.000 điểm bán, số lượng tiêu thụ hàng năm (trung bình) trên 100 triệu
lít nước giải khát. Doanh số bán trung bình hàng năm: 19 triệu thùng/két, doanh thu trung
thành nhất, trung thực nhất, thuận tiện và hết sức mộc mạc với mọi người tiêu dùng Việt
Nam.
2.2.1 Chiến lược định giá sản phẩm
Công ty Cocacola đã rất linh hoạt tạo nên sự phân cấp giá giữa những phân khúc
khác nhau làm cho sản phẩm của mình nằm trong khả năng thanh toán của khách hàng -
“ai cũng có thể thưởng thức hương vị của Cocacola”
Khám phá về người mua sắm thông qua hàng loạt nghiên cứu thị trường, từ đó tiến
hành định giá theo dung lượng của sản phẩm nhằm thỏa mãn khách hàng.
1. Coca - Cola chai thuỷ tinh, chai nhựa, lon
2. Fanta cam chai thuỷ tinh, chai nhựa, lon
3. Fanta dâu chai thuỷ tinh, chai nhựa, lon
4. Fanta trái cây chai thuỷ tinh, chai nhựa, lon
5. Sprite chai thuỷ tinh, chai nhựa, lon
6. Diet Coke lon
7. Schweppes chai thuỷ tinh, lon.
8. Schweppes Soda chanh chai thuy tinh, lon,chai nhựa.
9. Crush Sarsi chai thuỷ tinh, lon.
10.Nước đóng chai Joy chai PET 500ml và 1500ml.
11.Nước uống tăng lực Samurai chai thuỷ tinh, lon, bột.
12.Sunfill Cam Bột trái cây
13.Sunfill Dứa Bột trái cây.
16
Việt Nam là một nước có GDP/ người thấp, chi tiêu trong gia đình đa phần đều do sự
quyết định của những người nội trợ. Vì thế, 13 nhãn hàng ở trên có mặt trên thị trường
Việt Nam đều có những mức giá thích hợp với mức chi tiêu của người dân Việt Nam,
nhằm mang đến sự lựa chọn thuận tiện nhất, nhanh nhất cho tất cả các khách hàng. Với
tiêu chí này, Coca-Cola đã kết hợp giữa việc điều tiết giá và sản xuất sản phẩm theo nhu
cầu thị trường. Cụ thể là chiến lược định giá của Coca-Cola đánh vào tâm lý và sở thích
và mục đích tiêu dùng của từng độ tuổi:
Người nội trợ: có tâm lý mua dự trữ, giá rẻ Chai PET lớn tại khu vực nước ngọt
tiếp cận phân phối thấp nhất cuối cùng bằng "cút kít Coca"(những loại xe nhỏ, đây là
hình thức bán hàng và marketing trực tiếp hiệu quả) để đập vào mắt tất cả dân chúng.
Phương thức này sẽ khiến màu đỏ của Coca có thể thâm nhập vào tận các ngóc ngách,
ngõ phố ngoằn ngoèo.
2.2.2 Chiến lược điều chỉnh giá
Chiến lược định giá chiết khấu
Coca-cola Việt Nam có hệ thống phân phối mạnh, được xây dựng chặt chẽ từ Nam chí
Bắc. Các sản phẩm của Coca - Cola Việt Nam hiện có mặt trên mọi miền đất nước do sự
hoạt động liên tục của các nhà máy ở 3 miền và có trên 270.000 các đại lý. Hệ thống
phân phối của Coca - Cola hoạt động thông qua 4 hình thức:
1. Hệ thống các nhà phân phối lớn.
2. DSS: Hệ thông phân phối từ người bán sĩ tới người bán lẻ.
3. DSD: Hệ thống phân phối trực tiếp từ nhà máy đến các đại lý và từ các đại lý sẽ
phân phối đến các điểm bán lẻ.
18
4. Key Account: Hệ thống phân phối trực tiếp từ Nhà máy đến các điểm tiêu thụ lớn
sản phẩm Coca-Cola.
Do đặc điểm của ngành hàng nước giải khát cùng với chiến lược chung của công ty,
Coca-Cola hiện nay áp dụng chiến lược giá chiết khấu cho hệ thống các nhà phân phối
lớn (kho tổng), hệ thống phân phối trực tiếp từ nhà máy và các đại lý cấp 1. Cụ thể về
hình thức chiết khấu như sau:
Chiết khấu tiền mặt.
Chiết khấu tiền mặt là sự giảm giá cho những người mua nào thanh toán sớm. Một ví
dụ tiêu biểu: Nếu người bán ghi là “2/10 net 30” có nghĩa việc thanh toán được kéo dài
trong vòng 30 ngày, nhưng người mua có thể được lợi 2% trên giá nếu thanh toán hóa
đơn trong vòng 10 ngày. Những chiết khấu này khá phổ biến và phục vụ cho mục đích
cải thiện tình hình thanh toán của người bán và làm bớt phí tổn thu nợ cũng như lượng nợ
khó đòi.
Khi mới quay trở lại Việt Nam (1994) sau gần 25 năm vắng bóng, Coca-Cola thu
hút các đại lý độc quyền bằng những chính sách ưu đãi hấp dẫn, tạo sự gắn bó giữa công
Schweppes
Soda
Schweppes
Tonic
Crush-Sarsi
Chai nhựa(PET)
1.25L
Fanta-Fruit 140.000đ 137.000đ 12.000đ
( Két 12 chai) Cocacola 140.000đ 137.000đ 12.000đ
Sprite 135.000đ 132.000đ 11.000đ
Joy 0.5l 96.000đ 94.000đ 4.000đ
Nước uống đóng
chai JOY
Joy 1.5l 120.000đ 118.000đ 10.000đ
Joy 0.6l 120.000đ 118.000đ 5.000đ
Coco-Cola 6
lon tết
Sunfill Cam 12
hộp tết
240.000d 234.000 20.000d
Samurai 12
hộp
240.000đ 236.000đ 20.000đ
Samurai 3 túi 240.000đ
Sunfill Dứa 12
hộp
240.000đ 234.000đ 20.000đ
Bột đóng
gói(POWDER)
Sunfill Dứa 3
trường các nước trên thế giới đến giờ Coca Cola đã chiếm lĩnh vị trí đứng đầu trên thị
trường nước giải khát có ga ở Việt Nam. Các chiến lược giá hiện nay Coca Cola áp dụng
ở Việt Nam khá đơn giản nhưng hiệu quả đóng góp rất lớn vào thành công của họ ở Việt
Nam. Ngày nay, môi trường kinh doanh diễn biến khá phức tạp, sự tác động của lạm phát
ở Việt Nam cùng với suy thoái kinh tế thế giới đang khiến nhiều doanh nghiệp phải lao
đao. Mặc dù là một tập đoàn lớn, Coca Cola vẫn đứng vững, giá trị thương hiệu luôn ở
top “giá trị nhất thế giới” song Coca Cola nên có những chiến lược mới dựa trên sự đổi
mới, sáng tạo nhằm phát huy hiệu quả của chiến lược giá mang lại hiệu quả kinh doanh
lớn nhất.
22
Bên cạnh chiến lược chung cho toàn thị trường Việt Nam, Coca Cola cần tập trung
nghiên cứu thị trường, khoanh vùng, phân cấp phân phối từ đó làm cơ sở để xây dựng
những chiến lược giá tối ưu hơn cho từng vùng thị trường, từng phân khúc thị trường…
Ví dụ thị trường miền Trung có mức tiêu thụ thấp hơn miền Bắc và miền Nam, Coca
Cola có thể sử dụng chiến lược điều chỉnh giá theo chiết khấu để kích thích hệ thống
phân phối hoạt động hiệu quả hơn bằng hình thức chiết khấu trực tiếp trên doanh thu sẽ
hấp dẫn và tạo được hiệu ứng “đẩy” tốt hơn.
Việc hoàn thiện chiến lược giá nên đặt trọng tâm trong sự hài hoà với các chiến
lược kinh doanh của công ty. Đặc biệt phải lưu ý đến những phản ứng của thị trường tiêu
dùng và đối thủ cạnh tranh trước khi đưa ra những điều chỉnh hay thay đổi dù là nhỏ nhất
về giá để đảm bảo sự thành công vì người tiêu dùng Việt Nam là những người rất nhạy
cảm về giá.
3.2 Trung thực là trên hết
Để có được thành công như hiện nay, Coca Cola đã phải rất vất vả xây dựng kênh
phân phối của riêng mình vì khi quay trở lại thị trường Việt Nam năm 1994 Coca Cola lại
đi sau Pepsi. Chiến lược giá lúc bấy giờ Coca Cola sử dụng là chiết khấu độc quyền
1000đ/két rất thành công nhưng sau khi đã hợp tác được với các đại lý những điều khoản
trong hợp đồng của Coca Cola tỏ ra thiếu trung thực. Chiến lược giá của Coca Cola bắt
đầu bị các đại lý phản đối bằng những vụ kiện. Một câu hỏi được đặt ra là “ liệu có phải
Coca Cola đã gian dối?”.
một ưu thế trong những thời điểm như vậy.
Kết hợp với thương hiệu đồ ăn nhanh Việt Nam
Định vị của Coke, hay một số sản phẩm của Coca-cola rất phù hợp với hình ảnh
của đồ ăn nhanh Việt, gắn bó và gần gũi. Hợp tác cung cấp đồ uống độc quyền cho các
thương hiệu này vừa tạo kênh bán hàng mới, hình ảnh Coca Cola lại càng gần gũi hơn, và
có thể đối phó với chiến lược phong cách trẻ trung của đối thủ Pepsi
24
KẾT LUẬN
Như vậy giá cả là yếu tố định vị chính cho sản phẩm, là một trong các công cụ
thuộc phối thức marketing mà công ty sử dụng để đạt được mục tiêu marketing của mình.
Các quyết định về giá phải được phối hợp với những quyết định về mẫu mã, phân phối,
cổ động cho sản phẩm để hình thành một chương trình marketing nhất quán và có hiệu
quả. Các quyết đưa ra cho những khâu khác thuộc phối thức marketing đều có ảnh hưởng
đến những quyết định về giá.
Trong nền kinh tế thị trường năng động như ngày nay, Cocacola luôn bắt kịp với
sự thay đổi mau chóng của người tiêu dùng và luôn đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách
hàng hơn bất kỳ sản phẩm cùng loại khác trên thị trường. Cocacola không chỉ quan tâm
đến mục tiêu chiến lược trong tương lai gần mà còn hoạch định chiến lược dài hạn với
một mục tiêu duy nhất là: “cho mọi người được giải khát sảng khoái”. Vì vậy, Cocacola
luôn tự tin vững bước đi lên với thời gian cùng với sự ủng hộ của khách hàng để
Cocacola ngày một mạnh hơn, phục vụ khách hàng tốt hơn nữa để Cocacola luôn là “…
cho bạn cho tôi cho tất cả mọi người”.
`
25