Thực trạng hoạt động của thị trường liên ngân hàng việt nam - Pdf 23

Danh sách nhóm VKL –NHB-K9
1. Vương Thế Trung
2. Trương Hữu Việt
3. Mai Hoàng Hiếu
4. Trịnh Ngọc Minh
5. Phan Thị Thanh Huyền
6. Phạm Mai Trang
7. Hồ Phương Trang
8. Trịnh Thị Thùy Linh
9. Đặng Phương Thúy
10.Trần Thị Nhàn
Chương 1 : Thực trạng hoạt động của thị trường liên ngân
hàng Việt Nam.
1.1. Sự hình thành của thị trường liên ngân hàng Việt Nam:
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1992:

Trong thời kì nước ta thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp, hoạt động trong hệ thống ngân hàng theo mụ hỡnh một.Ngừn hàng nhà
nước Việt Nam là ngân hàng duy nhất vừa thực hiện chức năng kinh doanh, vừa
thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực tiền tệ - tín dụng- ngừn hàng.Mụ hỡnh
tổ chức bao gồm: Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Ngân hàng Nhà nước tỉnh,
thành phố thuộc trung ương, Ngân hàng Nhà nước quận, huyện.Trong giai đoạn
này, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là 3 trung tâm của nền kinh tế:
+Trung tâm tín dụng
+Trung tâm thanh toán
+Trang tâm tiền tệ
Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngân hàng trong thời kì này là thực iện theo
cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ từ trung ương xuống các chi nhánh, chi
điểm ngân hàng.Đối tượng đi vay chủ yếu của các ngân hàng trong giai đoạn
này là các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã. Hình thức cho vay chủ yếu
tham gia theo phần cùng với vốn ngân sách Nhà nước để bổ sung nguồn vốn

Ngày 7/10/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị số
07/CT-NH cho phép các tổ chức tín dụng được thực hiện việc cho vay và đi vay
lẫn nhau, đây có thể nói là văn bản pháp lý đầu tiên hướng dẫn và pháp lý hóa
quan hệ cho vay và đi vay giữa các tổ chức tín dụng, đánh dấu sự ra đời chính
thức của Thị trường tiền tệ Liên ngân hàng Việt Nam.
Trong thời kỳ đầu, do chưa có sự hiểu biết và tín nhiệm lẫn nhau nờn cỏc
giao dịch liên ngân hàng còn hạn chế và chỉ diễn ra lẻ tẻ ở một số ngân hàng
thương mại nhà nước.Để thúc đẩy các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động thị
trường Liên ngân hàng ngày 21/01/1993, kèm theo Quyết định số
114/QĐ_NH14, đánh dấu sự hình thành thị trường Liên ngân hàng Việt Nam có
tổ chức. Mục đích của quy chế này là tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có
điều kiện để hiểu biết nhau hơn với vai trò trung gian của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam.
Việc Ngân hàng Nhà nước đưa ra mô hình giao dịch này của Thị trường Liên
ngân hàng mới này ban đầu đã thu hút được sự chú ý của các tổ chức tín dụng
với 38 thành viên là các tổ chức tín dụng thuộc các loại hình khác nhau đăng kí
tham gia thị trường. Việc tham gia vào thị trường Liên ngân hàng do Ngân hàng
Nhà nước tổ chức đã tạo cơ hội cho các tổ chức tín dụng hiểu biết lẫn nhau,đồng
thời cũn cú sự hỗ trợ của NHNN với vai trò là người cho vay cuối cùng và bảo
lãnh cho các khoản vay này khi cần thiết.Tuy nhiên, hoạt động trên thị trường
liên ngân hàng trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế như: Thị trường còn manh
mún, quy mô nhỏ, các thành viên tham gia thị trường chưa thật sự tin tưởng lẫn
nhau, thời hạn của các giao dịch chủ yếu là kỳ hạn dài. Có thể đánh giá thị
trường liên ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này chưa thực sự sôi động, còn
mang tính chất tập dượt là chủ yếu.
Bước vào thời kỳ nước ta tiến hành hội nhập nền kinh tế, Chính phủ , Ngân
hàng nhà nước chỉ đạo tiến hành việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng để từng
bước lành mạnh hóa tài chính của các tổ chức tín dụng để hội nhập và có thể
đứng vững trên thị trường tài chớnh-tiền tệ quốc tế.Ngừn hàng Nhà nước Việt

dịch thông qua thị trường do Ngân hàng Nhà nước tổ chức đã gây ra những hạn
chế:
- Qua 23 phiên giao dịch thông qua Ngân hàng nhà nước, doanh số hoạt
động giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chỉ đạt 61,9 tỷ đồng, tính
bình quân chỉ đạt 2,6 tỷ/phiờn.
- Hoạt động giao dich thông qua thị trường có tổ chức có nhiều điểm bất lợi
như: các tổ chức tín dụng phải mất phí khi tham gia thị trường này, mất
công đi lại và mất thời gian đến tham gia thị trường nhưng hiệu quả lại
không cao. Mặt khác, trường chỉ họp 1 tuần 1 phiờn nờn khụng đáp ứng
được nhu cầu vốn phát sinh hàng ngày của các tổ chức tín dụng.
- Các nội dung thực hiện khoản vay vẫn tuân thủ theo chỉ thị số 07/CT_NH
của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quan hệ tín dụng giữa các tổ chức
tín dụng, vì vậy, vẫn còn hạn chế hoạt động giao dịch trên thị trường.
Để khắc phục những tồn tại nêu trên trong hoạt động của thị trường liên ngân
hàng , Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hàng quyết định số 190/QĐ_NH14
ngày 6/10/1993 về việc sửa đổi và bổ sung một số điều của quy chế và nội dung
hoạt động của Thị trường Liên ngân hàng , ban hành kèm theo Quyết định số
114/QĐ_NH14. Trong quyết định số 190/QĐ_NH14, điểm sửa đổi quan trọng là
chuyển từ hình thức giao dịch 1 tuần 1 phiên tại trung tâm thị trường snag giao
dịch trực tiếp với nhau vào tất cả các ngày trong tuần với trung tâm thị trường
bằng điện thoại, Fax.
Để thúc đẩy các giao dịch cho vay / đi vay lẫn nhua giữa các tổ chức tín
dụng, ngày 6/10/1993, Ngân hàng Nhà nước đã ban hàng Quy chế bảo lãnh vay
vốn trên thị trường Liên ngân hàng , kèm theo quyết định số 189/QĐ_NH14 của
thống đốc Ngân hàng Nhà nước.Theo Quy chế này thỡ cỏc giao dich cho vay/ đi
vay lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng chưa có sự “ tin tưởng” lẫn nhau có thể
được Ngân hàng Nhà nước xem xét bảo lãnh. Quyết định số 189/QĐ_NH14 ra
đời đã góp phần thúc đẩy các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng , đặc biệt
là các giao dịch bằng ngoại tệ(đụ la Mỹ).
Ngày 15/10/2001, Ngân hàng nhà nước đã ban hành quy chế về cho vay lẫn

phần của thị trường.
Nhỳm các NHTM cổ phần, công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân ở VN:
nhóm thành viên này trong vài năm trước được coi là có quy mô nhỏ, khả năng
tài chính hạn chế nên hoạt động cũg hạn chế và khiêm tốn. Tuy nhiên, trong 1
vài năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành NH,. Các NHTM cổ
phần đã từng bước cải thiện được vị thế, không còn chủ yếu đóng vai trò người
đi vay, nhận tiền gửi mà còn góp phần đáng kể trong việc cung vốn trên thị
trường liên ngân hàng.
Nhỳm các ngân hàng liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài và Ngân hàng
100% vốn nước ngoài: Những năm gần đây, cùng với việc tham gia vào WTO
và nhà nước ta cũng từng bước mở cửa thị trường ngân hàng, nhóm này sẽ
không chỉ đóng vai trò là nguồn cung ngoại tệ chủ yếu trên thị trường liên ngân
hàng mà hứa hẹn sẽ là nhóm đẩy mạnh hoạt động cũng như hiệu quả của thị
trường liên ngân hàng.
Tuy nhiên quy mô cũg như cách thức giao dịch trên thị trường liên ngân
hàng ở VN hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế cần phải khắc phục để tiến
tới 1 hệ thống liên ngân hàng hoạt động hiệu quả, khoa học và phát triển.
Kể từ khi mới được thành lập đến nay, doanh số giao dịch trên thị trường liên
ngân hàng không ngừng tăng lờn.Từ khoảng những năm 1993 đến 1995, trong
quan hệ vay và cho vay trên thị trường liên ngân hàng, hoạt động vay từ NHNN
của các tổ chức tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tiền vay.Quan hệ ay
lẫn nhau giữa các ngân hàng còn rất hạn chế.
Biểu đồ 1: Quan hệ vay và cho vay giữa các ngân hàng từ năm 1993 đến
1995

Từ sau những năm 1995, quan hệ vay và cho vay trực tiếp giữa các ngân
hàng bắt đầu được hình thành. Như vậy, vai trò làm đầu mối cảu NHNN trên thị
trường liên ngân hàng đã giảm, thể hiện ở việc doanh số vay NHNN của các tổ
chức tín dụng có xu hướng giảm: năm 1993 là 44 tỷ đồng, đến năm 1995 còn
30,5 tỷ đồng.Phương thức giao dịch trực tiếp tỏ ra có hiệu quả hơn nhưng lượng

đang tụt giảm. Ở thời điểm sôi động, tổng giá trị giao dịch lên tới 6.000-7.000 tỉ
đồng/ngày, nhưng nay chỉ còn bằng 25-30% mức đó. Việc NHNN không sẵn
sàng đưa tiền đồng ra mua đô la Mỹ đã đẩy các ngân hàng vào thế “chủ động
phòng thủ”. Bình thường họ giữ lại, thí dụ, 1.000 tỉ đồng, thì nay mức dự phòng
tăng lên gấp đôi. Những khách hàng lớn, như các tổng công ty xuất nhập khẩu,
các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư có thể cần 500-600 tỉ đồng tiền mặt/ngày
bất cứ lúc nào. Nếu ngân hàng không đáp ứng, sẽ mất khách hàng. Các ngân
hàng đú “trỳt” cho vay nhiều, mà vốn huy động vào thấp, khi cần chỉ còn cách
chạy lên liên ngân hàng và “bấm bụng” mua tiền đồng giá cao.Như vậy, sự mất
cân đối về cung cầu trên thị trường liên ngân hàng trong khoảng thời gian cuối
năm 2007, đầu năm 2008 đú từt yếu dẫn đến việc tăng chóng mặt của lãi suất
liên ngân hàng, kéo theo sự tăng lên của lãi suất thị trường, đặt nền kinh tế trước
một tình trạng nguy kịch.
Có thể nói rằng trong vòng ba năm trở lại đây, chưa bao giờ các ngân hàng
cần nhiều tiền để cho vay như hiện tại. Huy động tiền gửi từ dân cư và doanh
nghiệp không đủ, các tổ chức tín dụng đang tích cực tìm kiếm nguồn vốn trên thị
trường liên ngân hàng, khiến hoạt động trên thị trường này gần đây sôi động hẳn
lên.
Các ngân hàng tham gia vào thị trường liên ngân hàng đều có chung cảm
nhận gần đây tổng giá trị giao dịch hàng ngày của thị trường tăng lên, lãi suất
cũng tăng khoảng 10% so với giai đoạn trước 2005 ở tất cả các kỳ hạn, chứng tỏ
nhu cầu vốn đang cao.
Lãi suất vay một tuần hiện dao động từ 7,6-7,7%/năm, hai tuần trên
7,85%/năm, một tháng 8-8,15%/năm, ba tháng trên 8,4%/năm, vay qua đêm
khoảng 7,3%/năm. Tại một số ngân hàng cổ phần, 50% dư nợ cho vay là vốn
tìm kiếm ở thị trường liên ngân hàng. Nhiều ngân hàng vừa cho vay vừa đi vay.
Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng cường cho vay Đụla Mỹ và vay lại
tiền đồng.
Tuy nhiên, ở thị trường liên ngân hàng, người cần tiền thường chỉ vay được
từ vài chục đến vài trăm tỉ đồng. Những giao dịch hàng ngàn tỉ đồng rất hiếm.

và NHNH có thể căn cứ vào đó để dự báo biến động của thị trường tiền tệ. Từ
dú cỳ những biện pháp tác động kịp thời, đảm bảo sự ổn định của thị trường.
Lãi suất hình thành trên thị trường Liên ngân hàng chưa phản ánh lãi suất của
thị trường. Các tổ chức tín dụng mới chỉ tham gia vào thị trường Liên ngân hàng
với mục đích nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản của Ngân hàng mà chưa chú
trọng nhiều đến hoạt động kinh doanh trên Thị trường, chưa tham gia vào thị
trường với mục đích đầu tư, với khả năng dự đoán thị trường. Chớnh vỡ thế, chỉ
khi nào các tổ chức tín dụng có nhu cầu về vay hoặc cho vay vốn thì họ mới
thực hiện việc chào trên thị trường. Do việc không tham gia thường xuyên trên
thị trường nờn cỏc “giỏ chào” của các tổ chức tín dụng nhiều khi không sát với
giá thị trường. Bên cạnh đú, cỏc giao dịch giữa các tổ chức tín dụng trên thị
trường liên ngân hàng chủ yếu là song phương nên lãi suất hình thành trong giao
dịch nhiều khi chỉ theo cảm tính của 2 bên tham gia, nên chưa thể hiện được
toàn bộ cung cầu vốn trên thị trường. Kết quả tất yếu là, lãi suất trên Thị trường
Liên ngân hàng chưa phản ánh đúng với bản chất của thị trường, gây trở ngại
cho việc thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ.
Mặc dù lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng là một chỉ
số hết sức quan trọng, nhưng cho đến nay NHNN vẫn chưa xác định và thông
báo được lãi suất này một cách chính xác, cập nhật. Hiện nay, hãng tin
REUTER đã xây dựng được một trang màn hình để xác định lãi suất chào cho
vay / đi vay bình quân trên thị trường Liên ngân hàng Việt Nam hàng ngày. Cơ
chế xác định mức lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường Liên ngân hàng là:
hàng ngày, các ngân hàng (12 ngân hàng) được yêu cầu chào lãi suất của các
loại kì hạn khác nhau lên trang màn hình, bao gồm cả lãi suất chào vay và lãi
suất đi vay. Trên cơ sở đỳ, húng tính toán để xác định mức lãi suất bình quân
của từng kì hạn. Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn chưa sát với lãi suất thị trường,
vì vậy ít được các tổ chức tín dụng quan tâm, tham chiếu. Nguyên nhân là:
+ Cơ cấu các ngân hàng được chọn để tham gia chào lãi suất trên trang màn
hình chưa hợp lý: chủ yếu là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, chỉ có số rất
ít là các ngân hàng thương mại trong nước, vì vậy, lãi suất bình quân chưa phản

sử tiền tệ Việt Nam.Ngày 19/2/2008, thậm chí lãi suất cho vay đã đạt đến mức
43/% năm 1 con số khó có thể tin nổi.
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bị đẩy cao xuất phát từ những nguyên
nhân, như Ngân hàng Nhà nước chủ trương thắt chặt tín dụng nhằm kiềm chế
lạm phát bằng việc tăng dự trữ bắt buộc, đồng loạt tăng các lãi suất chủ chốt;
cầu VND tăng mạnh mùa cuối năm; vốn khả dụng của nhiều ngân hàng “buộc”
phải giải ngân mạnh cuối năm 2007 để tăng tổng dư nợ kịp “hẹn” Chỉ thị 03,
vốn VND để mua ngoại tệ… Một số nguyên nhân chính có thể thấy đó là:
Thứ nhất: Trong cỏc thỏng cuối năm 2007, đặc biệt là trong tháng 12-2007
các ngân hàng đẩy mạnh cho vay với tốc độ tăng trưởng rất cao, 14,2% so với
tháng 11-2007. Diễn biến này một mặt gắn liền với nhu cầu vốn cuối năm gia
tăng, mặt khác các ngân hàng đẩy mạnh tăng dư nợ tín dụng để bảo đảm thực
hiện quy định về cho vay chứng khoán theo Chỉ thị số 03 của NHNN. Chính vì
lẽ đó tạo ra nhu cầu vốn rất lớn và việc tăng mạnh và tăng cao lãi suất huy động
của một số tổ chức tín dụng là điều dễ hiểu.
Thứ hai: Trên thị trường liên ngân hàng, phần lớn các NHTM cổ phần nhỏ
(có quy mô vốn thấp, hoạt động dịch vụ kém phát triển và chủ yếu là kinh doanh
tín dụng) thường là các ngân hàng đi vay. Trong khi đó nhúm cỏc ngân hàng này
cũng chính là các ngân hàng có dư nợ tín dụng lớn hơn so với tổng huy động
vốn, tỷ lệ dư nợ tín dụng so với tổng huy động vốn cao hơn 100%, thậm chí có
NHTM cổ phần tỷ lệ này trên 200%. Một bộ phận vốn sử dụng cho vay khách
hàng và nền kinh tế được các tổ chức tín dụng này vay từ thị trường liên ngân
hàng. Song, bản chất của thị trường này là đáp ứng nhu cầu về thanh khoản, đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển vốn nhờ luân chuyển được nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi (qua đêm, ngày, tuần), nhờ vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đừy chớnh
là nguyên nhân cơ bản tác động trực tiếp đến thị trường liên ngân hàng. Cùng
với hiệu ứng nhu cầu vốn dịp Tết Nguyên đán đã làm nóng thị trường liên ngân
hàng và thị trường tiền tệ trên địa bàn trong thời gian qua.
Thứ ba: Một bộ phận các NHTM cổ phần lớn (quy mô vốn lớn, dịch vụ phát
triển mạnh, quản lý tốt) sử dụng vốn hợp lý hơn, cơ cấu nguồn và cơ cấu tín

ở khối cổ phần, đã đồng loạt “nới” lãi suất huy động VND, dự phớa sau đó là
bài toán chi phí, lợi nhuận và quan hệ với khách hàng vay vốn, lạm phỏt…
Với sự nỗ lực của NHTW, dường như sức nóng của thị trường giảm xuống
vào khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4, năm 2008. Lãi suất qua đêm của các tổ
chức tín dụng (TCTD) dao động từ 9,2 - trên 10%/năm; 1 tuần từ 14 -
15%/năm, 1 tháng từ 15 - 16%/năm. Các NHTM thực hiện thoả thuận với Hiệp
hội Ngân hàng Việc Nam về việc áp dụng mức trần lãi suất huy động VND bắt
đầu từ ngày 02/4/2008. Do đó, so với ngày 31/3/2008, các mức lãi suất huy
động có kỳ hạn đều giảm; riêng lãi suất huy động không kỳ hạn của khối NHTM
nhà nước có tăng lên. Các NHTM nhà nước có nhu cầu vốn trong thời gian này
là do áp lực về việc Kho bạc Nhà nước chuẩn bị rút về một khoản tiền lớn đang
gửi lại tại các ngân hàng này. Mục đích của việc này nhằm kiểm soát chặt chẽ sự
gia tăng của tổng phương tiện thanh toán. Theo kế hoạch của NHNN, NHNN sẽ
phối hợp với Bộ Tài Chính thực hiện việc chuyển số dư tiền gửi của Kho bạc
Nhà nước tại các NHTM hiện nay về gửi tập trung tại NHNN hoặc NHNN sẽ
uỷ thác cho các NHTM đối với những nơi không có chi nhánh NHNN. Dự kiến,
việc này sẽ được thực hiện theo lộ trình phù hợp trong năm 2008.
Lâu nay, nguồn vốn Kho bạc Nhà nước vẫn được gửi tại NHTM nhà nước,
với lãi suất 2,4%/năm. Khối NHTM nhà nước đã có nhiều cơ hội sử dụng đồng
vốn chi phí thấp để cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Thị trường tiền tệ
"núng" lờn được các chuyên gia giải thích rằng do nhiều ngân hàng chưa chấp
hành đỳng cỏc tỉ lệ an toàn trong hoạt động. Đó là việc sử dụng vốn vay trên thị
trường liên ngân hàng với kỳ hạn ngắn để cho khách hàng vay lại với kỳ hạn dài
dẫn tới vốn khả dụng bị thiếu hụt Bởi thế, khi thiếu hụt vốn khả dụng, các
ngân hàng này phải chấp nhận vay với mức lãi suất cao để có vốn. Đõy cũng là
nguyên nhân "châm ngòi" cho cuộc đua tăng lãi suất lan rộng trên toàn hệ thống
vào cuối tháng 2/2008. Đến đầu quý II_2004, nhu cầu vốn của các TCTD tăng
lên do nhiều khoản tiền gửi đáo hạn, cộng với yêu cầu đáp ứng dự trữ bắt buộc
của cỏc ngõn hàng. Do đó, ngay cả những "mạnh thường quân" cũng không dễ
dàng "mở hầu bao" cho các ngân hàng khác vay lại vào thời điểm này. Chính vì

LS để kiềm chế lạm phát. VN thì linh hoạt hơn, kiềm chế lạm phát nhưng chủ
trương từng bước thực hiện LS thực dương, trước mắt kéo LS xuống để giảm
bớt khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Từ tháng 2-2008 đến nay, NH Nhà nước,
Hiệp hội NH áp dụng nhiều biện pháp để "ấn" LS từ trên 12%/năm xuống
11%/năm; LS liên NH cũng đã giảm mạnh.
Bàn tay điều hành của ngân hàng nhà nước một lần nữa khẳng định sức mạnh
của mình với biểu hiện lãi suất thị trường liên ngân hàng giảm xuống trong
khoảng thời gian giữa tháng 5_2008, Ngày 14 và 15-5, LS liên NH đang có xu
hướng giảm dần. LS tuần từ mức 22-24%/năm giảm còn 19%/năm. LS qua đêm
dao động ở mức 20%/năm. LS liên NH có xu hướng giảm dần sau khi NH Nhà
nước đang bàn các biện pháp nhằm tiến tới bỏ trần LS huy động.
Ngày 19/8, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số
1849/QĐ-NHNN về lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân
hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam đối với cỏc ngừn hàng.Theo đó, kể từ ngày 19/8/2008, mức
lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù
đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ được điều chỉnh từ mức 0,03%/ngày
(10,8%/năm) lên 0,0417%/ngày (15%/năm). Cơ sở pháp lý để Ngân hàng Nhà
nước quyết định như vậy chính là quy định của Bộ luật Dân sự, Luật ngân hàng
Nhà nước và Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008.Theo đó, lãi
suất thị trường liờn ngõn hàng cũng là loại lãi suất trong khuôn khổ điều chỉnh
của bộ Luật dân sự, vì thế cần phải thực hiện theo quy định chung.Với sự ra đời
cảu quyết định này thì lãi suất liên ngân hàng trở thành lãi suất định hướng để
các ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động cho vay hay huy động vốn.
Theo đó, lãi suất thị trường liên ngân hàng cũng là loại lãi suất trong khuôn khổ
điều chỉnh của bộ Luật dân sự, vì thế cần phải thực hiện theo quy định
chung.Với sự ra đời cảu quyết định này thì lãi suất liên ngân hàng trở thành lãi
suất định hướng để các ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động cho vay hay
huy động vốn.
Dần về cuối năm 2008, thị trường tiền tệ đã dần trở về trạng thái ổn định. Lãi

1 tuần 2 tuần 1 tháng 3 tháng 6 tháng 12 tháng
VND 6,04 6,45 7,59 7,88 9,66 8,35 -
USD 0,50 0,85 1,18 1,63 2,28 1,91 -
1.5 Phương thức giao dịch trên thị trường liên ngân hàng

Trên thị trường liên ngân hàng, hình thức giao dịch đã được cải tiến nhằm
mục tiêu đảm bảo nhanh chóng, chính xác tuyệt đối và an toàn. Vào thời điểm
cuối năm 2000, trên thị trường liên ngân hàng đú cỳ 28 thành viên thực hiện
việc chào cho vay/đi vay thông qua hệ thống giao dịch hiện đại của mạng
REUTER.
Hoạt động thanh toán trên thị trường liên ngân hàng được thực hiện qua
mạng SWIFT. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng trong thời gian gần
đây đã góp phần rút ngắn thời gian thực hiện một giao dịch liên ngân hàng. Thời
gian thực hiện một giao dịch liên ngân hàng được rút ngắn xuống cũn đơn vị
giờ, thậm chí đơn vị phỳt.Việc thực hiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
trong thời gian qua của ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng đã góp phần
không nhỏ thúc đẩy hoạt động của thị trường liên ngân hàng, giúp tăng khả năng
luân chuyển vốn giữa các tổ chức tín dụng với nhau.
Về cách thức giao dịch trên thị trường liên ngân hàng: Hiện nay, các giao
dịch liên ngân hàng giữa các tổ chức tín dụng được thực hiện theo 2 cách:
- Cách thứ nhất: Các tổ chức tín dụng thực hiện việc ký kết hợp đồng tín dụng
làm căn cứ pháp lý cho khoản vay. Hình thức này chỉ được áp dụng đối với
khoản vay có thời hann tương đối dài, khoảng từ 3 đến 6 tháng.
- Cách thứ hai: Đây là các giao dịch diễn ra dưới hình thức gửi tiền và nhận
tiền gửi từ các tổ chức tín dụng khác. Theo cách này, các tổ chức tín dụng
mở tài khoản giao dịch lẫn nhau và sau khi thoả thuận nội dung các khoản
vay thì tiến hành việc chuyển tiền vào tài khoản của ngân hàng vay mở tại
ngân hàng cho vay. Khi đến hạn trả nợ theo thoả thuận trước, ngân hàng đi
vay chuyển tiền trả lại cho ngân hàng cho vay cả gốc và lãi tiền gửi. Hình
thức này thường được áp dụng với giao dịch có thời hạn ngắn và các tổ chức

Việt Nam
2.1 Những kết quả đạt được

Thứ nhất, kết quả nổi bật trước tiờn phải nói tới đó là sự ra đời của thị trường
liên ngân hàng ngay trong những năm đầu của quá trình đổi mới và luôn đóng
vai trò là thị trường trung tâm của thị trường tài chính Việt Nam. Việc hình
thành và phát triển của thị trường liên ngân hàng phải kể đến nỗ lực của ngân
hàng nhà nước trong việc xây dựng nên một thị trường liên ngân hàng như ngày
nay. Với việc xây dựng hành lang pháp lý đầu tiên ( Chỉ thị số 07/ CT- NH xây
dựng thị trường có tổ chức giao dịch trực tiếp , giao dịch gián tiếp, đồng thời
ngân hàng nhà nước bảo lãnh cho các hoạt động giao dịch liên ngân hàng trong
thời kỳ đầu mới thành lập thị trường là những bước đi đúng đắn, hiệu quả cả
ngân hàng nhà nước trong sự tạo ra sự tin tưởng giữa các thành viên trên thị
trường.
Thứ hai, hoạt động trên thị trường liên ngân hàng ngày càng phát triển với
quy mô và doanh số ngày càng tăng, chất lượng của các giao dịch được nâng
cao, cách thức giao dịch cũng được cải thiện, từng bước phù hợp với thị trường
tiền tệ quốc tế, thể hiện sự phát triển không ngừng của của thị trường liên ngân
hàng Việt Nam. Thông qua hoạt động giao dịch trên thi trường liên ngân hàng,
hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại được phát huy, nói rộng ra
là sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội và mang lại thu nhập đáng kể cho các ngân
hàng thương mại. Đồng thời nó có tác dụng đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân
hàng. Đối với ngân hàng nước ngoài, với khả năng huy động tiền đồng còn hạn
chế, thì thị trường liên ngân hàng chính là nơi cung cấp nguồn vốn tiền đồng
quan trọng để các ngân hàng này mở rộng thị trường hoạt động. đối với ngân
hàng thương mại trong nước,đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần thì
thị trường liên ngân hàng là kênh điều hòa vốn khả dụng, đồng thời thị trường
liên ngân hàng còn tạo ra nguồn vốn ngoại tệ cần thiết để các tổ chức tín dụng
trong nước mở tín dụng bằng ngoại tệ và cải thiện trạng thái ngoại hối của mình.
Thứ ba, cơ chế pháp lý và các quy tắc giao dịch của thị trường đã hình thành

bước hội nhập với thị trường tiền tệ khu vực và quốc tê. Với những bước đi
vững chắc tiếp cận với các giao dịch của thị trường tiền tệ khu vực, cũng như thế
giới kết hợp với phát triển nghiệp vụ và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, hệ
thống ngân hàng Việt Nam đã từng bước đạt được những thành công đáng ghi
nhận trong thời gian qua.
2.2.Những tồn tại và hạn chế.
2.2.1 Những tồn tại.
Mặc dù trong thời gian qua, hoạt đụngj trờn thị trường tiền tệ liên ngân hàng
đú cỳ những bước phát triển và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Song thị
trường vẫn cón một số tồn tại và hạn chế nhất định. Điều này được thể hiện ở
một số nội dung sau đây:
Thứ nhất, quy mô hoạt động của thị trường còn nhỏ, hoạt động phân tán và
mang tính một chiều. Doanh số của thị trường tăng lên khá đáng kể, tuy nhiên
khi so sánh với các thị trường các nước khác trong khu vực thì con số này vẫn
còn khá khiêm tốn. Mặt khác, có một số ngân hàng chỉ chuyên đi bỏn cũn một
số ngân hàng chuyên đi mua .Do vậy khi các ngân hàng cung tiền đồng khó
khăn về vốn khả dụng thì hoạt động của thị trường gặp khó khăn. Bên cạnh đó,
sự hạn chế trong các giao dịch tiền đồng của các ngân hàng trong nước ra nước
ngoài, thị trường thứ cấp chưa phát triển toàn diện đã chưa tạo ra sự sôi động
của thị trường liên ngân hàng. Các giao dịch giữa các ngân hàng trên thị trường
thiếu bình đẳng, cũn cú sự phân biệt giữa cỏc nhúm ngân hàng khác nhau. Ví dụ
như, nhóm ngân hàng nhà nước sẽ thực hiện giao dịch với nhau một cách thuận
tiện và dễ dàng hơn. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần sẽ gặp
khó khăn và thủ tục phức tạp hơn. Bên cạnh đó, thị trường cũn cú sự phân biệt
giữa các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài.
Thứ hai, hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, còn rời rạc không
liên tục, thiếu tính chuyên nghiệp. Điều này là do, các tổ chức tín dụng than gia
vào thị trường mới chỉ thực hiện được một trong hai mục đích cơ bản của thị
trường. Đó là chỉ mới đảm bảo vốn khả dụng trong hoạt động kinh doanh của
mình mà chưa quan tâm đến hoạt động kinh doanh trên thị trường. Nói cách

những ngày không có nhu cầu giao dịch mà vẫn được yêu cầu phải cung cấp các
mức chào lãi suất thì có thể các ngân hàng không tính toỏn cỏc mức lãi suất đưa
ra. Vì vậy lãi suất bình quân xác định trên cơ sở lãi suất chào của các ngân hàng
không phản ánh chính xác cung cầu vốn trên thi trường.
Trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam, công tác thu thập thông tin, phân
tích số liệu và xử lý thông tin trên thị trường của các tổ chức tín dụng và của
Ngân hàng Nhà nước còn nhiều bất cập. Hiện nay, việc thu thập thông tin, số
liệu mới chỉ dừng lại ở con số thống kê mà chưa phải là lãi suất cập nhật phục
vụ cho công tác điều hành. Các số liệu báo cáo mà các tổ chức tín dụng đưa lên
cho Ngân Hàng Nhà Nước mới chỉ tập trung vào các số liệu cho vay/ đi vay mà
chưa đề cập đến số liệu về tiền gửi/ nhận tiền gửi tại các tổ chức tín dụng. Mặt
khác, các số liệu báo cáo thường chậm trễ nên không thể phỏn ỏnh một cách đầy
đủ, kịp thời diễn biến trên thị trường.
Tóm lại, cho đến nay, Thị trường LNH Việt Nam đang phát triển ở mức thấp,
còn nhiều bất cập, hạn chế.
2.2.2. Nguyên nhân
Trên thực tế, Thị trường LNH Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế
và thiếu sót. Có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và
nguyờn nhõn khách quan dẫn đến những tồn tại của Thị trường LNH Việt Nam.
Tuy nhiên, có thể kể ra một số nguyên nhân chính như sau:
- Nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến những tồn tại của Thị trường LNH là
nền kinh tế của nước ta vẫn còn đang ở trong quá trình chuyển đổi từ một
nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Vì vậy,
nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường tài chính – tiền tệ Việt Nam
nói riêng vẫn còn đang ở trình độ phát triển thấp. Các hoạt động giao dịch
của các tổ chức tín dụng trên Thị trường LNH mới chỉ nhằm mục đích
thanh khoản là chủ yếu, coi nhẹ yếu tố kinh doanh. Do vậy, Thị trường
LNH chưa phát triển được toàn diện.
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn cơ cấu lại;
thu nhập chính của các tổ chức tín dụng Việt Nam chủ yếu vẫn từ nghiệp

Hình thức thanh toán điện tử LNH hiện nay còn đang trong giai đoạn thử
nghiệm từ ngày 2/5/2002 và mới có một số ớt cỏc ngân hàng được tham
gia. Vì thế, chưa thể hỗ trợ đắc lực cho Thị trường LNH phát triển trong
thời gian trước mắt.

Chương 3: Những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của thị trường liên ngân hàng ở Việt
Nam.
3.1 Định hướng phát triển thị trường liên ngân hàng Việt Nam. Trong
thời gian tới
Trong Đại Hội Đảng lần thứ IX, các văn kiện đã nêu rõ quan điểm của Đảng
về việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Trong đó, các quan điểm về xây dựng hệ thống ngân hàng Việt Nam
vững mạnh được khẳng định mạnh mẽ. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2000-2010 đã nêu rõ định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới
là : “thực thi chính sách tiền tệ bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm
phát, thúc đẩy sản xuất và tiêu dung, kích thích đầu tư và phát triển. Sử dụng
linh hoạt và có hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ như tỷ giá, lãi suất,
nghiệp vụ thị trường mở theo các nguyên tắc của thị trường, nâng dần và tiến tới
thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam” ( chiến lược phát
triển kinh tế xã hội năm 2001-2010, NXB Chính trị quốc gia, 2001, trang 197).
Trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển chính sách tiền tệ của Việt Nam
và thực tiễn thực hiện chính sách tiền tệ vừa qua, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã chủ trương “ từng bước đổi mới một cách căn bản, đồng bộ việc xây
dựng và điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với thông lệ quốc tế” ( Chiến lược
tiền tệ- ngân hàng giai đoạn 2001-2010).
Mục tiêu về chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng đến năm 2010 có rất nhiều.
Tuy nhiên, trong đó, việc hoàn thiện hệ thống thị trường tiền tệ thứ cấp bao gồm
thị trường LNH là một trong những mục tiêu trước mắt và lâu dài. Như vậy,
phương hướng phát triển Thị trường Liên ngân hàng là thị trường cơ sở và là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status