1
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN ĐẠI CƯƠNG
CHƯƠNG 1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ 3
I. Lịch sử phát triển của khoa học Địa lý đến cuối thế kỷ XIX: 3
1. Thời kỳ Cổ đại: 3
2. Thời kỳ Trung cổ: 4
3. Thời kì Phục Hưng: 5
4. Thời kì tiền tư bản chủ nghĩa (thế kỉ XVII – XVIII) 6
5. Thời kì tư bản chủ nghĩa (thế kỉ XIX) 6
II. Lịch sử phát triển củ
a khoa học địa lý trong nửa đầu thế kỷ XX: 8
1. Trường phái địa lý Pháp: 8
2. Trường phái địa lý Đức: 9
3. Trường phái địa lý Nga: 9
4. Trường phái địa lý Mỹ: 10
5. Địa lý các nước khác: 10
III. Lịch sử phát triển của khoa học địa lý trong nửa cuối thế kỉ XX: 11
1. Sự hiện đại hóa khoa học địa lý: 11
2. Các phân hệ của hệ thống không gian địa lý hoàn chỉnh: 13
IV. Những vấn đề của Địa lý họ
c hiện đại: 15
1. Định nghĩa: 15
2. Đối tượng nghiên cứu: 15
a. Lớp vỏ địa lý: 15
b. Các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên: 15
c. Các xứ địa lý: 15
d. Vòng đai địa lý: 15
e. Đới địa lý: 16
f. Miền địa lý: 16
g. Khu địa lý: 16
IV. Quy luật địa đới: 32
1. Khái niệm địa đới 32
2. Nguyên nhân gây tính địa đới 32
3. Phạm vi biểu hiện của tính địa đới 33
4. Biểu hiện của tính địa đới ở Việt Nam. 35
V. Quy luật phi địa đới 36
1. Nguyên nhân 36
2. Phạm vi biểu hiện của quá trình phân dị phi địa đới 36
3. Ý nghĩa: 38
4. Biểu hiện của qui luật phi địa đới ở Việt Nam. 38
a. Qui lu
ật phân hoá theo kinh độ ở Việt Nam 38
b. Qui luật phân hóa theo các điều kiện kiến tạo - địa mạo ở Việt Nam. 39
c. Qui luật phân hóa theo đai cao ở Việt Nam 40
3
CHƯƠNG 1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ
I. Lịch sử phát triển của khoa học Địa lý đến cuối thế kỷ XIX:
Cho đến cuối thế kỷ XIX, khoa học địa lý đã trở thành 1 khoa học thực sự với
những học thuyết, những khái niệm, những phương pháp riêng. Từ địa lý thống
nhất cổ điển đã tách ra thành nhiều khoa học bộ phận, gộp thành hai ngành chính
là Địa lý tự nhiên và Địa lý kinh tế - xã hội với xu thế phân tích là chính. Có thể
phân chia lịch sử phát triển lâu dài này thành một số thời kỳ như
thời kỳ Cổ đại,
Trung cổ, Phục Hưng, tiền Tư bản chủ nghĩa, Tư bản chủ nghĩa. Do lịch sử phát
triển diễn ra không đồng đều giữa phương Đông và phương Tây và giữa các nước
với nhau, mà các tư liệu địa lý chủ yếu được trích dẫn từ một số nước châu Âu,
một mặt vì tư liệu thành văn của họ được l
ưu trữ tốt, mặt khác khoa học địa lý
phương hướng và vị trí địa lý, đồng thời mô tả chuyển động của Trái Đất, ông
cũng xác định chiều dài kinh tuyến là 39.500 km và đã đặt tên cũng như định
nghĩa cho khoa học địa lý.
4
Đầu CN, Strabon (58 TCN – 25 SCN) chuyển sang nghiên cứu Địa lý nhân
văn, chú ý đến các dân tộc và chiều lịch sử.
Vào thế kỉ II SCN, khoa học địa lý có bước thụt lùi với các công trình của
Ptolemee (90 – 168 SCN) khi ông đưa ra thuyết địa tâm. Nhưng về khía cạnh bản
đồ và trắc địa thì đóng góp của ông là to lớn.
Đáng chú ý là trong thời kì Cổ đại, những hướng nghiên cứu địa lý chính đã
hình thành và tồn tại cho đến ngày nay, đó là hướng nghiên cứu toàn Trái Đất và
h
ướng nghiên cứu các khu vực khác nhau, hướng phân tích định lượng, đo đạc
chính xác, mô tả tổng hợp định tính, hướng địa lý thống nhất tự nhiên – con người
và hướng phân biệt địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội, nhân văn.
Đồng thời với tài liệu viết thì các bản đồ cũng được xây dựng bằng nhiều chất
liệu như đất nung, giấy, lụa. Bản đồ cổ nhất còn được lưu tr
ữ là một bản đồ bằng
đất nung rất nhỏ, có tuổi khoảng 2500 năm TCN, tìm thấy khi khai quật thành phố
cổ Ga Sua, cách Babilon 200 dặm về phía Bắc. Trình độ xây dựng bản đồ đạt đỉnh
cao tại cổ Hy Lạp, họ đã biết Trái Đất hình cầu với hai cực, hai chí tuyến và đường
xích đạo, phát triển hệ thống kinh – vĩ độ, biết dùng phép chiếu và biết tính toán
kích thước Trái Đất. Hai nhà bản
đồ kiêm địa lý sớm nhất là Anaximandre và
Hecatee (thế kỉ VI TCN). Nhà địa lý kiêm bản đồ học nổi tiếng của Hy Lạp là
Prolemee với công trình quan trọng nhất là cuốn “Địa lý học” gồm 8 tập. Tập 1
trình bày các nguyên tắc, trong đó có cách xây dựng quả địa cầu và cách chiếu khi
vẽ bản đồ. Từ tập II đến VII chứa đựng một danh mục khoảng 8000 địa danh kèm
theo tọa độ kinh vĩ để xác định vị trí. T
ập VIII là quan trọng nhất, trình bày về địa
theo các quan điểm và phương pháp Cổ đại như cuốn “Địa lý học” của Ptolemee.
Ngoài ra họ còn đo đạc chính xác hơn với phép chiếu chữ nhật tốt hơn.
Như vậy, trong thời kỳ này, nhờ sự phát triển của hàng hải, thủ công nghiệp và
buôn bán mà thông tin địa lý đã được tích lũy nhiề
u hơn, bản đồ cũng hoàn thiện
hơn, nhất là các hải đồ.
3. Thời kì Phục Hưng:
Đó là thời kì khôi phục, chấn hưng và phát triển các nền khoa học, văn học và
nghệ thuật cổ Hy Lạp diễn ra ở châu Âu trong 2 thế kỉ XV – XVI, được châm ngòi
từ sự tiếp xúc với thế giới A rập cùng với việc mang về các sách và tài liệu cổ đại
được người A rập cất gi
ữ và sử dụng.
Thời kì này được đánh dấu bởi các “đại phát kiến” đi bằng đường biển trên các
thuyền buồm lớn gọi là Caravella, có tới 4 cột buồm với hệ thống buồm kiểu Ý.
Đại phát kiến thứ nhất là việc tìm ra châu Mỹ của Christophe Colomb qua 4 đợt
vượt Đại Tây Dương (từ 1492 đến 1504).
Đại phát kiến thứ hai là chuyến đi vòng quanh châu Phi qua mũi Hảo Vọng để
tớ
i Ấn Độ, do Vasco de Gama thực hiện vào năm 1498. Đại phát kiến thứ ba là
chuyến đi vòng quanh thế giới trong 3 năm 1519 – 1522 của Magellan. Ngoài ra
còn nhiều chuyến du hành khác cũng đã tìm thêm những vùng đất mới.
Những đợt phát kiến này không những đã chứng minh được những thành tựu
của địa lý Cổ đại như Trái Đất hình cầu, tính địa đới của khí hậu do góc tới khác
nhau của tia nắng Mặt Trời đến các nơ
i trên Trái Đất, quan hệ giữa khí hậu và sinh
vật,… mà còn mở rộng thêm tầm hiểu biết không gian rất nhiều, khiến cho có thể
dùng phương pháp so sánh để sơ bộ hình thành các quy luật địa lý, sẽ được chứng
minh vào các thế kỷ sau, đồng thời cũng sửa chữa được những nhận định sai lầm
cũ. VD, đã phát hiện được các đới gió (tín phong, gió Tây), thu thập nhiều mẫu
cây cối, chim thú, hiểu thêm về dân tộc đị
Newton đã suy ngẫm và khám phá ra quy luật hấp dẫn trong vũ trụ. Quan điểm
của Emmanuel Kant coi “địa lý là sự mô tả theo không gian” đã là hòn đá tảng để
khoa học Địa lý trở thành một khoa học độc lập và
độc đáo mà các thế hệ về sau
sẽ đi sâu và cụ thể hóa. Nhà hàng hải kiêm Địa lý người Anh James Cook mở đầu
cho thời kì du hành khoa học, có mục đích và phương pháp rõ ràng chứ không
ngẫu hứng và nghiệp dư như các nhà du hành thời Cổ đại và Phục Hưng.
Trong thời kì này có lẽ Hà Lan là nước có nhiều thành tựu nghiên cứu địa lý
nhất với công trình “Địa lý đại cương” do Veranius công bố vào năm 1650. Trong
công trình này, Veranius lần đầu tiên giải thích bằng lí luận bản chất của địa lý,
qua việc xác định đối tượng của địa lý là “lớp vỏ Trái Đất” bao gồm lục địa, đại
dương và khí quyển, nghiên cứu trong khung cảnh toàn bộ Trái Đất và theo từng
vùng riêng biệt. Quan điểm này đã vượt quá tầm của thời đại và có ảnh hưởng rất
lớn đến những nhà địa lý của các nước. Tuy nhiên các bản đồ do Hà Lan sản xuất
vẫ
n còn chứa đựng nhiều điểm sai lầm do chủ yếu vì mục đích thương mại, cần in
nhanh, hấp dẫn, sao chép các bản đồ cũ. Trái lại, bản đồ của Pháp mang tính khoa
học để phục vụ cho quản lí đất đai, cho tác chiến nên cần chính xác và chi tiết.
5. Thời kì tư bản chủ nghĩa (thế kỉ XIX)
Đặc điểm cơ bản của sự phát triển khoa học đị
a lý trong thế kỉ XIX là sự hình
thành một khoa học địa lý có tính chuyên nghiệp, có đào tạo và tổ chức nghiên
cứu rõ ràng và mang tính quốc tế, nhất là vào 30 năm cuối (1870 – 1900). Đặc
điểm thứ hai là sự phân ngành ngày càng mạnh khiến cho địa lý không phải là một
7
bộ môn thống nhất và trở thành một hệ thống nhiều bộ môn, làm cho địa lý thống
nhất cổ điển ngày càng mất đối tượng nghiên cứu và có nguy cơ tan rã.
Bộ môn địa lý được giảng dạy ngày càng nhiều tại các trường Đại học, vừa đào
tạo cán bộ nghiên cứu, vừa đào tạo giáo viên cho các trường phổ thông. Sự phát
triển giáo dục và đào tạo địa lý khởi đầu t
Phương pháp đường bình độ đã thay thế cho những nét gạch khi thể hiện độ cao
địa hình. Các bản đồ không chỉ mô tả mà thường có nội dung khoa học, thể hiện
các mối quan hệ giữa các hiện tượng, có kết quả phân loại và phân vùng. Đức
cũng là nước xuất bản nhiều bản đồ và Atlat nhất và các nhà địa lý tiêu biểu cũng
là người Đức, trước h
ết là Humboldt và K.Ritter, tiếp sau là Pháp và Nga. Ở Nga,
do đất nước rộng lớn nên xu hướng địa lý tổng hợp sớm phát triển. Tựu chung lại
thì trong thế kỉ này có 3 khuynh hướng chính là nghiên cứu vùng, nghiên cứu quan
hệ con người – môi trường địa lý và khuynh hướng nghiên cứu cảnh quan. Ba
khuynh hướng này bổ sung cho nhau, mỗi khuynh hướng đi sâu vào một khía cạnh
của thực tại phân hóa không gian của tự nhiên và xã hội. Chúng phát huy tác dụng
mãi cho đến nửa đầu thế kỉ XX.
8
II. Lịch sử phát triển của khoa học địa lý trong nửa đầu thế kỷ XX:
Vào nửa đầu thế kỷ XX, khoa học Địa lý không được nổi bật trong xã hội như
ở thế kỷ XIX. Sau một thời kì phát triển nhanh, sôi nổi, đến đây địa lý hầu như
chững lại. Các nhà địa lý vẫn chỉ áp dụng những quan điểm, các thành tựu của 30
năm cuối thế kỷ XIX thể hiện trong 3 khuynh hướng chính, đồng thời lúng túng
trước sự thiếu thống nhất trong c
ơ sở lí luận cho khoa học Địa lý. Điểm nổi bật
của sự phát triển địa lý vào thời gian này là không được thúc đẩy bởi nhu cầu của
xã hội, mà chủ yếu là do những mâu thuẫn nội tại, do logic phát triển của bản thân
ngành khoa học này.
Khoa học Địa lý vẫn thiên về phía khoa học tự nhiên tuy có chú ý đến quan hệ
giữa tự nhiên và xã hội cũng như con người. Trong khi đó vào đầu thế kỷ XX, các
khoa học xã hội lại phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu thực tiễn ngày càng đa
dạng và thay đổi nhanh. Trong sự lúng túng chung ấy thì giải pháp tình thế là xây
dựng các trường phái quốc gia, căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và nhu cầu riêng
trong sự phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi nước mà tìm hướng đi cho thích hợp.
sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ, cải tạo môi
trường tự nhiên.
2. Trường phái địa lý Đức:
Hình thành chậm hơn và kém đồng nhất hơn địa lý Pháp vì trong thế kỷ XIX,
địa lý Đức rất phát triển, có nhiều khuynh hướng và bộ môn khoa học khác nhau,
lại không có một ai uy tín vượt trội hẳn để thâu tóm tất cả trong một trường phái
với những lí luận và phương pháp chung. Tuy nhiên, trong số các bộ
môn thì cảnh
quan học là độc đáo hơn cả, có ảnh hưởng sâu rộng cả trong nước và ngoài nước,
cho nên có thể coi khuynh hướng cảnh quan là đặc trưng cho trường phái địa lý
Đức.
Trường phái cảnh quan Đức chủ yếu là nghiên cứu các cảnh quan văn hóa, các
cảnh quan trong sự tác động của con người, bởi lẽ, tại các vùng đồng bằng châu
Âu hầu như không còn cảnh quan thuần túy tự nhiên. Mặc dù vậy, đây vẫn là
tr
ường phái thiên về địa lý tự nhiên hơn trường phái vùng của Pháp. Ngoài ra, các
vùng của địa lý Pháp cũng chỉ tương đối, không có ranh giới thật rõ ràng, có thể
chồng gối lên nhau. Trái lại, cảnh quan địa lý Đức được vạch dứt khoát, xuất phát
từ 1 định đề là “cảnh quan biểu hiện tính thống nhất về mặt lãnh thổ của đối tượng
nghiên cứu”. Phương pháp tiếp cận cảnh quan của Đức rất chú ý đế
n lớp phủ thực
vật, cố tìm ra các dấu hiệu của thực bì tự nhiên, từ đó nhận xét về chiều hướng tác
động của con người lên thực bì tự nhiên. Trường phái cảnh quan Đức chú ý đến
cung cách mà một nhóm người nhập vào cảnh quan, để dấu ấn trên cảnh quan,
thông qua các biểu hiện vật chất cụ thể và rất chi tiết, cho nên không thể nghiên
cứu các vùng rộng lớn mà chỉ tập trung nghiên cứu các vùng r
ất nhỏ, rất đồng
nhất, có ranh giới rõ ràng.
Bên cạnh trường phái cảnh quan, địa lý Đức không có những trường phái
tương xứng khác nhưng lại có rất nhiều khuynh hướng tham gia vào sự tìm kiếm
địa lý khu vực (địa lý kinh tế quốc gia). Cuối cùng, ông đi vào phân công lao
động theo lãnh thổ và tổ chức xã hội theo lãnh thổ, coi như đó là cốt lõi của sự tạo
vùng và kiến thiết vùng. Có thể nói địa lý kinh tế Liên Xô phát triển gắn liền với
việc triển khai các kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế quốc dân, do đó đã có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn to lớn.
4. Trường phái địa lý Mỹ:
Được hình thành rất muộ
n nhưng lại phát triển rất nhanh, chỉ mới bắt đầu từ
những năm đầu của thế kỉ XX mà đến những năm 30 – 40 đã nổi tiếng qua nhiều
công trình cơ bản và thực tiễn. Tuy về cơ bản địa lý Mỹ vẫn là địa lý vùng và cảnh
quan trên quan điểm địa lý thống nhất tự nhiên – con người, có chú ý đến vấn đề
bảo vệ môi trường sinh thái, nhưng không thành 1 tr
ường phái thống nhất như ở
Pháp, hoặc quá đa dạng như Đức, mà phân thành 2 nhánh khác biệt khá rõ rệt là
nhánh Trung Tây và nhánh Berkeley.
− Nhánh Trung Tây: chú ý đến nguyên tắc phân vùng và mô tả vùng, đến vấn đề
sử dụng đất đai, đến địa lý kinh tế và địa lý chính trị. Khác với Tây Âu thường
dựa vào lối sống để giải thích sự đa dạng vùng, các nhà địa lý – địa chất Trung
Tây đi theo con đường nghiên cứu ảnh hưởng của tự
nhiên.
− Nhánh Berkeley: tương phản rõ rệt với nhánh Trung Tây. Họ không quan tâm
đến các vấn đề hiện đại, mà say mê đi sâu vào các nền văn hóa cổ, thí dụ nền
văn hóa của người da đỏ, trên cơ sở nhân chủng học và dân tộc học.
5. Địa lý các nước khác:
Ngoài các nước trên thì không có nước nào có trường phái địa lý rõ rệt. Đáng
kể còn có nước Anh. Địa lý Anh chọn địa lý Pháp làm mẫu, nhưng các nhà địa lý
Anh không phải là bắt chước nguyên si địa lý Pháp. Tuy h
ọ không có gì độc đáo
hơn nhưng nét Anh của họ là ở chỗ họ đặc biệt quan tâm đến chất lượng điều tra,
thường rất chi tiết, tỉ mỉ, đến tính nghiêm túc chặt chẽ của phương pháp luận và
khi nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ thống nhất để phát triển bền vững, thì yếu tố
quản lí và t
ổ chức lãnh thổ 1 cách chủ động và khoa học của con người đã được đề
cao. Sự biến đổi ấy đã khiến cho địa lý hiện đại thâm nhập vào mọi người, được
mọi người cần đến, từ những nhà chiến lược toàn cầu, khu vực, quốc gia, địa
phương cho tới 1 nhà doanh nghiệp hoặc 1 người muốn đi du lịch hay nghỉ ngơi,
giải trí.
1. Sự hi
ện đại hóa khoa học địa lý:
Có thể hình dung các quan điểm và phương pháp tiếp cận cơ bản chung nhất
của địa lý học hiện đại vào nửa cuối thế kỷ XX như sau:
Do hoàn cảnh giao lưu thuận lợi, đồng thời cũng xuất hiện xu thế toàn cầu hóa,
với 1 thế giới đã trở thành một hệ thống thống nhất trong sự đa dạng và chứa đự
ng
nhiều mâu thuẫn, ngành địa lý thế giới có xu hướng xem xét lại toàn ngành để tập
trung trí tuệ và sức lực nhằm nâng cao vai trò và vị thế của ngành trong việc giải
quyết những vấn đề bức xúc của xã hội loài người hiện nay.
Hiện nay, xu hướng chung là tập trung các khoa học bộ phận lại dưới ngọn cờ
của 1 khoa học tổng hợp – động lực, nghiên cứu các hệ thống không gian tự nhiên
– kinh t
ế - xã hội – nhân văn thống nhất hay hoàn chỉnh, trong lịch sử phát sinh –
phát triển, trong sự biến động, để đánh giá đúng hiện trạng và dự báo tương lai.
Khoa học địa lý là khoa học nằm ở giao diện giữa các khoa học tự nhiên và khoa
12
học xã hội, do nhiệm vụ là nghiên cứu quan hệ giữa tự nhiên và con người, giữa
xã hội và lãnh thổ, vì thế được đặt ở phía nào cũng chỉ là quy ước, nhưng hiện nay
xu thế xếp vào khoa học xã hội thắng thế, vì đặt như vậy sẽ làm cho khoa học địa
lý đóng góp tích cực hơn vào các quyết định và các hành động của các cơ quan
lãnh đạo Nhà Nước, địa phương, của các nhà quản lí xí nghiệp, doanh nghi
ệp,
trợ giúp của tin học và máy tính điện tử mạnh, của mạng lưới viễn thông toàn cầu
và của các kết quả viễn thám bằng máy bay và vệ tinh. Phương pháp tiếp cận hệ
thống thực chất là 1 phương pháp logic, 1 phương pháp luận, để nắm được các hệ
thống, nhằm mục đích điều khiển h
ệ thống sao cho hệ thống vận hành tốt, đạt
được mục đích mong muốn. Nó được trợ giúp bởi nhiều phương pháp khác. Vì hệ
thống vô cùng phức tạp, nhiều hợp phần, nhiều bộ phận, nhiều quan hệ, nhiều
dòng vào và dòng ra, cho nên muốn tiếp cận hệ thống thì phải dùng phương pháp
mô hình hóa. Mô hình là sản phẩm của trí tuệ, đã khái quát hóa và đơn giản hóa
thực tế, để có thể phát hiện ra bả
n chất của hiện tượng, sự vật hay vấn đề đang xét.
Mô hình phải hợp lí, nếu quá đơn giản hoặc quá phức tạp đều sẽ không đạt kết
quả. Hệ thông tin địa lý được coi như 1 công cụ đắc lực cho việc phân tích hệ
13
thống không gian, vì có sự trợ giúp của máy tính điện tử và các phần mềm tin học,
cho phép vẽ bản đồ một cách tự động, nhanh chóng và đẹp, nhất là cho phép phân
tích cấu trúc ngang với các đặc tính không gian và quan hệ không gian, cũng như
tính toán được các mối quan hệ cấu trúc thẳng đứng. Tuy nhiên xây dựng 1 hệ
thông tin địa lý rất tốn kém và công phu, do đó chỉ nên xây dựng cho những dự án
tổ chức và quản lí lãnh thổ phức tạp mà làm theo phương pháp thông thườ
ng là
không thể được hoặc khó và lâu.
2. Các phân hệ của hệ thống không gian địa lý hoàn chỉnh:
a. Phân hệ tự nhiên:
Điểm xuất phát là phân hệ tự nhiên vì đó là giá đỡ, là cơ sở vật chất và năng
lượng của mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Không đi sâu vào phương pháp truyền
thống là nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, ở đây chỉ nhấn mạnh thêm vào sự
nghiên cứu các dòng vật ch
ất và năng lượng, là bản chất của các mối quan hệ
tương tác trong môi trường tự nhiên, trên quan điểm địa – sinh thái và địa – hóa.
14
không được làm cản trở quá trình phát triển của tự nhiên, chỉ nên khai thác tổng
hợp các dạng tài nguyên trong quần xã cao đỉnh và sao cho tất cả các sản phẩm lấy
ra không quá khả năng tái sinh của quần xã. Đối với các hệ địa – sinh thái nông
nghiệp nhân sinh thì phải cân nhắc cẩn thận mỗi khi nhập nội một giống mới hay
sử dụng một loại phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu nào đó, sao cho không hủy
diệt các loài sinh vậ
t cộng sinh có ích, không làm hư hại môi trường hóa – lí,
không làm xáo trộn quan hệ giữa các loài và tập tính thích nghi với môi trường của
các loài. Đối với các hoạt động công nghiệp và dịch vụ thì quan trọng nhất là
không làm nhiễu loạn các chu trình sinh – địa – hóa, đồng thời đừng biến quá trình
vòng thành quá trình không vòng mà phải cố gắng biến các quá trình không vòng
thành quá trình vòng nhằm đảm bảo quá trình tái sử dụng.
b. Phân hệ xã hội:
Khi khai thác tự nhiên để sản xuất và sinh hoạt, con người hoạt động trong mộ
t
cộng đồng, một xã hội có tổ chức, cho nên phân hệ xã hội cần phải xét tiếp ngay
sau phân hệ tự nhiên. Khi nghiên cứu các vấn đề xã hội trên quan điểm địa lý
thống nhất, thì điều chúng ta quan tâm không phải là nội dung chuyên môn của
các khoa học xã hội mà chỉ là sự phân bố không gian của các hoạt động xã hội và
ảnh hưởng của chúng trong việc hình thành nên tính đặc thù của địa phương,
thông qua các mối quan hệ tương tác gi
ữa chúng với nhau và nhất là giữa chúng
và môi trường tự nhiên. Hoạt động của xã hội cũng rất phong phú và đa dạng, nếu
hiểu rộng thì bao gồm cả kinh tế, nhưng ở đây phân hệ xã hội chỉ gồm có các hoạt
động chính trị, xã hội, văn hóa và sự định cư cùng với các đặc điểm của cư dân.
Các vấn đề xã hội cần quan tâm là các quyền và các hình thức sở hữu và s
ử
dụng đất đai, nội dung cơ bản của việc quản lí hệ thống lãnh thổ, rồi đến sự chênh
lệch giàu nghèo và sự đấu tranh cho công bằng xã hội. Lĩnh vực xã hội phong phú
phần của chúng (Đại từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết).
2. Đối tượng nghiên cứu:
Có 3 đối tượng nghiên cứu chính của Địa lý tự nhiên: lớp vỏ Địa lý, thể tổng
hợp lãnh thổ và cảnh quan. Ngoài ra là môi trường
Địa lý.
a. Lớp vỏ địa lý:
Có nhiều khái niệm và tên gọi khác nhau như lớp vỏ cảnh quan, địa quyển
ngoài,… Giới hạn của lớp vỏ địa lý khoảng 40 km.
Là lớp vỏ ngoài của Trái Đất bao gồm các lớp vỏ bộ phận như khí quyển, thạch
quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển xâm nhập và tác động lẫn
nhau. Hệ thống vật chất trong lớp vỏ
địa lý khác với lớp vỏ thành phần thuần túy
vì nó có tính phức tạp trong thành phần cấu tạo và trong cấu trúc. Trong 5 thành
phần này thì thạch quyển là thành phần cổ nhất và bảo thủ nhất, đồng thời tạo nên
bề mặt địa hình Trái Đất. Thành phần trẻ nhất và năng động nhất là sinh quyển.
Năm thành phần này vừa kết hợp với nhau theo cả cấu trúc đứng và cấu trúc
ngang, trong đó quan trọng là cấ
u trúc ngang, thể hiện mối quan hệ giữa các vùng
lãnh thổ.
b. Các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên:
Là sự kết hợp có quy luật của các thành phần địa lý như địa hình, khí hậu,
nước, đất, sinh vật nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất phức tạp và tạo
thành 1 hệ thống không thể chia cắt được.
c. Các xứ địa lý:
Là yếu tố phi địa đới, là đơn vị
tự nhiên tương đối đồng nhất với nhau về đơn
vị địa chất và đại địa hình, có kích thước lớn từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu
km
2
. Mỗi xứ địa lý được phân biệt với nhau dựa vào đại địa hình. Sau nữa do quan
Là sự phân hóa lãnh thổ của miền nên có tính đồng nhất cao h
ơn nữa, diện tích
cũng nhỏ hơn, khoảng hàng nghìn đến hàng chục nghìn km
2
. Trong khu đồng bằng
thì tiến hành xác định ngay cấp cảnh quan, còn tại 1 khu núi thì phải qua khâu
phân chia ra các đai cao.
h. Đai cao địa lý:
Chỉ tồn tại ở miền núi, được phân chia dựa vào cân bằng bức xạ hay tổng nhiệt
độ và tương quan nhiệt - ẩm, đồng thời với việc phân tích các điều kiện nham
thạch – địa hình cụ thể của khu núi.
i. Cảnh quan địa lý:
Là đơn vị có vị trí và ý nghĩa rất đặ
c biệt trong hệ thống phân vị địa lý tự
nhiên. Đặc trưng quan trọng nhất của cảnh quan là sự đồng nhất tuyệt đối về cả hai
phương diện địa đới và phi địa đới, nghĩa là trong cảnh không còn sự phân hóa do
sự phân bố không đồng đều của tia bức xạ Mặt Trời.
Định nghĩa của cảnh quan địa lý: cảnh quan địa lý là một tổng hợp thể lãnh
th
ổ, được phân hóa ra trong một đới vĩ độ ở đồng bằng hoặc một đai cao trên núi,
có một cấu trúc hợp phần đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí
hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật và một cấu trúc
không gian bao gồm một tập hợp có quy luật của nh
ững dạng và diện địa lý.
j. Dạng địa lý:
17
Dạng địa lý là một tập hợp có quy luật của các diện địa lý phát triển trên một
dạng trung địa hình lồi, lõm hoặc bằng phẳng theo phát sinh, với những điều kiện
di chuyển nước và vật chất đặc trưng, có tiểu khí hậu, tiểu tổ hợp thổ nhưỡng và
tiểu tổ hợp thực vật đồng nhất.
b) Giữa các hợp phần, các bộ phận với nhau đều có mối quan hệ qua lại
mật thiết. Đồng thời tất cả mọi hợp phần và bộ ph
ận của lớp vỏ địa lý đều chịu sự
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của nội lực và ngoại lực. Chính thông qua các
mối quan hệ tương tác này mà hệ thống không phải là con số cộng của các hợp
phần và các bộ phận. Sự phối hợp hoạt động của tất cả các hợp phần biến chúng
thành một hệ thống vật liệu thống nhấ
t, trong đó hợp phần này phụ thuộc vào hợp
phần khác, hợp phần này ảnh hưởng tới hợp phần khác. Tính hoàn chỉnh của hệ
thống này to lớn và mang đặc tính chung đến mức mà nếu trong tổng thể địa lí hay
trong LLE chỉ một khâu nào đó thay đổi thì tất cả các khâu còn lại cũng thay đổi
theo. LLE về toàn thể là một hệ thống vừa hoàn chỉnh vừa không cân bằng.
c) Giữa hệ thống và môi trườ
ng bên ngoài cũng có sự thống nhất với nhau.
Môi trường ở đây không chỉ tất cả những gì bên ngoài hệ thống, có thể tác động
đến hệ thống và đồng thời chịu tác động ngược lại của hệ thống. Bởi vì giữa hệ
thống và môi trường bên ngoài cũng có sự thống nhất nên khi tìm hiểu, nghiên cứu
một hệ thống phải khép kín nó lại trong một ranh giới nhất định. N
ếu như không
xác định đúng phạm vi của hệ thống sẽ không tìm ra được “cửa vào” và “cửa ra”
các dòng quan hệ của hệ thống, từ đó ta không thể hiểu được sự hoạt động của hệ
thống, không điều khiển được hệ thống. Sự hoạt động của hệ thống bao giờ cũng
phụ thuộc vào ngoại cảnh. Vì vậy phải đặt hệ
thống vào môi trường của nó. Một
19
khi hoàn cảnh bên ngoài của hệ thống cũng được xác định cụ thể phạm vi, thì ta có
một hệ thống lớn.
3. Ý nghĩa:
a. Ý nghĩa khoa học.
− Củng cố quan điểm vững chắc về sự tồn tại của LLE
khảo ý kiến của các nhà địa lí thì những đề án như vậy đã phải bỏ đi, bởi vì
việc thực hiện các đề án đó sẽ làm cho miền đất thấp này trở thành
ẩm ướt quá
mức và sẽ gây cản trở rất nhiều đến việc sử dụng toàn diện tài nguyên tự nhiên
của miền này.
Nói một cách giản đơn, việc cải tạo tự nhiên hợp lí không thể không tính đến
qui luật về tính hoàn chỉnh của vỏ cảnh quan. Sự can thiệp của những người
không hiểu biết vào lĩnh vực các mối liên hệ nhân quả tinh tế tự nhiên chẳng khác
gì sự
can thiệp của những con ong vào mạng nhện (Armand, 1966)
20
III. Quy luật tuần hoàn vật chất và năng lượng:
1. Khái niệm:
Trong LLE vòng tuần hoàn không đóng kín, giai đoạn cuối cùng của vòng tuần
hoàn không giống hệt như giai đoạn đầu của nó mà phát triển ở một trình độ cao
hơn. Sự tuần hoàn của vật chất trong bất kì hệ thống nào của LLE đôi khi cũng
mang tính chất một sự phân công lao động độc đáo giữa các hệ thống cấu thành.
Vật chất gia nhập vào vòng tuần hoàn thường được t
ổ chức lại trong các khâu
trung gian và thay đổi trạng thái vật lí và hóa học ở đó. Đồng thời sự tác động qua
lại giữa các vật chất cũng chính là sự trao đổi giữa các hợp phần và bộ phận cấu
tạo.
2. Cơ sở của sự tuần hoàn:
Cơ sở sâu xa của mọi quá trình tuần hoàn trong tự nhiên là sự di chuyển và sự
phân bố lại của các yếu tố hóa học. Khả
năng di chuyển của các yếu tố đó phụ
thuộc vào sự di động của chúng.
a. Cơ sở tuần hoàn trong thủy quyển.
(i) Trong quá trình tuần hoàn trên qui mô toàn LLE, nước tự do có thể gia nhập
trong khí quyển và sự rơi của nước mưa trên bề mặt đại dương tạo thành vòng tuần
hoàn nhỏ. Nhưng khi nước được các dòng không khí chuyển lên đất nổi, sự tuần
hoàn của nước trở thành phức tạp hơn. Một phần nước mưa rơi trên bề mặ
t đất nổi,
bị bốc hơi và quay trở lại khí quyển, phần khác theo các con đường ở trên bề mặt
đất và ở dưới bề mặt đất chảy vào những chỗ thấp trũng của địa hình, cung cấp
nước cho các con sông và các bồn nước tụ. Quá trình bốc hơi của nước và rơi
xuống thành mưa trên đất nổi có thể lặp lại nhiều lần nhưng cuối cùng hơi nướ
c từ
ngoài đại dương được chuyển vào đất nổi bởi các dòng không khí, quay trở lại đại
dương bằng các sông ngòi và các dòng ngầm đã hoàn thành vòng tuần hoàn lớn
của mình (S.V.Kalesnik, 1978).
(vii) Trong sự tuần hoàn chung của hơi nước, nước của khí quyển tỏ ra rất di
động. Lượng hơi nước trung bình trong khí quyển vào khoảng gần 13.000 km
3
nước nhưng lượng mưa hàng năm trên LLE khoảng 519.000 km
3
. Do vậy lượng
nước trong khí quyển phải quay vòng 40 lần trong năm nghĩa là cứ 9 ngày đêm
phải thay một lần. Kết quả tính toán cho thấy cần phải chi dùng hơn 20% năng
lượng Mặt Trời tới Trái Đất để bốc hơi 519.000 km
3
nhưng lượng nhiệt chi dùng
vào sự bốc hơi 600 g/cal được giải phóng lại khi hơi nước ngưng đọng. Như vậy
tuần hoàn của nước kéo theo sự tuần hoàn của năng lượng nhiệt.
(viii) Sự tuần hoàn của nước không chỉ bó hẹp trong LLE. Các phần tử hơi
nước đi lên các lớp cao của khí quyển bị quang giải dưới tác dụng của tia tử ngoại
của Mặt Trờ
i phân tách chúng thành các nguyên tử ôxy và hyđrô. Do nhiệt độ cao
theo chiều thẳng đứng không vì vậy mà loại trừ, nhưng tốc độ của chúng nhỏ hơn
nhiều lần so với tốc độ các vận động theo chiều ngang.
Theo Isachenko, tầng đối lưu có gần 500 triệ
u tấn phần tử lơ lửng (do gió, núi
lửa, chất thải) luôn trao đổi liên tục. Chúng tồn tại trong không khí từ vài giờ đến
vài ngày đêm (tùy thuộc vào kích thước), sau đó trầm lắng xuống bề mặt đất.
Tuy nhiên, sự có mặt của những chất tạp đã làm thay đổi tới mức đáng kể
những tính chất và chức năng của không khí trong khí quyển. Hơi nước hấp thụ
phầ
n lớn bức xạ sóng dài của Trái Đất và tạo nên hiệu ứng nhà kính trong khi
đóng vai trò kiểu như cái áo khoát đối với bề mặt Trái Đất. Những phần tử bụi
cũng hấp thụ bức xạ sóng dài, nhưng làm yếu bức xạ Mặt Trời, chúng là những hạt
nhân ngưng tụ của hơi nước và do đó ảnh hưởng lớn đến sự hình thành mưa và
đến vòng tuần hoàn toàn cầu của n
ước. Mặt khác, nhờ tính cơ động đặc biệt, sự
chuyển động và sự di chuyển thường xuyên (sự hoàn lưu), các khối khí dường như
làm trung gian cho sự tác động qua lại giữa đất nổi và đại dương, nghĩa là việc
truyền nhiệt, hơi nước, cũng như muối giữa đất nổi và đại dương và thường phân
phối lại chúng trong phạm vi lớp LLE.
Ngoài ra, tác động của gió vào bề m
ặt của đại dương thế giới còn lớn hơn nữa,
nó là nguyên nhân hình thành một hệ thống phức tạp của các dòng biển. Ôxy tự do
của khí quyển tham gia vào các phản ứng ôxy hóa của đất, các bồn nước, bề mặt
thạch quyển, sử dụng bởi sinh vật để hô hấp. Khí CO
2
của khí quyển là vật liệu
xây dựng cơ bản, từ đó cây xanh tổng hợp chất hữu cơ.
c. Cơ sở tuần hoàn của sinh vật.
Sự tuần hoàn của sinh vật đóng một vai trò to lớn trong LLE. Sơ đồ chung của
sự tuần hoàn sinh vật có thể diễn đạt như sau (Kalesnik): Dưới tác dụng của ánh
những hợp chất dễ bị hòa tan.
Đối với thủy quyển, các loài sinh vật cũng đóng một vai trò quan trọng trong
vòng tuần hoàn của nước bởi vì chúng hút nước tích cực từ đất và làm thoát hơi
nước vào khí quyển. Hơn nữa, chúng làm cho các loại nước thổ nhưỡng, nước
sông, n
ước hồ, đại dương, trở thành giàu ôxy và nghèo axit cabonic trong quá trình
quang hợp và sử dụng ôxy để nhả ra CO
2
và các khí khác khi phân giải những tàn
dư hữu cơ. Sinh vật dưới nước hấp thụ mạnh mẽ canxi, kali, phospho, nitơ trong
nước và sau đó làm trầm lắng các chất ấy vào trầm tích.
Khối lượng vật chất nguồn gốc sinh vật gia nhập vào LLE nhiều hơn khối
lượng của vật chất này bị cuốn ra khỏi LLE bởi vì phần lớn của khối lượng sinh
vật, được tạo nên từ
CO
2
, cũng như nitơ của không khí. Do đó, hàm lượng của
cacbon và nitơ tăng lên trong tầng đá trầm tích và đặc biệt là trong đất. Đất là kết
quả hoạt động cụ thể nhất của sinh vật trong lớp LLE (thể hiện qua hàm lượng
mùn). Điều đáng chú ý là khi lôi cuốn các nguyên tố của thạch quyển vào trong
tuần hoàn và khi làm cho chúng tích tụ lại trong đất, sinh vật đóng vai trò làm cản
trở sự di chuyển củ
a chúng vào đại dương.
Trong quá trình phong hóa các loại đá, chất sống là tác nhân quan trọng nhất.
Các sản phẩm phong hóa như vật liệu sét bao gồm chủ yếu là các ôxyt: SiO
2
,
Al
2
O
nước dưới hình thức trầm tích vụn bở. Về sau, các trầm tích này bị ép chặt lại bởi
các quá trình tạo đá. Sự tích tụ các lớp trầm tích có thể có hậu quả làm lún đáy của
chúng xuống khu vực có nhiệt độ và áp suất cao. Kết quả gần nhất của sự kiện đó
là làm biến chất đá và trong điều kiện nhiệt độ cao có thề làm chảy rửa đá tức là
làm quay trở lại trạng thái magma (hình 6.15).
Hình 6.15. Chu trình tuần hoàn của đá
3. Đặc điểm cơ bản của vòng tuần hoàn vật chất.
Trên cơ sở tổng hợp các số liệu tính toán, dựa vào cơ sở của sự tuần hoàn của
các nguyên tố hóa học diễn ra trong thạch quyển, Isachenko đúc kết và rút ra
những đặc điểm cơ bản sau đây của vòng tuần hoàn vật chất trong LLE.
a) Sự di chuyển và biến đổi c
ủa vật chất trong LLE diễn ra dưới hình thức các
vòng tuần hoàn, nghĩa là có tính chất chu trình.
b) Các vòng tuần hoàn có tính chất bề ngoài của vòng khép kín mà theo đó
cùng một lượng vật chất được chu chuyển.
c) Những thay đổi về chất của vật chất và các hợp phần trong LLE diễn ra
trong quá trình tuần hoàn.
25
d) Thời gian lưu lại của vật chất trong vòng quay có thể rất đa dạng (độ dài của
chu trình)
e) Trong cấu trúc của LLE, các vòng tuần hoàn của nước và các nguyên tố tích
cực nguồn gốc sinh vật (ôxy, cacbon, nitơ, phốt pho, lưu huỳnh ) có ý nghĩa rất
lớn.
f) Trong thời đại ngày nay con người đã trở thành một nhân tố có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tiến trình tự nhiên của vòng tuần hoàn vật chất.
Chúng ta đều biết, sự tác động của nền sản xuất đến nhiều sự cân bằng của
nước, ôxy, khí CO
2
và nhiều nguyên tố cũng như các hợp chất khác.
Theo Kalesnik, việc người ta phân chia hai dạng nhịp điệu sau đây là hợp lí:
(i) Các nhịp điệu theo thời kì: là các nhịp điệ
u có khoảng thời gian kéo dài
đồng nhất. Thí dụ, thời gian Trái Đất quay xung quanh trục của nó, thời gian Trái
Đất quay xung quanh Mặt Trời.