Đồ án tốt nghiệp chưng cất dầu thô áp suất thường - Pdf 23

1
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường

Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn TS. Lê Văn Hiếu người
đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em về mặt kiến thức khoa
học, với sự giúp đỡ ân cần và tận tính chỉ bảo của thầy đã
giúp em hiểu được những vấn đề cần thiết và hoàn thành
bản đồ án này đúng thời gian quy định.
Tuy nhiên với khối lượng công việc lớn hoàn thành
trong thời gian có hạn nên em không thể tránh khỏi
những sai sót và vướng mắc nhất định. Vậy em kính mong
các thầy giáo, cô giáo chỉ bảo cho em.
Một lần nữa cho em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Công nghệ Hữu
cơ - Hoá dầu đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian
vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Anh Tuấn
1
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
1
2
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
Mục Lục
Trang
Mở đầu 5
Phần I

III. Thiết bị chính trong dây chuyền 45
1. Tháp chưng cất 45
2. Các loại tháp chưng luyện 47
IV. Thiết bị đun nóng 51
1. Thiết bị đun nóng bằng lò ống 51
V. Thiết bị trao đổi nhiệt 52
2
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
2
3
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
1. Loại vỏ bọc 52
2. Loại ống 53
Phần III
Tính toán công nghệ 57
I. Tính cân bằng vật chất 57
I.1. Tại tháp tách sơ bộ 58
I. 2. Tại tháp tách phân đoạn 58
I.3. Tổng kết cân bằng vật chất 59
II. Thiết lập đường cân bằng (VE) cho các sản phẩm 60
II.1. Đường cân bằng (VE) sản phẩm xăng 60
II.2. Đường cân bằng (VE) sản phẩm kerosen 62
II.3. Đường cân bằng (VE) cho sản phẩm gazoil 63
III. Xác định các đại lượng trung bình của sản phẩm 64
III.1. Tỷ trọng trung bình 64
III.2. Xác định nhiệt độ sôi trung bình 65
III.3. Tính phân tử lượng trung bình của các sản phẩm 65
IV. Tính tiêu hao hơi nước 66
IV.1. Tính tiêu hao hơi cho tháp phân đoạn 66

AN toàn 96
I. An toàn lao động trong phân xưởng chưng cất khí quyển 96
II. Tự động hoá. 100
III. Một số dụng cụ tự động hoá 102
Kết luận
106
Tài liệu tham khảo
107
4
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
4
5
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
Mở đầu
Dầu mỏ được con người biết đến từ thời cổ xưa, đến thế kỷ 18,
dầu mỏ được sử dụng làm nhiên liệu để đốt cháy, thắp sáng. Sang thế
kỷ19, dầu được coi như là nguồn nhiên liệu chính cho mọi phương
tiện giao thông và cho nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay, dầu mỏ đã trở thành nguồn năng lượng quan trọng nhất
của mọi quốc gia trên thế giới. Khoảng 65 ÷ 70% năng lượng sử dụng
đi từ dầu mỏ, chỉ có 20 ÷ 22% năng lượng đi từ than, 5 ÷ 6% từ năng
lượng nước và 8 ÷ 12% từ năng lượng hạt nhân.
Bên cạnh đó hướng sử dụng mạnh mẽ và có hiệu quả nhất của dầu
mỏ là làm nguyên liệu cho công nghiệp tổng hợp hoá dầu như: sản
xuất cao su, chất dẻo, tơ sợi tổng hợp, các chất hoạt động bề mặt, phân
bón, thậm chí cả protêin.
Ngoài các sản phẩm nhiên liệu và sản phẩm hoá học của dầu mỏ,
các sản phẩm phi nhiên liệu như dầu mỡ bôi trơn, nhựa đường, hắc
ín cũng là một phần quan trọng trong sự phát triển của công nghiệp.

của dầu mỏ lên 5 lần, và như vậy tiết kiệm được nguồn tài nguyên quý
hiếm này.
Dầu mỏ là hỗn hợp rất phức tạp gồm hydrocacbon, khí thiên
nhiên, khí dầu mỏ và các hợp chất khác như CO
2
, N
2
, H
2
S, N
2
, He,
Ar Dầu mỏ muốn sử dụng được thì phải tiến hành phân chia thành
từng phân đoạn nhỏ. Sự phân chia đó dựa vào phương pháp chưng cất
ở các khoảng nhiệt độ sôi khác nhau. Quá trình chưng cất dầu là một
quá trình vật lý phân chia dầu thô thành các thành phần gọi là các
phân đoạn. Quá trình này được thực hiện bằng các biện pháp khác
nhau nhằm để tách các cấu tử có trong dầu thô theo từng khoảng nhiệt
độ sôi khác nhau mà không làm phân huỷ chúng. Tuỳ theo biện pháp
tiến hành chưng cất mà người ta phân chia quá trình chưng cất thành
chưng đơn giản, chưng phức tạp, chưng cất nhờ cấu tử bay hơi hay
chưng cất trong chân không. Trong các nhà máy lọc dầu, phân xưởng
chưng cất dầu thô cho phép ta thu được các phân đoạn dầu mỏ để chế
biến tiếp theo.
Trong đồ án này sẽ tiến hành đề cập tới các vấn đề lý thuyết có
liên quan. Trên cơ sở đó thiết kế và lựa chọn dây chuyền chưng cất
dầu thô nhiều phần nhẹ. Đồng thời xem xét để thiết kế dây mặt bằng
phân xưởng và vấn đề an toàn lao động.
6
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44

o
C bằng 1.Trong thực tế, tồn tại các hệ thống đo tỷ trọng sau :
d
4
20
, d
4
15
,
15,6
15,6
d
, ( hay theo đơn vị Anh Mỹ là Spgr 60/60
0
F ); độ API
(API=141,5/s.g 60
0
F/60
0
F)- 131,5), trong đó chỉ số bên trên là nhiệt độ
của dầu trong lúc thử nghiệm còn chỉ số bên dưới là nhiệt độ của nước
khi thử nghiệm. Tỷ trọng của dầu dao động trong khoảng rộng, tuỳ
7
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
7
8
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
thuộc vào loại dầu và có trị số từ 0,8 đến 0,99. Tỷ trọng của dầu rất
quan trọng khi đánh giá chất lượng dầu thô. Sở dĩ như vậy vì tỷ trọng

9
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
đặc trưng như mọi đơn chất khác. Ở nhiệt độ nào cũng có những hợp
chất có nhiệt độ sôi tương ứng thoát ra, và sự khác nhau của từng loại
dầu thô chính là sự khác nhau về lượng chất thoát ra ở các nhiệt độ
tương ứng khi chưng cất. Vì thế, để đặc trưng cho từng loại dầu thô,
thường đánh giá bằng đường cong chưng cất, nghĩa là các đường cong
biểu diễn sự phân bố lượng các sản phẩm chưng cất theo nhiệt độ sôi.
Những điều kiện chưng cất khác nhau sẽ cho các đường cong chưng
cất khác nhau.
Đường cong chưng cất là đường cong biểu diễn tương quan giữa
thành phần cất và nhiệt độ sôi.
Để đặc trưng cho từng loại dầu thô thường xác định bằng 2
đường cong chưng cất sau :
* Đường cong chưng cất Engler :
Hay còn gọi là đường cong chưng cất đơn giản, hay là đường
cong chưng cất Engler. Các đặc tính bốc hơi của dầu mỏ được xác
định bằng cách chưng đơn giản trong thiết bị chưng kiêủ Engler
(chưng cất dầu trong một bình cầu đơn giản, không có tinh luyện và
hồi lưu) ở đó sự phân chia rất yếu thường tương ứng từ 1
÷
2 đĩa lý
thuyết.
Đường cong thu được qua quan hệ % thể tích chưng cất được và
nhiệt độ chưng cất. Đường cong này cho biết sơ bộ và nhanh sự phân
bố các hợp chất có nhiệt độ sôi khác nhau trong dầu thô.
9
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
9

10
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
10
11
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
Hình 2. Đường cong điểm sôi thực của hỗn hợp 2 cấu tử A và B
1. Đường cong điểm sôi thực lý thuyết .
2. Đường cong điểm sôi thực thực tế.
Trên hình (2) trình bày đường cong diểm sôi thực của hỗn hợp
hai cấu tử với thành phần 30% cấu tử A và 70% cấu tử B. Cấu tử A sôi
ở nhiệt độ t
A
và cấu tử B sôi ở nhiệt độ t
B
dưới áp suất chung của hệ
khi chưng cất .
Đường biểu diễn bậc thang chính là đường cong điểm sôi thực lý
thuyết, có nghĩa là sự phân chia thành 2 cấu tử. ở đây đã thực hiện
một cách hoàn hảo. Còn đường cong đứt khúc chính là đường cong
điểm sôi thực trong thực tế. Vì sự phân chia thành hai cấu tử đã xảy ra
không thể nào hoàn toàn cả. Vì thông thường chỉ sử dụng dụng cụ
chưng cất với số đĩa lý thuyết từ 10-20 đĩa.
Đây là đường cong rất quan trọng được sử dụng để đặc trưng
cho từng loại dầu thô. Trên thực tế, không có loại dầu thô nào có
đường cong chưng cất điểm sôi thực giống nhau hoàn toàn cả.
Nói chung dầu thô có thể chia thành nhiều phân đoạn nhưng
thường phân chia 3 phân đoạn chính như sau: phân đoạn nhẹ, phân
đoạn trung bình và phân đoạn nặng.
Phân đoạn nhẹ: là phân đoạn bao gồm các hợp chất có khoảng

trúc bị lai hoá rất phức tạp, được sử dụng để chế tạo các loại nhiên
liệu nặng như dầu FO (Fuel Oil), chế tạo nhớt (dầu nhờn) cho máy
móc cơ khí và động cơ, chế tạo nhựa đường (bium) hoặc làm nguyên
liệu cho quá trình cracking hoặc hydrocracking.
2. Thành phần hoá học [2].
a) Hydrocacbon họ parafinic
Hydrocacbon họ parafinic trong dầu mỏ có từ C
l
÷ C
4
hoặc cao
hơn. Nhưng hydrocacbon họ parafinic từ C
l
÷ C
4
đều là ở thể khí nằm
trong dầu mỏ dưới dạng hoà tan trong dầu mỏ trước khi đưa vào các
thiết bị chế biến dầu đều phải qua giai đoạn loại bỏ các khí này trong
các thiết bị đặc biệt: Các thiết bị ổn định thành phần phân đoạn dầu
mỏ. Những hydrocacbon họ parafinic từ C
5
÷ C
16
đều là những
12
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
12
13
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường

chất lượng của các sản phẩm thu được. Những hydrocacbon họ
parafinic từ C
17
trở lên có cấu trúc thẳng n-parafin, trong dầu mỏ là
những hydro-cacbon rắn, chúng thường nằm dưới dạng các tinh thể lẫn
lộn với các hợp chất khác trong dầu mỏ. Các parafin này có cấu trúc
tinh thể dạng tấm hoặc dạng dài có nhiệt độ nóng chảy từ 40 ÷ 70
0
C
chúng thường có trong các phân đoạn dầu nhờn. Sự có mặt của các
hydrocacbon parafinic loại này trong dầu mỏ tuỳ theo mức độ nhiều ít
mà sẽ có ảnh hưởng lớn nhỏ đến tính chất lưu biến của dầu mỏ nguyên
khai.
Các hydrocacbon parafinic trong dầu mỏ (dạng khí và lỏng) còn
là một nguyên liệu ban đầu rất quí để tổng hợp hoá học, vì vậy thường
13
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
13
14
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
sử dụng hoặc cả phân đoạn (phân đoạn khí và xăng hay còn gọi là
naphta hoặc tách ra khỏi phân đoạn dưới dạng các hydrocacbon riêng
lẻ bằng cách chưng cất, hấp thụ qua rây phân tử, kết tinh ở nhiệt độ
thấp Những parafin rắn thường được tách ra sử dụng trong công
nghiệp sản xuất giấy, nến, giấy cách điện
b) Hydrocacbon họ naphtenic
Hydrocacbon họ naphtenic trong dầu mỏ là những hydrocacbon
vòng no (xyclo parafin), thường ở dạng vòng 5, 6 cạnh có thể ở dạng
ngưng tụ 2 ÷ 3 vòng, với số vòng từ 1 ÷ 4 là chủ yếu. Naphtenic là

ảnh hưởng của hydrocacbon loại này trong thành phần các sản phẩm
dầu mỏ thay đổi khác nhau. Loại hydrocacbon aromatic thường gặp là
loại một vòng và đồng đẳng của chúng (BTX ). Các chất này thường
nằm trong phần nhẹ và là cấu tử làm tăng khả năng chống kích nổ của
xăng. Các chất ngưng tụ 2, 3 hoặc 4 vòng thơm có mặt trong phần có
nhiệt độ sôi trung bình và cao của dầu mỏ; hàm lượng các chất loại
này thường ít hơn.
Trong thành phần cặn các loại dầu mỏ đều tập trung hydrocacbon
loại thơm ngưng tụ cao song ở đây cấu trúc đã bị lai hợp với các mức
độ khác nhau giữa ba loại thơm − naphten − parafin.
Ngoài thành phần các hydrocacbon kể trên trong dầu mỏ bao giờ
cũng chứa các hợp chất khác không phải hydrocacbon, ngoài hydro và
cacbon trong phân tử của chúng có chứa các nguyên tố O, N, S và các
kim loại. Đó là các hợp chất phi hydrocacbon trong đó đáng kể nhất là
các hợp chất chứa S và nhựa asphanten.
d) Các hợp chất chứa lưu huỳnh
Các hợp chất chứa lưu huỳnh của dầu mỏ có thể ở dạng khí hoà
tan trong dầu (H
2
S) hoặc ở dạng lỏng phân bố hầu hết trong các phân
đoạn dầu mỏ. Phân đoạn càng nặng các hợp chất chứa lưu huỳnh càng
nhiều so với các phân đoạn nhẹ. Các chất hữu cơ có chứa lưu huỳnh là
loại hợp chất phổ biến nhất, làm xấu đi chất lượng của dầu thô.
ảnh hưởng của các hợp chất chứa lưu huỳnh chủ yếu gây ăn mòn
thiết bị công nghệ khi chế biến, ăn mòn động cơ khi sử dụng, các sản
phẩm chứa nhiều S gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy dầu mỏ chứa
nhiều các hợp chất chứa lưu huỳnh phải sử dụng nhiều quá trình công
nghệ phụ thêm để làm sạch các sản phẩm cũng như sử dụng các thiết
bị công nghệ với các vật liệu chịu ăn mòn (tháp chưng sở khởi) do đó
giá thành hạ các sản phẩm khi chế biến dầu mỏ nhiều S, rất nhiều sản

các tính chất khác nhau và vì vậy cho đến nay cũng chưa có cách phân
loại nào được hoàn hảo.
* Phân loại dầu mỏ theo họ hydrocacbon
Phân loại dầu mỏ theo họ hydrocacbon là phương pháp phân loại
thông dụng nhất. Theo cách phân loại này dầu mỏ nói chung sẽ mang
đặc tính của loại hydrocacbon nào chiếm ưu thế trong đó nhất. Như
vậy trong dầu mỏ có 3 loại hydrocacbon chính: parafin, naphten và
hydrocacbon thơm, có nghĩa là sẽ có 3 loại dầu mỏ tương ứng là dầu
mỏ parafinic, dầu mỏ naphtenic, dầu mỏ aromatic, nếu một trong từng
loại trên lần lượt chiếm ưu thế về số lượng trong dầu mỏ.
Dầu mỏ parafinic sẽ mang tính chất hoá học và vật lý đặc trưng
của các hydrocacbon họ parafinic, tương tự dầu mỏ naphtenic sẽ mang
16
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
16
17
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
tính chất hoá học và vật lý đặc trưng của hydrocacbon họ naphtenic.
Dầu mỏ aromatic sẽ mang tính chất hoá học và vật lý đặc trưng của
hydrocacbon họ thơm.
Tuy nhiên trong phần nặng trên 350
0
C các hydrocacbon thường
không còn nằm ở dạng thuần chủng nữa mà bị hỗn hợp lẫn nhau, lai
hoá lẫn nhau. Do đó để phân loại thường phải xét sự phân bố từng họ
hydrocacbon chỉ trong các phân đoạn chưng cất. Trong thực tế những
họ dầu thuần chủng rất ít gặp đặc biệt là họ dầu aromatic hầu như trên
thế giới không có. Vì vậy những trường hợp mà hydrocacbon trong đó
chiếm tỷ lệ không chênh lệch nhau nhiều, dầu mỏ sẽ mang đặc tính

chiếm tỉ lệ cũng rất ít. Chủ yếu là các họ dầu trung gian.
Để có thể phân loại dầu mỏ theo họ hydrocacbon như trên có thể
sử dụng phương pháp phân tích xác định thành phần hoá học nhằm
khảo sát sự phân bố hydrocacbon các loại khác nhau trong dầu mỏ.
Tuy nhiên, cách làm như vậy rất phức tạp. Ngày nay để đơn giản
hoá việc phân loại, thường sử dụng các thông số vật lý như đo tỷ
trọng, nhiệt độ sôi v.v
* Phân loại đầu mỏ theo hydrocacbon bằng cách đo tỷ trọng một
số phân đoạn chọn lựa.
Phương pháp này thực hiện bằng cách đo tỷ trọng của 2 phân
đoạn dầu mỏ tách ra trong giới hạn sau:
− Phân đoạn 1: Bằng cách chưng cất dầu mỏ áp suất thường lấy ra
phân đoạn có giới hạn nhiệt độ sôi từ 250 ÷ 270
0
C.
− Phân đoạn 2: Bằng cách chưng cất phần còn lại trong chân
không (ở 40 mmHg) lấy ra phân đoạn sôi ở 275 ÷ 300
0
C ở áp suất
chân không (tương ứng 390 ÷ 415
0
C ở áp suất thường).
Căn cứ vào giá trị tỷ trọng đo của 2 phân đoạn và đối chiếu vào
giới hạn quy định cho từng loại dầu trong bảng dưới đây mà xếp dầu
thuộc họ nào.
Họ dầu mỏ Phân đoạn 1 Phân đoạn 2
Họ parafinic
Họ parafino − trung
gian
Họ trung gian −

dầu còn chứa các khí hoà tan như khí đồng hành và các khí phi
hydrocacbon. Khi dầu phun ra khỏi giếng khoan thì áp suất giảm,
nhưng dù sao vẫn còn lại một lượng nhất định lẫn vào trong dầu và
phải tách tiếp trước khi chế biến mục đích là hạ thấp áp suất hơi khi
chưng cất dầu thô và nhận thêm nguồn nguyên liệu cho chế biến dầu.
Vì trong các khí hydrocacbon nhẹ từ C
l
÷ C
4
là nguồn nguyên liệu quý
cho quá trình nhận olefin. Xử lý dầu thực chất là chưng tách bớt phần
nhẹ nhưng để tránh bay hơi cả phần xăng, tốt nhất là tiến hành chưng
cất ở áp suất cao khi đó chỉ có các cấu tử nhẹ hơn C
4
bay hơi, còn
phần từ C
5
trở lên vẫn còn lại trong dầu.
Muốn xử lý dầu thô trước khi đưa vào chưng cất chúng ta phải
trải qua những bước tách cơ bản
1. Tách tạp chất cơ học, nước, muối lẫn trong dầu
Nước lẫn trong dầu ở dưới mỏ chỉ ở dạng tự do không có dạng
nhũ tương. Khi khai thác, bơm, phun dầu, các quá trình khuấy trộn thì
nước cùng với dầu và các tạp chất tạo thành ở dạng nhũ tương.
Nước nằm dưới dạng nhũ tương thì rất bền vững và rất khó tách.
Có 2 dạng nhũ tương:
+ Dạng nhũ tương nước ở trong dầu
+ Dạng nhũ tương dầu ở trong nước
Lượng nước ở trong dầu nhiều hay ít trong nhũ tương dầu ở mỏ
khai thác bằng cách nhìn màu sắc, qua thực nghiệm người ta kiểm tra

kích thước hạt lớn hơn 0,5 µm.
( )
η

=
.18
gd dr
V
21
2
(1)
Trong đó:
V: tốc độ lắng, cm/s
r: đường kính của hạt, cm
d
1
, d
2
: tỷ trọng nước và dầu tương ứng, g/cm
3
g: gia tốc trọng trường, cm/s
2
η: độ nhớt động học của hỗn hợp.
Từ công thức (1) ta thấy kích thước hạt của pha phân tán càng
nhỏ và tỷ trọng của nước và dầu khác nhau càng ít. Độ nhớt của môi
trường càng lớn thì sự phân lớp và lắng càng xảy ra chậm.
Việc tách nước và tạp chất thực hiện ở nơi khai thác thường lắng
và gia nhiệt ở thiết bị đốt nóng.
20
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44

n: số lượng vòng quay của máy ly tâm (phút).
Lực ly tâm và tốc độ tách nước thay đổi tỷ lệ thuận với bán kính
quay và tỷ lệ với bình phương số vòng quay của rôto.Trong công
nghiệp thường dùng máy ly tâm có số vòng quay từ 3500 ÷ 5000 vòng
trong một phút. Số vòng quay càng lớn thì khả năng chế tạo thiết bị
càng khó khăn và không thể chế tạo thiết bị với công suất lớn.
Nhược điểm của phương pháp này là công suất máy bé, khả năng
phân chia không cao, vốn chi tiêu lớn vì vậy phương pháp này không
phổ biến trong công nghệ tách nước và tạp chất.
* Phương pháp lọc:
Là tách nước ra khỏi dầu sử dụng khi mà hỗn hợp nhũ tương dầu,
nước đã bị phá vỡ nhưng nước vẫn ở dạng lơ lửng trong dầu mà chưa
được lắng xuống đáy. Dùng phương pháp này là nhờ lợi dụng tính chất
thấm ướt chọn lọc của các chất lỏng khác nhau lên các chất lọc.
Phương pháp lọc đạt hiệu quả rất cao và có thể tách đồng thời cả nước
lẫn muối.
b) Tách nhũ tương nước trong dầu bằng phương pháp hoá học
Bản chất của phương pháp hoá học là cho thêm một chất hoạt
động bề mặt để phá nhũ tương.
21
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
21
22
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
Khi các điều kiện thao tác như nhiệt độ, áp suất được chọn ở chế
độ thích hợp thì hiệu quả của phương pháp cũng rất cao nhưng khó
khăn nhất là phải chọn được chất hoạt động bề mặt thích hợp không
gây hậu quả khó khăn cho chế biến sau này cũng như không phân huỷ
hay tạo môi trường ăn mòn thiết bị.

22
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
22
23
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
ý nghĩa của quá trình chưng cất: Trong công nghiệp chế biến dầu,
dầu thô sau khi đã qua xử lý như: tách nước, muối và tạp chất cơ học
được đưa vào chưng cất, các quá trình chưng cất dầu ở áp suất khí
quyển AD và chưng cất chân không VD thuộc về nhóm các quá trình
chế biến vật lý.
Chưng cất ở áp suất khí quyển AD với nguyên liệu là dầu thô đôi
khi còn gọi là CDU. Còn chưng cất VD dùng nguyên liệu là cặn của
quá trình chưng cất AD. Trong thực tế đôi khi còn gọi là cặn chưng
cất. Tùy theo bản chất của nguyên liệu và mục đích của quá trình
chúng ta áp dụng chưng cất AD, VD hay kết hợp cả hai AD và VD.
Các nhà máy hiện đại ngày nay luôn dùng loại hình công nghệ AVD.
Khi áp dụng loại hình công nghệ AD chúng ta chỉ chưng cất dầu thô
để nhận các phân đoạn: xăng (naphata nhẹ, naphta nặng), phân đoạn
kerosen, phân đoạn diezen và phần cặn còn lại sau khi chưng cất. Như
vậy tuỳ thuộc vào thành phần dầu mỏ nguyên liệu và mục đích chế
biến mà người ta áp dụng một trong các loại hình công nghệ chưng cất
(hình 3: a, b, c, d).
− Cơ sở lý thuyết của quá trình chưng cất
Quá trình chưng cất dầu thô là một quá trình phân đoạn. Quá trình
này được thực hiện bằng các biện pháp khác nhau nhằm tách các phần
dầu theo nhiệt độ sôi của các cấu tử trong dầu mà không xảy ra sự
phân huỷ. Hơi nhẹ bay lên và ngưng tụ thành phần lỏng tuỳ theo biện
pháp tiến hành chưng cất mà người ta phân chia quá trình chưng cất
thành chưng đơn giản, chưng phức tạp, chưng nhờ cấu tử bay hơi hay

V
V
1
3
IX
5

Hình 3.a)
24
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
24
25
Đồ án tốt nghiệp Chưng cất dầu thô áp suất
thường
1
3
VIII
XI
1 2
XII
IX
7

Hình 3.b)
25
Nguyễn Anh Tuấn Lớp Hóa Dầu QN-K44
25

Trích đoạn Chưng cất cú tinh luyện Chưng cất chõn khụng và chưng cất hơi nước Chế độ nhiệt của thỏp chưng luyện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status