1
Hc phn 2: TM Lí HC GIO DC I HC
Mc tiờu:
Hc xong hc phn ny hc viờn s t c:
1. V kin thc:
- Hiu c bn cht v cỏc quy lut hỡnh thnh v phỏt trin tõm lý con
ngi núi chung v tõm lý ca sinh viờn núi riờng
- Hiu c c s tõm lý hc ca hot ng dy hc v giỏo dc sinh
viờn i hc
- Nm c c im lao ng ca gi
ng viờn i hc
2. V thỏi
Cú thỏi ỳng trong ng x s phm v giao tip vi sinh viờn v ng
nghip, xõy dng mụi trng vn húa trong cỏc trng i hc
3. V k nng
Rốn luyn cho bn thõn cú k nng giao tip v giao tip thnh cụng i vi
cỏc i tng trong trng i hc
Ni dung
Chơng 1 Bản chất v các quy luật hình thnh tâm lý
ngời
1.1. Sơ lợc về tâm lí học
1.1.1. Khái niệm tâm lí học:
Tâm lí học là một khoa học nghiên cứu hoạt động tâm lí, sự hình
thành, vận hành và phát triển các hoạt động ấy. Chuyên đề này chỉ nói đến
tâm lí ngời, mà chủ yếu là nói về tâm lí học s phạm đại học (tâm lí sinh
viên) - đối tợng của các giảng viên đại học; Đồng thời chuyên đề cũng đề
cập tới vài nét về đặc điểm lao động s phạm của giảng viên đại học.
Tâm lí ngời gồm nhiều loại hiện tợng nhng có thể qui thành các
nhóm sau đây (xem sơ đồ.1):
Các trạng thái tâm lí đợc thể hiện trong các quá trình tâm lý trực tiếp
tác động đến sự diễn biến của chúng, làm cho chúng hoạt động nhanh hay
chậm, tốt hay xấu, mạnh hay yếu và từ đó cũng gián tiếp ảnh hởng đến các
thuộc tính tâm lí.
Các thuộc tính tâm lí vừa thể hiện, vừa tác động trong tất cả các loại
hoạt động tâm lí, tức là vừa thể hiện lại vừa tác động trong các quá trình, các
trạng thái và ngay trong các thuộc tính tâm lí với nhau. Vì vậy đã gây ảnh h-
ởng đến sự diễn biến và kết quả của các hoạt động tâm lí.
3
Sơ đồ.1 Các nhóm hiện tợng của tâm lí ngời.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của khoa học tâm lí:
- Hiện tợng tâm lí rất gần gũi, quen thuộc với con ngời, nhng rất linh
hoạt, khó ghi nhận, vô cùng phức tạp và biến động muôn màu muôn vẻ.
- Tâm lí học là khoa học trung gian nằm giữa khoa học xã hội và khoa học tự
n
g
Chỳ
ý
T
ỡnh
c
m
Nhõn cỏc
h
T
in t
n
g
Bõng khuõn
g
4
Tất cả các quá trình tâm lí từ đơn giản đến phức tạp đều xuất hiện trên
cơ sở hoạt động của não. Các quá trình sinh lí diễn ra trong não ngời là cơ
sở vật chất của hoạt động tâm lí nhng không đồng nhất với tâm lí. Tâm lí
bao giờ cũng có nội dung nhất định.
Tất cả các hình ảnh tâm lí, kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân đều tồn
tại trong bộ não. Nhng không phải cứ có bộ não là có tâm lí. Muốn có tâm
lí phải có tồn tại khách quan, tồn tại ấy phải tác động vào bộ não, và bộ não
phải phải tiếp nhận đợc những tác động ấy. Não tiếp nhận tác động từ bên
ngoài tức là não hoạt động. Đơn vị của hoạt động não bộ là phản xạ. Có hai
hoạt động của con ngời trong xã hội.
Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, loi ngời đã thu thập đợc
vô vàn kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội, con ngời và phơng tiện nhận thức.
Chính chúng (tức các kinh nghiệm, tri thức ấy) đã và đang tạo nên nền văn
hoá của nhân loại, đợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi cá thể
ngời lĩnh hội nền văn minh của nhân loại tạo thành vốn liếng riêng của cá
nhân biến thành tâm lí cá nhân. Vì vậy ngời ta nói rằng: trong tâm lí ngời
có "cái chung" và "cái riêng" thống nhất với nhau.
Vì tâm lí ngời mang bản chất xã hội- lịch sử, nên trong giáo dục và
nghiên cứu con ngời phải lu ý đến các đặc điểm của thời đại, dân tộc, địa
phơng và gia đình của từng học sinh, sinh viên; từ đó định hớng, hình
thành và phát triển tâm lí học sinh, sinh viên.
1.3. Sơ lợc về tâm lí học s phạm.
Tâm lí học s phạm là một trong những ngành tâm lí học ứng dụng.
Nó đợc ra đời và phát triển sớm nhất trong những ngành của khoa học tâm
lí. Tâm lí học s phạm có mối liên hệ chặt chẽ với tâm lí học lứa tuổi.
1.3.1. Đối tợng của tâm lí học s phạm: là những qui luật tâm lí của việc
dạy học và giáo dục đối với trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo đến học sinh
phổ thông và sinh viên đại học.
Nói cách khác: những hiện tợng tâm lí trẻ em và thanh niên diễn ra trong
quá trình dạy học và giáo dục cần phải đợc nghiên cứu riêng và trở thành
đối tợng của ngành tâm lí học s phạm
Cụ thể, tâm lí học s phạm nghiên cứu tìm ra:
- Cơ chế tâm lí của quá trình ngời học lĩnh hội nền văn hoá vật chất, tinh
thần của xã hội, biến nó thành vốn riêng của mình;
6
- Mối quan hệ giữa tri thức tiếp thu đợc với sự phát triển các chức năng tâm
lí cao cấp của học sinh, sinh viên;
- Cơ chế lĩnh hội của từng lứa tuổi khác nhau, từ đó tổ chức các hoạt động
7
thuận lợi hơn sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn. Sức mạnh của giáo dục chính
là khả năng tăng tốc sự phát triển theo định hớng xã hội đúng đắn, là khả
năng phát hiện tiềm năng tâm lí làm cho mỗi cá nhân có điều kiện bộc lộ tự
do và phát triển tối u năng lực và nhân cách của mình.
Ngày nay, trong xu thế đổi mới dạy học, ngời ta đã tìm kiếm sự vận
dụng mạnh mẽ hơn các kiến thức tâm lí vào dạy học. Các quan điểm của V-
gotxki về "vùng phát triển gần nhất" đã đợc áp dụng vào dạy học theo tiếp
cận hớng vào ngời học, dạy học phát triển; hoặc trên tác phẩm của Jean
Piaget ( theo Piaget: mọi ngời học theo các cấu trúc dựa trên những sự phân
loại kinh nghiệm học tập), David Kolb đã đề xuất chu trình học tập ngời lớn
và đã đợc áp dụng rất tốt cho quá trình dạy học đối với ngời lớn tuổi
Có thể thấy rõ rằng: tâm lí học s phạm bao trùm hai khoa học là tâm
lí học và giáo dục học.
1.3.3. Mục đích của tâm lí học s phạm là:
- ứng dụng các tri thức khoa học về t duy của con ngời và nhân cách của
họ vào quá trình s phạm, nh : động cơ, định hớng, kiểm tra, đánh giá ;
- Tìm hiểu về ngời học và quá trình hớng dẫn đào tạo học sinh,sinh viên;
Nhờ quá trình đó mà ngời học đợc định hớng phát triển và trởng thành;
- Cung cấp cho giáo viên những hiểu biết tâm lí đúng đắn, khoa học về trẻ
em và thanh thiếu niên; cái nhìn sâu sắc về bản chất của sự học; nhận thức
đúng đắn về ý nghĩa sự khác biệt cá thể; tri thức về sự trởng thành và phát
triển của trẻ em; hiểu biết những vấn đề về hành vi của trẻ em và thanh thiếu
niên và khả năng ứng xử với chúng; những nguyên lí cơ bản để giải quyết
những vấn đề nảy sinh trong quá trình s phạm; có thể biết đánh giá các biện
pháp đợc sử dụng nhằm đạt mục tiêu đào tạo.
Có thể nói gọn là: Tâm lí học s phạm đại học là một hệ thống những tri
thức, những quan điểm, những nguyên tắc phản ánh những qui luật về
giảng dạy và giáo dục ở đại học.
ngời và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về
phía con ngời (chủ thể), bao gồm 02 quá trình: quá trình khách thể hoá chủ
thể (chuyển những đặc điểm của chủ thể vào sản phẩm của hoạt động) và
9
quá trình chủ thể hoá khách thể (chủ thể tiếp thu, phản ánh đặc điểm của vật
thể vào năng lực của con ngời).
Nh vậy, trong hoạt động, con ngời vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới,
vừa tạo ra tâm lý của chính mình; nói một cách khác: tâm lý, ý thức, nhân
cách đợc bộc lộ và hình thành trong hoạt động.
Theo sinh học, ngời ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lợng thần kinh và
cơ bắp của con ngời khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thoả mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngời
1.5.2. Đặc điểm của hoạt động:
Phân tích hoạt động của con ngời các nhà tâm lý học thấy có 02 đặc
điểm cơ bản:
- Tính đối tợng: Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tợng.
Đối tợng của hoạt động là cái con ngời cần làm ra, cần chiếm lĩnh
để thảo mãn nhu cầu nào đó. Đối tợng của hoạt động có thể là sự vật,
hiện tợng, khái niệm, quan hệ , có thể là một con ngời, một nhóm
ngời
- Tính chủ thể: hoạt động bao giờ cũng có chủ thể. Hoạt động do chủ
thể thực hiện; Chủ thể hoạt động có thể là một hay nhiều ngời
Ngoài ra, ngời ta thấy rằng hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích:
mục đích của hoạt động là là làm biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi
bản thân chủ thể. Tính mục đích gắn liền với tính đối tợng. Tính mục đích
bị chế ớc bởi nội dung xã hội.
Tóm lại, nền tâm lý học lấy khái niệm hoạt động làm trung tâm, luôn
luôn nghiên cứu các hoạt động tâm lý trong những hoạt động cụ thể. Do đó,
khi phân tích hoạt động, ta không chỉ chú ý tới hoạt động diễn ra trong bối
cảnh nào, sử dụng công cụ- phơng tiện gì, tác động vào cái gì, giao tiếp với
động. Trong quá trình tiến hành hoạt động, mỗi một mục đích đợc thực hiện
nhờ hành động. Chủ thể đạt đợc mục đích nhờ các phơng tiện xác định.
Mỗi phơng tiện qui định cách thực hiện hành động đó là thao tác. Nói cách
khác, hành động hợp bởi các thao tác. (Xem hỡnh 1)
11
Dòng các hoạt động
Hình 1. Sơ đồ cấu trúc vĩ mô của hoạt động
1.5.5. Khái niệm về giao tiếp.
Giao tiếp là một hiện tợng tâm lí phức tạp, vì vậy cho đến nay vẫn cha có
sự thống nhất hoàn toàn về khái niệm này. Chúng tôi trích dới đây một số
định nghĩa:
thông tin, nhận thức, tình cảm của từng thành viên trong nhóm.
* Theo tiếp cận ngôn ngữ học cấu trúc, giao tiếp có các chức năng:
- Chức năng nhận thức.
- Chức năng duy trì sự tiếp xúc.
- Chức năng cảm xúc.
- Chức năng siêu ngôn ngữ.
- Chức năng thơ mộng.
- Chức năng qui chiếu.
1.5.7. Các loại giao tiếp.
Có nhiều cách phân loại giao tiếp.
* Căn cứ vào khoảng cách, có thể có hai loại giao tiếp cơ bản:
- Giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt) giữa hai hay nhiều ngời, các chủ thể
trực tiếp phát và nhận tín hiệu với nhau.
- Giao tiếp gián tiếp là loại giao tiếp đợc tiến hành không có mặt của
cả chủ thể và đối tợng giao tiếp, VD: qua th từ, báo; cũng có khi qua
ngoại cảm, thần giao cách cảm
* Căn cứ vào phơng tiện giao tiếp, có thể có ba loại giao tiếp: giao tiếp vật
chất; giao tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ ( giao tiếp cơ thể).
* Căn cứ vào qui cách tiến hành giao tiếp, có thể có hai loại giao tiếp: giao
tiếp chính thức và giao tiếp không chính thức.
13
* Căn cứ vào mục đích giao tiếp, có các loại giao tiếp sau: giao tiếp kiểu định
hớng xã hội; giao tiếp kiểu định hớng cá nhân; giao tiếp kiểu định hớng
nhóm.
Các loại giao tiếp trên luôn tác động qua lại, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Chính
vì vậy, mối quan hệ giao tiếp của con ngời là vô cùng đa dạng và phong
phú.
1.5.8. Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp.
Sự nghiên cứu và thực tiễn đã chứng minh rằng: giao tiếp nh là một
dạng đặc biệt của hoạt động: giao tiếp cũng diễn ra bằng các hành động và
nhiều mâu thuẫn về phơng diện tâm lí ("tuổi dậy thì" hay "thời kỳ chuyển
tiếp trớc")
- Tuổi thanh niên mới lớn (từ 14-15 đến 18 tuổi) là "thế giới thứ ba" tồn tại
giữa trẻ em và ngời lớn. Đây là thời kỳ trởng thành về cơ thể, sự chín muồi
sinh vật đã hoàn thành ở đa số thanh niên, là giai đoạn hoàn thiện quá trình
xã hội hoá đầu tiên. ( cũng thuộc "thời kỳ chuyển tiếp trớc")
- Thời kỳ thứ ba của lứa tuổi chuyển tiếp (từ 18 đến 23-25 tuổi) là tuổi thanh
niên muộn hay thời kỳ bắt đầu của tuổi ngời lớn, còn gọi là "thời kỳ chuyển
tiếp sau". Lứa tuổi này là "ngời lớn" cả về phơng diện sinh vật và quan hệ
xã hội. Nh vậy, sinh viên đại học là những thanh niên thuộc thời kỳ chuyển
tiếp sau. (TLHSPĐH. Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị. NXB GD, 1992,
tr.37-44).
2.1.2. Đặc điểm tâm lí sinh viên:
Khi nói đến đặc điểm tâm lí thanh niên sinh viên ngời ta thờng đề
cập tới một số đặc điểm cơ bản về sinh lí, tâm lí và mặt xã hội của nhóm tuổi
này.
a. Về mặt sinh lí: ở lứa tuổi từ 18 đến 23-25 tuổi, hình thể đã đạt đợc sự
hoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp các chức năng. Đầu thời kỳ này, con
ngời đạt đc 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lợng của cơ thể trởng thành.
Riêng não bộ đã đạt trọng lợng tối đa ( trung bình là 1400 gram) và số tế
bào thần kinh đã phát triển đầy đủ tới trên một trăm tỷ nơron. Quan trọng
hơn, chính ở lứa tuổi này, hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trởng
thành. Khoa học đã chứng minh rằng: ở nơron của lứa tuổi sinh viên hoàn
hảo hơn, cách ly tốt hơn, đốt nhánh nhiều; nhiều tế bào thần kinh não đến
tuổi sinh viên có thể nhận tin từ 1200 nơron trớc và gửi đi 1200 nơron sau.
15
Điều này đảm bảo một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết, tinh tế giữa vô số
kênh vào và vô số kênh ra, làm cho trí tuệ của sinh viên vợt xa trí tuệ của
học sinh phổ thông. Ước tính có tới 2/3 số kiến thức học đợc trong một đời
ngời do đợc tích luỹ trong thời gian này ( Lê Quang Long. Một số cơ sở
dễ xuất hiện phản ứng nh: thiếu tự tin, "khùng", từ chối công việc hoặc làm
một cách miễn cỡng
Đặc điểm tâm lí quan trọng của thời kỳ chuyển tiếp ở lứa tuổi thanh
niên sinh viên là sự phát trin tự ý thức. Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý
thức trong đời sống cá nhân, có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ
đối với bản thân. Tự ý thức là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra,
tự đánh giá về hành động, kết quả của hành động của chính bản thân về mặt
t tởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú Tự ý thức chính là điều
kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hớng nhân cách theo yêu cầu
của xã hội. Tự ý thức của sinh viên đợc hình thành trong quá trình xã hội
hoá và liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên.
c. Về mặt x hội:
Nét đặc trng của lứa tuổi thanh niên là hình thành con đờng sống.
Vì vậy khi xét đến mặt xã hội trong đời sống tâm lí của sinh viên ta phải qua
tâm đến "kế hoạch đờng đời và tự xác định nghề nghiệp của thanh
niên".
Kế hoạch đờng đời là một hiện tợng đồng thời của thể chế xã hội và
pháp quyền. Kế hoạch đờng đời cũng chính là kế hoạch hoạt động của sinh
viên và nó đợc bắt đầu bằng sự lựa chọn nghề nghiệp. Việc lựa chọn nghề
nghiệp của thanh niên sinh viên không chỉ theo ý thích mà nó còn thể hiện
trình độ đạo đức. " chúng ta lựa chọn nghề nghiệp phải vì quyền lợi của
nhân loại và vì sự hoàn thiện của riêng ta " ( Suy nghĩ của thanh niên khi
chọn nghề. C.Mac-Ph.Ănghen.1956 ).
Trong thời gian học tập ở đại học, do ảnh hởng của nội dung các môn
khoa học
( cơ bản, cơ sở và chuyên ngành) và do tham gia vào đời sống xã hội, nên xu
hớng nghề đợc hình thành và phát triển ở sinh viên. Nghĩa là, họ củng cố
thái độ tốt đối với nghề tơng lai của họ, củng cố hứng thú, khuynh hớng và
năng lực đối với nghề đã chọn; mong muốn hoàn thiện trình độ nghiệp vụ
sau khi tốt nghiệp phát triển quan điểm, niềm tin, uy tín nghề nghiệp trong
trong các kỳ thi. Họ không coi các hoạt động tập thể là cơ bản, nhng họ cho
rằng nó có ảnh hởng tích cực đến cá nhân họ.
18
- Kiểu "Z": Loại này đặc biệt chú ý đến các hoạt động xã hội hơn hẳn đối
với các môn khoa học. Họ gắn bó với trờng, tích cực tham gia các hoạt
động bề nổi; Họ coi "thời sinh viên là thời của các câu lạc bộ, các tổ chức
sinh viên". Tuy nhiên, họ cũng ý thức đợc và cố gắng có đợc mảnh bằng,
nhng ít khi vợt qua ngỡng tối thiểu.
- Kiểu "W": Họ học vì tơng lai hẹp, trớc mắt, không quan tâm tới các lĩnh
vực tri thức và hoạt động khác. Những sinh viên loại này chỉ hoàn thành bài
tập ở mức tối thiểu theo yêu cầu của giảng viên và chỉ đạt điểm trung bình.
* Theo các nhà tâm lí học Xô Viết (cũ) thì có 6 kiểu nhân cách sinh viên:
- Kiểu 1: là những sinh viên "kiệt xuất", u tú nhất.
- Kiểu 2: là những sinh viên học tập "khá", coi việc có đợc một nghề nào đó
là mục đích duy nhất của việc học; Nhit tình trong hoạt động xã hội, gắn bó
với tập thể, đối xử tốt với bạn bè.
- Kiểu 3: Là những sinh viên học "xuất sắc", coi trng khoa học; Gắn bó với
tập thể thông qua hoạt động khoa học; Không tự nguyện tham gia các hoạt
động quần chúng.
- Kiểu 4: Học lực trung bình khá, thích các khoa học ngoài chơng trình, ít
nghiên cứu khoa học;Văn hoá chung hạn chế; Đặc biệt tích cực, say mê các
hoạt động xã hội và tập thể.
- Kiểu 5: học trung bình, khá. mặc dù coi chuyên môn là lĩnh vực chủ yu
trong hoạt động của mình; Tham gia hoạt động xã hội không tích cực. Có
khả năng sáng tạo nghệ thuật và gắn bó với tập thể chỉ trong lĩnh vực văn hoá
giải trí.
- Kiểu 6: Học lực yếu, học vì "mốt", không yêu nghề; Không tham gia công
tác xã hội; coi nghỉ ngơi, giải trí là chủ yếu; Gắn bó với tập thể qua những
hứng thú cùng đợc nghỉ ngơi, vui chơi là chính.
Sự phân loại nhân cách sinh viên trên đây sẽ giúp các nhà quản lý giáo
thứ hai đợc xác định bởi d luận xã hội phức tạp, bởi tính tích cực và kế
hoạch hoạt động nhằm nắm lấy nghề chuyên môn tơng lai; Giai đoạn thứ
ba, mỗi thành viên của tập thể đã trở thành ngời thể hiện các yêu cầu xã
hội. Đây là giai đoạn thuận lợi nhất cho việc giáo dục nghề nghiệp, khoa
học, tinh thần trách nhiệm của ngời công dân, tự giáo dục của tập thể và
mỗi cá nhân.
c. Một số biện pháp hình thành tập thể sinh viên:
- BP1. Lập nhóm học tập dựa trên sự tơng đồng tâm lí giữa các thành viên;
20
- BP2. Tạo ra sự thống nhất về giá trị xã hội, kích thích hoạt động của các
phần tử tích cực theo hớng đoàn kết tập thể;
- BP3. Phát triển tính tự giác, tình bạn và tinh thần hợp tác trong mối quan hệ
lẫn nhau ở tập thể sinh viên;
- BP4. Củng cố uy tín của các phần tử tích cực, nâng cao tinh thần gơng
mẫu của họ, ngăn ngừa và giải quyết công bằng, minh bạch các xung đột
trong tập thể ( đặc biệt chú ý yếu tố tâm lí)
-BP5. Bảo đảm quan tâm thờng xuyên đến sinh viên, chú ý đến các yêu cầu,
hứng thú của họ.
Ngoài ra, từ thực tiễn hoạt động cùng sinh viên, mỗi giảng viên, đặc
biệt là giảng
viên đợc phân công làm chủ nhiệm lớp cần tự tìm cho mình những biện
pháp bổ sung phù hợp với từng tình huống cụ thể.
Vấn đề tâm lí xã hội của hiệu quả hoạt động trong tập thể sinh viên là
vấn đề hết sức nhạy cảm , đa dạng và rất phức tạp. Ngoài hoạt động học tập,
hoạt động chính trị-xã hội của sinh viên đợc xem nh là sản phẩm của sự tr-
ởng thành về mặt xã hội của họ. Vì vậy, đòi hỏi các nhà lãnh đạo, các giảng
viên phải có sự chú ý ngay từ khi hình thành các nhóm học tập cũng nh
toàn bộ quá trình học tập ở nhà và các hoạt động chính tri-xã hội của sinh
viên trong nhà trờng đại học.
hiện tợng riêng lẻ , chứ cha phải là một phạm trù khái quát cùng loại
b. Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc
tính của sự vật hiện tợng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan.
* Các qui luật cơ bản của cảm giác:
- Qui luật về ngỡng;
- Qui luật về tính thích ứng;
- Qui luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác;
c. Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh trọn vẹn các thuộc tính của sự vật,
hiện tợng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan. Nh
vậy, tri giác
tuy cùng là nhận thức cảm tính, nhng là quá trình nhận thức cao hơn cảm
giác.
* Các qui luật cơ bản của tri giác:
- Qui luật về tính lựa chọn của tri giác;
- Qui luật về tính ổn định của tri giác;
22
- Qui luật tổng giác.
Cảm giác và tri giác ở ngời diễn ra theo từng qui luật nhất định.
Ngời giảng viên đại học cần hiểu và tính đến những qui luật này khi tiến
hành công tác giảng dạy của mình. Chẳng hạn: muốn sinh viên cảm giác, tri
giác đợc sự vật, thì hình vẽ, máy móc, mô hình phải đủ to, đủ rõ trong điều
kiện đủ ánh sáng và độ gần cần thiết để đạt tới ngỡng và trong giới hạn của
vùng phản ánh tốt nhất; Hoặc là phải chú ý về màu sắc, độ tơng phản các
chú thích để sinh viên tri giác lựa chọn dễ dàng.
2.2.3. Nhận thức lí tính.
Nhận thức lí tính gồm t duy và tởng tợng là mức độ cao trong hoạt
động nhận thức của con ngời.
Tại sao cần nhận thức lí tính? Bởi lẽ: nếu chỉ dừng lại ở mức độ nhận
thức cảm tính thì con ngời không thể nào hiểu đợc đầy đủ và sâu sắc về
thế giới, không thể tìm ra các qui luật để cải tạo thế giới.
Ngôn ngữ là phơng tiện của t duy. Nhờ có ngôn ngữ mà con ngời
tiến hành
đợc các thao tác t duy và sản phẩm của t duy là những phán đoán, suy lí
đợc biểu đạt bằng từ, ngữ, câu
Nhận thức cảm tính là chỗ dựa cho t duy; ngợc lại, t duy và những
kết quả của t duy chi phối khả năng phản ánh của cảm giác, làm cho khả
năng của con ngời tinh vi hơn, nhạy bén hơn, mang tính lựa chọn và trở
nên có ý nghĩa hơn.
* Các giai đoạn của một quá trình t duy:
- Xác định đợc vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ t duy;
- Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm có liên quan tới vấn đề, làm xuất hiện
(trong đầu chủ thể t duy) những mối liên t
ởng xung quanh vấn đề đang
cần giải quyết;.
- Sàng lọc liên tởng, gạt bỏ những cái không cần thiết, hình thành giả thuyết
về các cách giải quyết vấn đề đó;
- Kiểm tra giả thuyết về cách giải quyết vấn đề: nếu giả thuyết đúng thì tiến
hành giải quyết vấn đề; nếu giả thuyết sai thì phủ định nó để hình thành giả
thuyết mới và bắt đầu một quá trình t duy mới.
- Giải quyết vấn đề đi đến kết quả, kiểm tra kết quả.
* Các thao tác trí tuệ trong quá trình t duy:
- Phân tích và tổng hợp:
24
Phân tích là dùng trí óc tách đối tợng t duy thành những bộ phận,
những thuộc tớnh, những mối liên hệ, quan hệ để nhận thức đối tợng sâu sắc
hơn. Tổng hợp là dùng trí óc đa những thành phần đã đợc tách rời nhờ sự
phân tích thành một chỉnh thể.
Phân tích và tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự
thống nhất không thể tách rời: phân tích đợc tiến hành theo phơng hớng
tổng hợp; còn tổng hợp đợc thực hiện dựa trên kết quả của phân tích.
Khi nghiên cứu quá trình nhận thức, đặc biệt là nhận thức lí tính của
sinh viên, cần thiết phải quan tâm, chú ý đến hai khái niệm tâm lí rất quan
trọng, đó là trí thông minh và tính sáng tạo.
Có nhiều quan niệm, định nghĩa rt khác nhau về "trí thông minh" và
có nhiều cách phân loại trí thông minh. Có thể nêu ra cách phân chia gồm 7
loại trí thông minh liên quan tới 7 lĩnh vực hoạt động nh sau: toán học-
logic học; ngôn ngữ học; âm nhạc; không gian; vận động cơ thể; liên nhân
cách; nội tâm. Điều quan trọng mà ngời giảng viên đại học cần nhận thức đ-
ợc là: ở mỗi ngời, sự thành thạo và tài năng có thể bộc lộ trong một hoặc
một số lĩnh vực hoạt động, chứ không nhất thiết là phải bộc lộ trong toàn bộ,
tất cả các lĩnh vực hoạt động. Vì vậy ngời giảng viên cần sớm phát hiện và
khuyến khích tiềm năng của từng cá nhân trong lĩnh vực hoạt động mà cá
nhân đó có thế mạnh, thậm chí là "thiên phú", từ đó giúp họ phát triển sang
lĩnh vực khác, mà hiện nay ngời ta gọi là "phát triển trí thông minh đa
dạng" cho ngời học.
Thông minh và sáng tạo thờng hay đi kèm nhau, nhng không phải
lúc nào cũng song trùng. Ngời có trí thông minh nhng cha chắc đã có khả
năng sáng tạo. Ngời có khả năng sáng tạo thì ắt phải là ngời thông minh.
Cặp phạm trù t duy- tởng tợng có quan hệ gắn bó với cặp phạm trù
thông minh-sáng tạo.
2.3. Các hoạt động của sinh viên.
2.3.1. Hoạt động học tập của sinh viên.
a. Khái niệm hoạt động học tập của sinh viên:
Có rất nhiều định nghĩa về hoạt động học tập của sinh viên. Tuy quan
điểm của các tác giả rất khác nhau, nhng có thể tìm thấy điểm chung của
họ là: hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động có mục đích, tự giác, có ý
thức về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình nhận thức, đặc biệt là quá
trình t
duy