ĐƯỜNG lối, CHÍNH SÁCH đối NGOẠI và NHỮNG THÀNH tựu của QUAN hệ đối NGAOIJ của ĐẢNG TA HIỆN NAY - Pdf 23

Tiểu luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
* PHẦN MỞ ĐẦU 2
* PHẦN NỘI DUNG 3
I. LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ, ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ
NHỮNG XU THẾ CHỦ YẾU TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ 3
1. Sơ lược lòch sử quan hệ ngoại giao ở nước ta 3
1.1 Thời kỳ phong kiến 3
1.2 Thời kỳ Hồ Chí Minh 4
2. Đặc điểm tình hình thế giới và xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế.
10
2.1. Đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay 10
2.2. Bối cảnh và xu thế chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện nay 12
II. ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG TA VÀ THÀNH TỰU VỀ
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 13
1. Quá trình hình thành đường lối chính sách của Đảng ta: 13
2. Nội dung đường lối, chính sách của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
16
2.1. Đặc điểm tình hình thế giới 16
2.2. Nội dung đường lối chính sách đối ngoại của Đảng ta trong giai đoạn
hiện nay 17
3. Thành tựu và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính
sách đổi mới 19
3.1. Thành tựu 19
3.2. Những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách đổi
mới 26
4. Sự phát triển hợp tác đầu tư kinh tế đối ngoại ở đòa phương trong thời
gian đổi mới 27
4.1. Đặc điểm tình hình của huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
4.2. Thực trạng về kinh tế –xã hội của huyện 28
4.3. Quá trình phát triển hợp tác đầu tư trong quan hệ quốc tế về lónh vực

quan hệ quốc tế nhằm mục đích để phân tích làm rõ quá trình phát triển,
những thành tựu, bài học kinh nghiệm và đường lối chính sách của Đảng ta
về công tác quan hệ đối ngoại đã được Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng khẳng đònh: “ Độc lập tự chủ rộng mở, đa phương hoá, đa dạng
hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu về hoà bình, độc lập và phát
triển”

Trang
2
Tiểu luận tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
I. LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ, ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THẾ
GIỚI VÀ NHỮNG XU THẾ CHỦ YẾU TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
1. Sơ lược lòch sử quan hệ ngoại giao ở Việt Nam.
Cùng với lòch sử của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta,
quan hệ ngoại giao đã góp phần đáng kể trong quá trình đấu tranh chống
ngoại xâm và xây dựng đất nước trong thời bình. Tạo vò thế cho Việt Nam
phát triển cùng với xu thế của thời đại.
1.1. Thời kỳ phong kiến.
Do điều kiện phát triển kinh tế –xã hội của phương thức sản xuất
trong chế độ phong kiến, nên quan hệ ngoại giao lúc bấy giờ chỉ giới hạn
trong phạm vi quan hệ với các nước láng giềng, mãi cho đến thế kỷ XV-
XVI mới có điều kiện tiếp xúc với các nước phương Tây.
1.1.1. Thời kỳ Bắc Thuộc:
Quan hệ ngoại giao giữa ta với Trung Hoa là quan hệ của nước đô hộ
với nước bò đô hộ chứ không phải giữa 2 quốc gia độc lập. Do vậy nên có
nhiều cuộc khởi nghóa nổ ra để chống lại ách thống trò nhưng điều bò thất
bại, một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại là do chưa có đường lối
ngoại giao đúng đắn. Đến khi nhà Đường suy yếu, với đường lối ngoại giao

quốc đã dòm ngó nước ta. Mặt khác do chính sách đối ngoại của triều đình
Nguyễn thiếu sáng suốt, bò động và sai lầm liên tiếp thật sự cuối đầu
nhượng bộ các đòi hỏi và thế lực ép buộc của thực dân Pháp để “Cổng rắn
về cắn gà nhà”, cuối cùng đánh mất nền độc lập của dân tộc.
1.2. Thời kỳ Hồ Chí Minh.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Chủ tòch Hồ Chí Minh
đã không ngừng phát huy và đưa truyền thống dân tộc, hoà bình, hữu nghò
của dân tộc lên tầm cao mới. Chính sách đối ngoại của Đảng, do người khởi
xướng và lãnh đạo thể hiện sâu sắc tinh thần ấy và đường lối ngoại giao trở
thành bộ phận hữu cơ của sự nghiệp cách mạng.
1.2.1. Thời kỳ 1930-1954.
Ngoại giao phục vụ cho kháng chiến chống thực dân và đế quốc.
Trong thời kỳ này được chia thành 2 giai đoạn:
* Giai đoạn từ 1930-1945: đấu tranh phân hoá kẻ thù “Hoà để tiến”
nhằm chuẩn bò lực lượng phục vụ kháng chiến.
- Hoàn cảnh quốc tế: chiến tranh thế giới thứ II đã kết thúc, lực lượng
XHCN từ một nước đã phát triển thành một hệ thống, phong trào giải phóng
Trang
4
Tiểu luận tốt nghiệp
dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở n Độ và Trung Quốc mang tính chất vô
sản tiến bộ “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Bác Hồ
đã tiếp cận và trở thành chân lý cho Việt Nam đó là “không có gì quý hơn
độc lập tự do”. Chính tư tưởng tiến bộ mang tính chất vô sản làm cho những
người yêu nước có dòp truyền bá chủ nghóa Mác-Lênin và sự ra đời của
Đảng cộng sản Việt Nam.
- Tình hình trong nước: với chính sách thống trò tàn bạo của thực dân
Pháp và những biến đổi của cách mạng Việt Nam, cách mạng tháng Tám
năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời đã bò kẻ
thù bao vây tứ phía, thành quả cách mạng bò đe dọa bởi thù trong giặc

đònh chính sách đối ngoại và những biện pháp ngoại giao trong những năm
đầu sau cách mạng tháng Tám. Điều dễ cảm nhận trước hết là bắt nguồn từ
tư tưởng lớn của “Nam quốc sơn hà nam đế cư” quyết tâm “Lấy đại nghóa
thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của ông cha ta, đầy trí tuệ, vừa
cứng rắn về nguyên tắc vừa mềm dẻo về sách lược. Chủ tòch Hồ Chí Minh,
Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng thích hợp bối cảnh bước ngoặc thời kỳ
sau chiến tranh thế giới thứ II, mở đường cho miền Bắc vào thời kỳ quá độ
đi lên CNXH, xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đấu tranh thống nhất
nước nhà.
1.2.2. Thời kỳ 1954-1964:
Ngoại giao phục vụ đấu tranh chống ngụy quyền tay sai và can thiệp
của Mỹ.
- Sau Hiệp đònh Giơ-ne-vơ, nước ta tạm thời bò chia cắt thành hai miền
và tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng đối với ý đồ thực
hiện chế độ thực dân mới vào Việt Nam, đế quốc Mỹ gạt dần ảnh hưởng
của Pháp và âm mưu chia cắt nước ta lâu dài. Chúng đã dựa vào lực lượng
tay sai thực hiện âm mưu biến Miền Nam thành thuộc đòa kiểu mới và căn
cứ quân sự của Mỹ. Lúc này Mỹ đã trở thành kẻ thù mới của cả dân tộc
Việt Nam.
- Nhân dân Việt Nam rất thiết tha có hoà bình để xây dựng đất nước,
có thái độ thiện chí. Trước tình hình đó, ngày 15/12/1958 tại hội nghò TW
MTTQ Việt Nam nhiệm vụ giao được Đảng ta đặt ra là:
+ Tích cực góp phần vào công cuộc bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á
và thế giới, chống âm mưu gây chiến của bọn đế quốc xâm lược và bè lũ
tay sai của chúng, ủng hộ nguyên tắc chung sống hoà bình.
+ Không ngừng tăng cường đoàn kết hữu nghò và hợp tác anh em với
Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân. Ra sức ủng hộ phong
trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
+ Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước với sự nghiệp
củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, độc lập dân tộc và dân chủ trong cả

tranh quân sự, đánh đòch bằng ba mũi giáp công là yếu tố quyết đònh thắng
lợi trên chiến trường, là cơ sở thuận lợi trên mặt ngoại giao…
* Giai đoạn 1969-1975: Tiếp tục đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá
chiến tranh”, chuẩn bò đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất nước nhà.
- Tổng thống mới của Mỹ Nich-Xơn đã quyết đònh thực thi chiến lược
toàn cầu với nội dung mới mang tên “Học Thuyết Nich-xơn”. Đế quốc Mỹ
thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” ở Miền Nam Việt Nam
thực chất của chiến lược này là dùng người Việt đánh người Việt.
- Tháng 1/1970 TW đã họp Hội nghò lần 18, đònh ra chủ trương nhằm
đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ. Từ đó xác đònh
nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là: Kiên trì và đẩy mạnh cuộc
Trang
7
Tiểu luận tốt nghiệp
kháng chiến, tiếp tục phát triển tiến công một cách mạnh mẽ, toàn diện,
liên tục, vừa tiến công đòch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính
trò của ta ngày càng mạnh. Trung ương chủ trương tiếp tục phương châm,
phương án cách mạng Miền Nam là: tiến công toàn diện cả về quân sự,
chính trò và ngoại giao bằng lực lượng quân sự kết hợp với lực lượng chính
trò, đánh đòch bằng 3 mũi giáp công: quân sự, chính trò và binh vận giành
thắng lợi, từng bước tiến lên giành thắng lợi quyết đònh và mở đường cho
cuộc giải phóng bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta mà đòch
có thể chấp nhận được.
Thắng lợi của cách mạng Miền Nam năm 1972 cộng với thắng lợi to
lớn của quân và dân Miền Bắc, đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng
“pháo đài bay” B52 của Mỹ trong 12 ngày đêm (từ 18-30/12/1972) đã làm
cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” với mọi cố gắng của Mỹ đã thất
bại nặng nề. Đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải ký hiệp đònh Pari (ngày
27/11/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Trước tình hình quân Mỹ và chư hầu phải rút quân ra khỏi Miền Nam

- Đối với Lào ta tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ và tự giải quyết công việc của mình.
- Đối với Campuchia ta chủ trương thông qua đàm phán thương lượng
hoà bình để giải quyết, nhưng khi nhận rõ bản chất phản cách mạng cùng
với chính sách và hành động chống phá Việt Nam. Ta kiên quyết đánh trả
mọi hành động quân sự, đồng thời vẫn kiên trì đề nghò thương lượng. Sau
năm 1979 quan hệ giữa 3 nước Đông Dương là phù hợp với qui luật phát
triển, đến năm 1985 ta đấu tranh để đi tới cuộc giải đáp chính trò cho vấn đề
Campuchia.
- Đối với Trung Quốc một mặt ta kiên quyết chống chính sách thù
đòch của Nhà cầm quyền Trung Quốc, mặt khác phấn đấu để bình thường
hoá quan hệ giữa hai nước.
- Đối với các nước khối ASEAN là quan hệ láng giềng tốt và cùng
xây dựng Đông Nam Á hoà bình, ổn đònh.
- Đối với Liên Xô có mối quan hệ đặc biệt là “hòn đá tãng” trong
chính sách đối ngoại của nước ta.
1.2.5. Thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay: ngoại giao để phục vụ cho sự
nghiệp đổi mới đất nước.
- Trong những năm đầu của cuộc đổi mới (1985-1987) tình hình kinh
tế phát triển chậm, cuối năm 1985 đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế
trầm trọng. Trong khi tình hình thế giới có nhiều sự kiện diễn biến phức tạp,
chủ nghóa xã hội ở Liên Xô và Đông u đã lâm vào cuộc khủng hoảng,
cuộc cách mạng khoa học-công nghệ phát triển ngày càng mạnh làm thay
đổi lớn trên thế giới đồng thời mở ra xu hướng mới, đặc biệt là xu hướng mở
cửa, hợp tác liên kết. Do đó có thể là thời cơ và cũng là những nguy cơ nhất
Trang
9
Tiểu luận tốt nghiệp
là những nước chậm phát triển sẽ trở thành thách thức gay gắt nếu đi đúng
hướng thì hợp thời với xu thế tiến bộ của thời đại.

+ Thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH là thời đại đan xen giữa chủ
nghóa xã hội và chủ nghóa tư bản, chủ nghóa xã hội ngày càng mạnh hơn và
ngày càng mở rộng phạm vi. Chủ nghóa tư bản ngày càng suy yếu và hẹp
lại. Đây là xu hướng chung có tính quy luật xuyên suốt thời đại, cho nên
Trang
10
Tiểu luận tốt nghiệp
mâu thuẩn cơ bản xuyên suốt thời đại quá độ là mâu thuẩn giữa CNXH và
CNTB.
+ Lòch sử mấy chục năm qua do có đối thủ tương quan Liên Xô và
cộng đồng các nước XHCN trên thế giới. Do đó cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc hàng chục năm trước vốn là thuộc đòa và lệ thuộc chủ nghóa đế
quốc. Do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các
nước TBCN dòi hỏi dân sinh và dân chủ buộc chủ nghóa tư bản phải điều
chỉnh về kinh tế, xã hội để nhằm điều hoà mâu thuẩn trong xã hội Tư Bản.
Mặt khác CNTB lợi dụng được thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại
tạo ra được tiềm năng mới bổ sung vào đặc điểm thời đại, nhưng hoàn toàn
không làm mất đi mâu thuẩn cơ bản giữa tư sản với công nhân và các tầng
lớp lao động khác trong lòng xã hội Tư Bản. Thật sự điều chỉnh của CNTB
đã không làm mất đi sự phân cực giàu nghèo, thậm chí còn sâu sắc hơn. Do
đó mâu thuẩn giữa tư sản với giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động
trong lòng xã hội TBCN vẫn là một trong những mâu thuẩn cơ bản của thời
đại hiện nay.
+ Sự thức tỉnh của ý thức độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia do
ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười đem lại, đến những năm 50 và 60 của
thế kỷ này đã đưa đến hàng trăm nước thuộc đòa và phụ thuộc cũ của chủ
nghóa thực dân. Tuy nhiên xuất phát từ nền kinh tế, văn hoá lạc hậu, thấp
kém của các nước này vẫn lệ thuộc vào các nước phát triển. Sự bòn rút siêu
lợi nhuận, nợ nần trở nên chồng chất, nạn “chảy máu chất xám”, nạn đói và
bùng nổ dân số ở các nước kém phát triển là thực trạng phổ biến đã đưa đến

hội. Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. Trình độ làm
chủ thông tin, tri thức có ý nghóa quyết đònh cho sự phát triển chu trình luân
chuyển, đổi mới công nghệ ngày càng được rút ngắn. Các nước đang phát
triển trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước
phát triển, cải thiện vò trí của mình, đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa
hơn nếu không tranh thủ được cơ hội, khắc phục yếu kém để đi lên.
- Toàn cầu hoá kinh tế: là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao
trùm hầu hết các lónh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh
và tích luỹ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Quan hệ song phương, đa
phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và
bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và đòch họa…. Các công
ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành tập đoàn khổng lồ chi
phối nhiều lónh vực kinh tế. Sự cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia ngày
càng tăng.
- Đối với nước ta, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian
tới được nâng lên một bước gắn với việc thực hiện các cam kết quốc tế, đòi
hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc
lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả và phân công lao động
quốc tế.
- Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, trong
đó Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn. Sau khủng hoảng tài chính-kinh tế,
nhiều nước ASEAN đang khôi phục đã phát triển với khả năng cạnh tranh
Trang
12
Tiểu luận tốt nghiệp
mới. Tình hình đó thuận lợi cho chúng ta trong hợp tác phát triển kinh tế,
đồng thời cũng gia tăng sức ép cạnh tranh cả trong và ngoài khu vực.
II. ĐƯỜNG LỐI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG TA VÀ THÀNH TỰU,
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI.

Trước tình hình đó Đảng ta tuyên bố lập trường kiên trì đònh hướng
XHCN ở Việt Nam trong khi bối cảnh CNXH ở Liên Xô và Đông u bò đổ
vỡ, Đảng ta đã thông qua cương lónh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghóa xã hội gồm những nội dung cơ bản:
- Khẳng đònh Việt Nam từ thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội bỏ qua
chế độ TBCN.
- Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ cùng hướng quốc tế hoá nền
kinh tế thế giới là thời cơ để phát triển đất nước.
- Phải phát huy ý chí tự lực tự cường đồng thời phải mở rộng hợp tác
quốc tế.
- Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hoà
bình hợp tác và hữu nghò với tất cả các nước.
1.3. Hội nghò BCH Trung ương 3 (khoá VII) của Đảng (1991).
Đến cuối năm 1991 trước tình hình thế giới phức tạp, chế độ XHCN ở
Liên Xô và các nước XHCN Đông  sụp đỗ, chủ nghóa xã hội trên thế giới
tạm thời lâm vào thoái trào, còn chủ nghóa tư bản tự điều chỉnh tìm cách
thích nghi và đang đưa đến sự phát triển mới.
Để kòp điều chỉnh chiến lược trước tình huống mới, hội nghò TW 3
(khoá VII) đã xác đònh tư tưởng chủ đạo của công tác đối ngoại là: “Giữ
vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghóa xã hội, đồng thời sáng
tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vò trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với
từng đặc điểm từng đối tượng mà ta có quan hệ”
Về phương châm công tác đối ngoại, hội nghò đã chỉ rõ: bảo đảm lợi
ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghóa yêu nước và chủ
nghóa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tự chủ, đẩy mạnh đa
dạng hoá đa phương hoá quan hệ đối ngoại; nắm vững hai mặt hợp tác và
đấu tranh trong quan hệ quốc tế. Tránh hợp tác một chiều, tránh đấu tranh
một chiều và tránh trực diện đối đầu trong quan hệ quốc tế hiện nay; tham
gia hợp tác khu vực và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới.

công xây dựng đất nước đi lên CNXH, đó là vấn đề có ý nghóa sống còn đối
với sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.
Với đặc điểm ý nghóa đó, về đường lối đối ngoại Đảng ta chủ trương
tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại, độc lập tự chủ, mở rộng đa
phương hóa, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển.
Không thụ động ngồi chờ, Đại Hội quyết tâm chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và đònh hướng XHCN, bảo vệ lợi ích
Trang
15
Tiểu luận tốt nghiệp
dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ
môi trường.
2. Nội dung đường lối chính sách của Đảng ta trong giai đoạn hiện
nay.
2.1. Đặc điểm tình hình thế giới.
2.1.1. Dự báo diễn biến quốc tế và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI.
Đại Hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhận đònh: Trong
một vài thập kỷ mới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh cục bộ, xung đột vũ
trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra nhiều nơi vốn tính
chất phức tạp ngày tăng. Khu vực Đông Nam Á, Châu Á-Thái Bình Dương
sau khủng hoảng tài chính –kinh tế, có khả năng phát triển năng động
nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn đònh.
Thực tiễn cho thấy trong những năm gần đây, nhà cầm quyền Mỹ đã
bất chấp mọi nổ lực của nhiều nước trong đó có cả một số nước thành viên
Hội đồng bảo an liên hiệp quốc nhằm ngăn ngừa chiến tranh, tìm giải pháp
chính trò cho vấn đề Irắc; thử nghiệm các phương tiện chiến tranh hiện đại
đã kích hoạt chạy đua vũ trang và hoạt động khủng bố trên thế giới nhất là

chất-kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Đất nước còn nhiều tiềm
năng lớn về tài nguyên, lao động. Nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp. Tình
hình chính trò –xã hội cơ bản ổn đònh. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên
kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta
tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực. Đó là cơ hội
lớn.
Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn nguy cơ
mà Đảng ta chỉ rõ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới, chệnh hướng XHCN, nạn tham nhũng và tệ nạn quan liêu,
“Diễn biến hoà bình” do các thế lực thù đòch gây ra đến nay vẫn còn tồn tại
và diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy
cơ nào.
Điều nhấn mạnh là tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng
chính trò, đạo đức, lối sống của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang
cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất
bình làm giảm lòng tin trong nhân dân.
Nước ta vẫn còn là một nước kém phát triển, mức sống nhân dân còn
thấp, trong khi cuộc đấu tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta
không nhanh chóng vươn lên sẽ tụt hậu xa hơn về kinh tế.
2.2. Nội dung đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta trong giai
đoạn hiện nay:
Trang
17
Tiểu luận tốt nghiệp
Đại hội Đại biểu toàn quốc là thứ IX của Đảng ta (2001) đã tiếp tục
phát huy và mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế theo đường lối chính sách hiện nay là:
+ Về tư tưởng chỉ đạo:
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa
phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là

- Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầøu. ng hộ và cùng
nhân dân thế giới đấu tranh nhằm loại trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân, vũ khí
sinh học và mọi phương tiện gây chiến tranh khác giết người hàng loạt, bảo
vệ hoà bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua vũ trang, tôn trọng độc
lập, chủ quyề toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự do lựa chọn con đường phát
triển của mỗi dân tộc trên thế giới; góp phần xây dựng trật tự chính trò, kinh
tế quốc tế tự chủ, công bằng.
- Cũng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các Đảng
cộng sản và công nhân, với các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế
giới. Tiếp tục mở cửa quan hệ với các Đảng cầm quyền.
- Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ
song phương và đa phương với các tổ chức nhân dân các nước, nâng cao
hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp
phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghò và hợp tác giữa
nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ nghiên cứu, làm tốt công tác
dự báo tình hình khu vực và thế giới, kòp thời có những chủ trương, chính
sách đối ngoại thích hợp khi tình hình thay đổi. Tăng cường hơn nữa công
tác thông tin đối ngoại và văn hoá đối ngoại.
- Bồi dưỡng, rèn luyện bản lónh chính trò, năng lực, đạo đức, phẩm
chất của người cán bộ làm công tác đối ngoại, kể cả kinh tế đối ngoại.
- Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động
đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân. Hoàn thiện cơ chế
quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực
hiện có kết quả nhiệm vụ công tác đối ngoại, làm cho thế giới hiểu rõ hơn
nước ta, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ hợp tác ngày càng
rộng rãi của thế giới.
- Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trò đối ngoại với kinh tế đối ngoại,
gắn chủ trương hội nhập kinh tế với nhiệm vụ an ninh quốc phòng.

nhân dân giành thắng lợi vó đại:
- Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là kết quả tổng hợp của phong trào
cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lập Đảng, mặc dù
cách mạng có lúc bò dìm trong máu lửa. Chế độ thuộc đòa nước phong kiến ở
nước ta bò xoá bỏ, một kỷ nguyên mới mở ra, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn
liền với CNXH.
- Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt đã giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghóa thực dân củ và mới, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ Quốc, đưa cả nước
đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ
lên CNXH. Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm xây dựng CNXH ở
miền Bắc khi còn chiến tranh và những năm đầu sau khi đất nước thống
nhất, trãi qua nhiều tiềm tòi, khảo nghiệm sáng kiến của nhân dân, Đảng đã
Trang
20
Tiểu luận tốt nghiệp
đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ
Tổ Quốc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh Quốc Tế.
3.1.2. Thành tựu về kinh tế –xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đánh giá 10
năm thực hiện chiến lược ổn đònh và phát triển kinh tế –xã hội (1991-2000)
đã đạt được những thành tích to lớn và rất quan trọng:
- Sau mấy năm đầu thực hiện chiến lược, đất nước đã thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế –xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm
tăng hơn gấp đôi (2,07 lần). Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không
đáng kể, đến năm 2000 đạt 27% GDP. Từ tình trạng hàng hoá tham hiếm
nghiêm trọng, nay sản xuất đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân dân

bộ kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tư duy mới kinh tế được hình thành,
chuyển dòch cơ cấu được thúc đẩy, sản xuất kinh doanh với hiệu quả ngày
càng cao.
* Kết quả cụ thể:
Về đầu tư hợp tác kinh tế: nguồn vốn đầu tư ngày càng lớn và nợ nước
ngoài ngày càng giảm đáng kể.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành từ 1988-2002.
. Tổng số: 3669 dự án = 20.739.302.695 USD.
. Trong đó: Công nghiệp: 2.341 dự án = 13.343.302.692USD.
Nông lâm nghiệp: 484 dự án =1.292.122.848 USD.
Dòch vu:ï 754 dự án = 6.103.877.255 USD.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư từ 1988-2002.
. Tổng số: 3.669 dự án = 20.739.302.795 USD
. Trong đó: BOT 6 dự án = 216.941.200 USD.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh 157 dự án = 3.761.554.367 USD.
100% vốn nước ngoài 2.417 dự án = 6.725.903.405 USD.
Liên doanh 1.089 dự án = 10.034.903.814 USD.
+ Trong đó kết quả đầu tư của các nước:
. Đối với các nước khối ASEAN: mua bán 2 chiều giữa Việt Nam với
các nước thành viên khối ASEAN trong năm 1986 đạt 48 triệu USD đến
năm 1996 đạt 5.200 triệu USD, đầu tư trực tiếp vào Việt Nam của ASEAN
tính đến tháng 6 năm 1998 đạt tới 7.814 triệu USD.
. Đối với Trung Quốc: quan hệ kinh tế được khôi phục và phát triển,
kim ngạch bán hai chiều đạt 32 triệu USD năm 1991, 1.318 triệu năm 1999
và năm 2000 gần 7.300 triệu ( tính cả Hồng Kông); quan hệ giáo dục đào
tạo có 20 trường đại học Việt Nam hợp tác với 40 trường đại học và học
viện của Trung Quốc.
Trang
22
Tiểu luận tốt nghiệp

* Mở rộng quan hệ với Châu Á Thái Bình Dương:
Đối với các nước ASEAN:
Bước đầu tiên là ta chủ động rút hết quân tình nguyện Việt Nam khỏi
Campuchia vào tháng 9/1989 và tích cực đóng góp, thực hiện việc ký hiệp
đònh Pari về Campuchia. Từ đó, đẩy lùi một bước chính sách bao vây cấm
vận nước ta, xoá bỏ những trở ngại trong quan hệ với các nước trong khu
vực, chuyển từ đối đầu sang đối ngoại và hợp tác. Ta tham gia hiệp ước Bali
trở thành quan sát viên của tổ chức ASEAN và trở thành thành viên chính
thức của khối này vào tháng 7/1995 là yếu tố tạo nên môi trường hoà bình,
ổn đònh, phồn vinh khu vực.
Trang
23
Tiểu luận tốt nghiệp
Với chặng đường đổi mới và phát triển quan hệ ngoại giao các nước
ASEAN ngày được củng cố, mậu dòch giữa nước ta với các nước thành viên
ngày càng phát triển. Mua bán 2 chiều giữa Việt Nam với các nước ASEAN
năm 1986 đạt 118 triệu USD đến năm 1996 đạt 5.200 USD; đầu tư trực tiếp
vào Việt Nam của ASEAN chỉ tính đến tháng 6/1998 đạt 7.824 triệu USD.
Các hiệp đònh về đánh thuế 2 lần, hiệp đònh về hợp tác kinh tế và
thương mại, hiệp đònh về văn hoá, giáo dục, kỹ thuật…cũng lần lượt được ký
kết đã giúp Việt Nam nhanh chóng hoà nhập trong sự phát triển chung của
ASEAN. Đặc biệt, các nước ASEAN (trong đó có Việt Nam) chuẩn bò một
bước trong tiến trình tham gia khu vực thương mại tự do AFTA và chủ động
tham gia các vòng đàm phán gia nhập tổ chức WTO để có điều kiện phát
triển nhiều mặt.
- Đối với Trung Quốc:
Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta sang thăm Trung Quốc vào tháng
11/1991, đánh dấu sự bình thường hoá trở lại quan hệ hữu nghò truyền thống
giữa hai nước. Từ đó các hiệp đònh thương mại (1991); hiệp đònh hợp tác
kinh tế và lãnh sự (1992), hiệp ước biên giới trên đất liền (1999) được ký

Ba nước Việt Nam –Lào - Campuchia đã thống nhất xác đònh những
biện pháp và phương cách để thúc đẩy hơn nửa việc hợp tác ba nước trong
xây dựng tam giác phát triển, thực hiện các dự án nhằm phát triển thương
mại, hợp tác du lòch và xây dựng hệ thống lưới điện liên hoàn giữa ba nước
để cung cấp cho nhau, hợp tác phát triển lưu vực sông Mêkông.
- Đối với các nước Liên Xô cũ và Đông u:
Ta chủ động từng bước quan hệ bình thường về mặt Nhà nước phù hợp
với tình hình thực tế ở đó và phù hợp với chủ trương mở rộng quan hệ của
Đảng và Nhà nước ta. Một bộ phận nhân dân và Đảng cộng sản hoạt động
tại các nước này vẫn còn xu hướng và hoài bảo đến chế độ XHCN. Qua
đường lối quan hệ ngoại giao và sự hổ trợ qua lại bằng chính trò cho nhân
dân ngày một tốt hơn.
- Đối với Liên Bang Nga.
Quan hệ giữa hai nước được phục hồi, có bước phát triển kể từ năm
1994 và bắt đầu trao đổi các đoàn cấp cao vào năm 1997. Đến tháng 3/2000
hai bên đã xác lập khuôn khổ hợp tác mới trên tinh thần đối tác chiến lược,
đònh hướng quan hệ trong những năm đầu thế kỷ XXI và nhất trí hơn nữa sự
tăng cường phối hợp trên trường Quốc Tế. Các hiệp đònh về khoa học kỹ
thuật, thuỷ văn, dầu khí, cung cấp tín dụng, xây dựng nhà máy thuỷ điện,
hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình…lần lược được
ký kết và từng bước thực hiện.
Trang
25

Trích đoạn Đặc điểm tình hình của huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status