Bài thảo luận môn lý thuyết tài chính tiền tệ - Pdf 23

Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
BÀI THẢO LUẬN MÔN LÝ THUYẾT
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Tác động của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế Việt Nam
hiện nay.
Danh sách các thành viên:
1. Nguyễn Văn Mạnh (Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
3. Lê Thị Diệu Linh
4. Lê Thị Phương Thảo
5. Cao Chiến Thắng

BÀI LÀM
MỤC LỤC TRANG
1
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
I.Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước
 Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoảng chi của ngân sách
Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân
sách. Trong trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi
được gọi là thặng dư ngân sách.
 Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thưởng sử dụng chỉ tiêu tỉ
lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước.
 VD: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155 900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với
GDP là 6,9 % ( theo cách tính của Việt Nam).
II. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Bảng thống kê tình hình thâm hụt ngân sách qua các năm ( 2000 – 2010)
(Đơn vị : Tỷ đồng)
2
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
Chỉ tiêu

- Qua thống kê cho thấy, trong những năm trở lại đây, tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở
Việt Nam luôn nằm ở ngưỡng 5 % GDP và có xu hướng tăng lên. Đây là một tỉ
lệ rất cao. Theo kinh nghiệp quốc tế thì trong điều kiện bình thương, thâm hụt
ngân sách ở mức 3 % GDP được coi là đáng lo ngại, còn ở mức 5 % GDP thì
bị coi là đáng báo động. Riêng năm 2009 tỉ lệ thâm hụt ngân sách đã lên tới
6.9 % GDP. Tốc độ tăng thâm hụt ngân sách cũng là khá cao từ 17 đến 18 %.
Cụ thể năm
2006
mức thâm hụt là vào khoảng 48.5 nghìn tỷ đồng thì năm 2007
đã tăng lên tới 56.5 nghìn tỷ đồng. Và theo kết quả công bố Dự đoán NSNN
năm 2010 và 2011 thì tỷ lệ thâm hụt ngân sách lần lượt là 6.2 % GDP và 5,3 %
GDP, có giảm so với năm 2009 nhưng vẫn còn ở mức cao. Ngoài ra, những
3
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
khoản chi ngoài ngân sách trong mấy năm gần đây lên tới 20- 25 % tổng ngân
sách. Một tỷ lệ quá cao.
- Tuy nhiên, theo một số chuyên gia và tổ chức kinh tế trên thế giới thì những
con số trên còn lớn hơn nhiều. Cụ thể, theo chuyên gia tư vấn quốc tế Jitendra
Modi thì tỉ lệ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam năm 2007 phải là 6,9 % GDP
thay vì con số xấp xỉ 5 % GDP như báo cáo của chính phủ trước Quốc hội.
Trong cuộc họp Hội nghị nhóm tư vấn cho Việt Nm được tổ chức tại Kiên
Giang, thì đại diện của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF cho biết mức thâm hụt năm
2009 đã lên tới 9 % GDP ( theo cách tính của IMF). Tỷ lệ này cao hơn nhiều
so với mức VIệt Nam công bố cjir là 6,9 %. Đối với ÌM, rõ ràng đó là một
mức thâm hụt “ lớn” và “ không bền vững”. Mức chênh lệch gàn 2% GDP nếu
quy đổi ra con số tuyệt đối sẽ lên đến hàng nghìn tỷ đồng – một con số quá lớn
trong điều kiện phải kiểm soát và thắt chặt chỉ tiêu như hiện nay. Tình hình
thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp.
- Dưới đây là biểu đồ so sánh thâm hụt ngân sách của Việt Nam và một số nước
trong khu vực (2001 – 2007)

tăng cung tiền, lạm phát tăng. Mặt khác, do trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính
5
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
phủ bảo lãnh được bán chủ yếu cho các NHTM lớn, nên khi các NHTM cầm cố lại
lượng trái phiếu này tại NHTW để lấy tiền mặt, sẽ làm tăng cung tiền, dẫn đến tăng
lạm phát ( theo số liệu thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán HN năm 2011,
tổng lượng TPCP và TPCP bảo lãnh có giá trị khoảng 336 nghìn tỷ đổng, tương
đương hơn 13% GDP danh nghĩa và gần 12% cung tiền M2). Bên cạnh đó, việc CP
vay nợ trong nước làm tăng lãi suất, giảm đầu tư. Nếu không có biện pháp làm
tăng năng suất lao động thì lượng cung giảm, do đó giá cả chung tăng.
Năm Tỉ trọng vay nợ trong nước trong
vay nợ bù đắp bội chi (%)
2006 73.8
2007 79.9
2008 70.9
2009 50.4
2010 63.2
2011(dự toán) 76.8
Đơn vị: %
- Có thể thấy từ 2009 đến nay, tỉ trọng vay trong nước trong cơ cấu nợ đang có
xu hướng tăng. Điều này đã gián tiếp làm tăng cung tiền, là một trong những
nguyên nhân cơ bản góp phần làm tăng lạm phát (tốc độ tăng cung tiền M2
của VN giai đoạn 2000-2010 là 31,4% à tỉ lệ cung tiền M2 trên GDP tăng
nhanh). Việc vay nợ để bù đắp thâm hụt trong giai đoạn trước còn tạo ra nguy
cơ tiềm ẩn lạm phát cho giai đoạn sau nếu số nợ ngày càng cao trong khi
không có khả năng chi trả, dễ dẫn đến phải in tiền để trả nợ.
- Ngoài ra, qua số liệu cho thấy lạm phát và thâm hụt trong 6 năm gần đây có xu
hướng trái chiều nhau ngoại trừ năm 2007. Thậm chí năm 2008 khi thâm hụt ngân
sách so với GDP chỉ là 4,58% thì lạm phát lại tăng vọt lên tới trên 19,9%. Trong
khi năm 2009 thâm hụt ngân sách là cao nhất lên đến 6,9% song mức độ lạm phát

TPCP ở mức 10-12%, trong khi lãi suất cho vay trên thị trường ở mức 20%.Tuy
nhiên, lượng vốn huy động trên thị trường TPCP lại tăng vọt.Bản chất của hiện
tượng này là các NHTM có thể bán/cầm cố TPCP cho NHNN với mức lãi suất
chiết khấu thấp, sau đó cho các NH thiếu hụt thanh khỏan vay để hưởng chênh
lệch.Hiện tượng này khiến tiền chỉ lưu thông trong thị trường TPCP và thị trường
liên ngân hàng mà không đến được với khu vực tư nhân.
8
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
3. Tác động của thâm hụt NSNN tới cán cân thương mại và tỉ giá hối đoái
3.1. Thâm hụt NSNN làm tăng thâm hụt cán cân thương mại
Tình hình cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 1999-2010
-Thâm hụt ngân và tác động của đầu tư trong nước:
Y= C + I + G + NX
Y - C – G = I + NX
S = I + NX
Trong nền kinh tế , tiết kiệm quốc dân bằng tổng tổng đầu tư và cán cân thương
mại. Thâm hụt ngân sách nhà nước làm giảm tiết kiệm quốc dân, từ đó sẽ làm giảm
đầu tư trong nước và làm giảm xuất khẩu ròng.
+Khi thâm hụt ngân sách, chi tiêu của chính phủ lớn làm cho chi tiêu trong nước
tăng và sản lượng trong nước không bù đắp được nên chính phủ phải tăng nhập
khẩu và làm giảm xuất khẩu ròng.
+Khi thâm hụt ngân sách, tiết kiệm giảm làm cho vốn đầu tư giảm và lãi xuất tăng
cao, từ đó kiềm chế đầu tư trong nước. Hàng hóa sản xuất trong nước ít đi càng
không đủ bì đắp lượng thiếu ở trên. Vì vậy lượng hàng xuất khẩu giảm và tăng
cường nhập khẩu để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước. Dẫn tới thâm hụt
cán cân thương mại.
9
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
Theo thống kê, tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2008 chiếm 41,3% GDP, 2009
là 42,8% năm 2009, 41,9% năm 2010. Trong khi đó thâm hụt 2008 là 4,6% GDP,

+ Thứ hai, nó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực, do vậy làm ảnh
hưởng tới sản lượng hiện tại lẫn tăng trưởng trong tương lai.
- Để tăng trưởng kinh tế, nền kinh tế Việt Nam phải dựa vào mức tiết kiệm, đầu tư
cao và sử dụng nhiều lao động. Theo nhiều nghiên cứu, trong cấu thành tạo nên
tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay phụ thuộc quá nhiều vào việc tăng vốn,
thậm chí tới mức thái quá. Cụ thể,trong ba yếu tố vốn, lao động và năng suất, vốn
đóng góp tới 53% tăng trưởng so với khoảng 22% từ lao động và 25% từ tăng
năng suất (giai đoạn 2000-2005). Các tỷ lệ này thay đổi theo chiều hướng xấu đi
nhanh chóng trong giai đoạn 2006-2010, tương tự với các mức là 77%,15% và
8%.
Biểu đồ thể hiện sự đóng góp của các nhân tố vốn, lao động
vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010
Đơn vị: %
- Tuy nhiên, vấn đề lớn hiện nay là đầu tư nhiều hơn tiết kiệm. Tiết kiệm trong
nước bằng khoảng 30% GDP, trong khi mức đầu tư luôn ở mức trên 40% GDP
(giai đoạn 2006-2011). Như vậy, để bù lại mức thâm hụt về vốn lên tới hơn
10% GDP, tức khoảng 10 tỷ USD/năm,Nhà nước sẽ phải tăng thuế hoặc phải
vay nợ thông qua phát hành trái phiếu hoặc kêu gọi đầu tư trực tiếp (FDI). Các
hành động này đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, nguồn
vốn ODA cho Việt Nam cũng có xu hướng giảm vì các nhà tài trợ lo ngại về
tình trạng nợ nần của Việt Nam quá lớn sẽ làm mất cân đối vĩ mô.
- Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn, thực hiện nhiều cam
kết WTO và cam kết đa phương, song phương về giảm thuế nhập khẩu thì
nguồn thu ngân sách chỉ còn trông chờ vào tăng thuế trong nước. Tuy nhiên,
nếu tăng thuế doanh nghiệp sẽ phải chịu gánh nặng chi phí nhiều hơn sẽ làm
giảm động cơ sản xuất, giảm tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư nhân, làm
11
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu tăng thuế thu nhập cá nhân thì
mức tiêu dùng sẽ giảm, làm giảm một phần tổng cầu, lập tức sẽ tác động tiêu

Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
- Một số lưu ý trong vấn đề giải quyết vấn đề thâm hụt NS của VN:
+ Việt Nam hạch toán ngân ách phải được tính toán một cách minh bạch
theo thông lệ quốc tế
+ Cần có đánh giá toàn diện về tính hiệu quả của các dự án, chi tiêu công và
có sự cắt giảm hợp lý, tránh trường hợp cắt giảm đồng loạt tất ả các khoản
chi theo một tỉ lệ nhất định. Đồng thời, phải rà soát chặt chẽ, tránh lãng phí
trong các khoản chi thường xuyên.
+ Cải cách hệ thống thuế, đảm bảo nguồn thu bền vững, hiệu quả, công bằng
và minh bạch. Gánh nặng thuế ở Việt Nam hiện nay cao hơn nhiều so với
các nước trong khu vực. Điều này có thể dẫn đến sự kém hiệu quả của hệ
thống vì nó khuyến khích sự trốn thuế và bóp méo sự phân bố các nguồn
lực. Đồng thời mức thuế thu nhập cao hiện này cũng có thể dẫn đến sự suy
giảm tổng cầu và lam giảm nguồn thu từ các loại thuế khác.
+ Cần có sự giám sát chặt chẽ tính hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt
động của khối DNNN. Chỉ số ICOR của khối DNNN hiện ao gấp 1,5 lần so
với khu vực ngoài nhà nước. Sự kém hiệu quả trong hoạt động của khối
DNNN là một phần nguyên nhân khiến nguồn thu ngân sách không được
đảm bảo.
V. Tài liệu tham khảo
1. Đề tài: Thâm hụt tài khóa: Thực trạng, tác động và khuyến khích chính sách.
Tác giả: Tiến sĩ Phạm Thế Anh
2. Báo cáo chuyên đề nghiên cứu: Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách nhà nước
với các biến số kinh tế vĩ mô. Thực trạng và giải pháp.
3. Các tài liệu từ các trang luận văn.co, tailieu.vn, gafin.vn, doko.vn,…
4. Số liệu từ tổng cục thống kê và cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính.
13
Nhóm 6_Lý thuyết tài chính tiền tệ_Lớp 4 2013
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status