ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Đoàn Phương Thảo
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
“GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”
Sinh viên thực hiện: Trịnh Chiêu Minh
Mã sinh viên: BH191527
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
1
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU................................................................................................................3
Chương 1: Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ...................................4
1.1. Chính sách tiền tệ..........................................................................................................4
1.2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ..............................................................................5
1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ......................................................................................9
1.3.1. Công cụ tái cấp vốn..............................................................................................9
1.3.2. Công cụ dự trữ bắt buộc.......................................................................................10
1.3.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở.........................................................................11
1.3.4. Công cụ hạn mức tín dụng....................................................................................12
1.3.5. Công cụ lãi suất.....................................................................................................14
1.3.6. Công cụ tỷ giá.......................................................................................................15
Chương 2: Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam..............................................................................................................................16
2.1. Những đổi mới về điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1986 đến nay ........................16
2.2. Thực trạng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước .....18
2.2.1. Công cụ tái cấp vốn..............................................................................................20
2.2.2. Công cụ dự trữ bắt buộc.......................................................................................21
2.2.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở.........................................................................22
2.2.4. Công cụ hạn mức tín dụng....................................................................................23
nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công
ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền
tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định.
Đối với nước ta, ngay từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước đã nhận thức được vai trò của chính sách
tiền tệ trong phát triển kinh tế. Vì vậy ngay từ những ngày đầu Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã chú trọng trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ sao cho phù hợp với
nền kinh tế. Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ như đẩy lùi lạm phát, tạo
công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người dân... góp phần không nhỏ vào sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Tuy vậy nền kinh tế thị trường luôn biến động nên các mục tiêu của chính sách tiền
tề cũng phải luôn biến đổi theo cho phù hợp với các giai đoạn phát triển của đất nước. Việc
xây dựng một chính sách tiền tệ linh hoạt là cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Nhưng trên
thực tế chính sách tiền tệ của nước ta sau một thời gian dài thực thi vẫn còn bộc lộ nhiều
thiếu sót và hạn chế. Việc tìm ra những thiếu sót và hạn chế đó để khắc phục và xây dựng
hoàn thiện chính sách tiền tệ là điều quan trọng nhất cần phải làm.
Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chính
sách tiền tệ, em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình của Thạc sỹ Đoàn Phương Thảo đã giúp em hoàn thành đề án này. Vì sự
hiểu biết còn hạn chế, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của cô giáo và bạn đọc.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Chương 1
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỂN TỆ
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
3
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
1.1. Chính sách tiền tệ
Hoạt động của ngân hàng liên quan đến sự ổn định hay thay đổi của tiền tệ về lưu
thông, chi phí và giá trị, dẫn đến sự tác động vào giá cả hàng hoá và giá trị tài sản, thu nhập
chặt lại trong việc cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và việc
làm của quốc gia đến mức mong muốn.
Trong một quãng thời gian nhất định nào đó, chính sách tiền tệ của một quốc gia có
thể được hoạch định theo một trong hai hướng sau đây:
- Chính sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến khích đầu tư,
mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Trong trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm
chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu tư, kìm
hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống
lạm phát.
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của Ngân hàng Trung ương. Có
thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động của Ngân hàng Trung
ương. Các hoạt động khác của Ngân hàng Trung ương đều nhằm thực thi chính sách tiền tệ
đạt được các mục tiêu của nó.
1.2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ cũng như mọi chính sách kinh tế vĩ mô khác đều có mục tiêu
riêng của nó, đó là mục tiêu: ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định hệ thống tài chính, thị
trường ngoại hối, tăng trưởng kinh tế...
Mỗi quốc gia đều có chính sách tiền tệ riêng, phù hợp với nền kinh tế đặc thù của
mình. Nhưng các chính sách tiền tệ đều hướng vào những mục tiêu chủ yếu giống nhau.
Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn khác nhau và tuỳ điều kiện thực tế của nền kinh tế để lựa
chọn mục tiêu trọng tâm.
* Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ
Các nhà kinh tế học cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản xuất hàng
hoá, đặc biệt là nên sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao (nền kinh tế thị trường).
Tuỳ theo quan điểm và góc độ nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế học đã đưa ra
những khái niệm riêng về lạm phát. Tuy nhiên, nhìn chung có thể hiểu: lạm phát là sự gia
tăng giá cả trung bình của hàng hoá theo thời gian.
Lạm phát tác động đến nền kinh tế - xã hội theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
Khi kiềm chế được lạm phát thì có nguy cơ tăng trưởng kinh tế giảm, dễ đẫn đến
suy thoái và thất nghiệp.
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
6
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Ngược lại, khi mở rộng đầu tư, khắc phục suy thoái kinh tế, tạo việc làm và khuyến
khích tăng trưởng kinh tế thì lại khó kiềm chế được lạm phát.
Rõ ràng công ăn việc làm cao là điều ai cũng mong muốn. Thông qua chính sách
tiền tệ có thể tác động đến công ăn việc làm, tức đến tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế.
Nếu chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì tạo
điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều lao động
hơn, công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp. Ngược lại, cung ứng tiền tệ giảm xuống
sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp và Nhà nước cần ít lao
động hơn, công ăn việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu công ăn việc làm cao không đồng nghĩa với tỷ lệ thất
nghiệp bằng không, mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Bởi lẽ, trong thực tế có một số
người thất nghiệp là có lợi cho nền kinh tế. Đó là khi người lao động quyết định đi tìm một
công việc khác tốt hơn, phù hợp hơn, thì người lao động đó bị thất nghiệp trong thời gian
đang tìm việc làm. Hoặc một số người lao động tự nguyện rời bỏ công việc của mình để
theo đuổi các hoạt động khác như học tập, du lịch… và khi họ quyết định gia nhập trở lại
thị trường lao động, họ phải mất một thời gian để tìm đúng công việc mà họ mong muốn.
Mặt khác, thông thường để có một tỷ lệ công ăn việc làm cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ
lạm phát gia tăng nhất định nào đó. Hai mục tiêu này luôn triệt tiêu nhau trong quá trình
thực thi chính sách tiền tệ.
* Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào. Tuy nhiên thực
hiện mục tiêu này không có nghĩa là chỉ khuyến kích tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện
việc kìm hãm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nếu nền kinh tế phát triển quá nóng. Điều
này có nghĩa là mỗi quốc gia phải xác định một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dự kiến phù hợp
với điều kiện nội tại của nền kinh tế nước đó. Trên cơ sở đó, căn cứ vào tốc độ tăng trưởng
Mối quan hệ giữa các mục tiêu, có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau không tách rời.
Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau
thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì Ngân
hàng Trung ương trong khi thực hiện chính sách tiền tệ cần phải có sự phối hợp với các
chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Chính vì vậy, nghiên cứu chính sách tiền tệ và những công cụ của nó để hướng tới
mục tiêu nào trong nền kinh tế hiện nay là vấn đề cần được quan tâm, chúng ta đã nghiên
cứu chính sách tiền tệ và những mục tiêu chính sách tiền tệ. Vậy hoạt động của các công cụ
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
8
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
chính sách tiền tệ đó như thế nào để dẫn tới những mục tiêu phù hợp với tình hình của mỗi
quốc gia. Ngày nay hoạt động của các công cụ đó như thế nào, thực trạng của việc vận
dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian
qua và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ đó. Chúng ta sẽ nghiên cứu ở
các chương tiếp theo.
1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ
Trên cơ sở dự án chính sách tiền tệ đã được phê chuẩn và điều kiện thực tiễn của
nền kinh tế, Ngân hàng Trung ương sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để điều tiết
lượng tiền cung ứng. Nghĩa là, Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện việc đưa tiền vào lưu
thông là thiếu hụt hay dư thừa. Các công cụ mà Ngân hàng Trung ương thường sử dụng là:
Tái cấp vốn; Dự trữ bắt buộc; Nghiệp vụ thị trường mở; Hạn mức tín dụng; Lãi suất và Tỷ
giá.
1.3.1. Công cụ tái cấp vốn
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ
chức tín dụng. Khi cấp một khoản tín dụng cho tổ chức tín dụng, một mặt, Ngân hàng
Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng, mặt khác tạo cơ sở cho các tổ chức tín dụng tạo
bút tệ cũng như khai thông được năng lực thanh toán cho họ.
Tuỳ từng quốc gia mà công cụ này được áp dụng dưới các hình thức khác nhau. Đối
với các nước có nền kinh tế thì trường phát triển, tái cấp vốn được thực hiện dưới hình thức
Ngược lại, nếu khả năng thanh toán thấp thì giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm tăng khả năng
cho vay của các tổ chức tín dụng (bành trướng khối tiền tệ)
Ưu điểm:
Tác động đầy quyền lực đến lượng tiền cung ứng.
Tạo nên mối quan hệ máy móc giữa tạo tiền do tổ chức tín dụng thực hiện và nhu
cầu tái cấp vốn tại Ngân hàng Trung ương.
Tăng cường quyền lực cho Ngân hàng Trung ương vì tuỳ theo mục đích của chích
sách tiền tệ và tuỳ theo mức vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Trung ương
có quyền điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các tổ chức tín dụng có trách nhiệm thực hiện.
Tôn trọng sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng vì nó áp dụng không phân biệt
mọi tổ chức tín dụng trong toàn hệ thống tài chính.
Đảm bảo khả năng thanh toán cho tổ chức tín dụng, giúp tổ chức tín dụng tránh
được rủi ro do mất khả năng thanh toán.
Nhược điểm:
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
10
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Mặc dù có thể đạt những thay đổi trong cung ứng tiền tệ bằng những thay đổi nhỏ
trong dự trữ bắt buộc nhưng lại khá tốn kém về phí quản lý.
Việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đối với
một tổ chức tín dụng có dự trữ vượt mức thấp.
Việc không ngừng thay đổi dự trữ bắt buộc cũng gây ra tình trạng kém ổn định cho
các tổ chức tín dụng và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản của những tổ chức tín
dụng đó khó khăn hơn.
1.3.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua, bán giấy tờ có
giá chủ yếu là ngắn hạn (Tín phiếu Kho bạc, Tín phiếu Ngân hàng Trung ương, Chứng chỉ
tiền gửi...) trên thị trường tiền tệ, điều hoà cung - cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến
khối dự trữ của các tổ chức tín dụng, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của
các tổ chức tín dụng dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ, cụ thể :
không dùng tiền mặt đã phát triển.
1.3.4. Công cụ hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng được sử dụng khống chế tổng dự nợ tín dụng, qua đó khống chế
tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Do vậy có chế tác động của nó mang tính áp đặt
đối với hệ thống tài chính.
Qua sử dụng hạn mức tín dụng, Ngân hàng Trung ương nhằm điều chỉnh khả năng
tạo tiền của các tổ chức tín dụng phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Tránh tình
trạng tổng khối lượng tiền tăng quá mức trong lưu thông, Ngân hàng Trung ương quy định
hạn mức tín dụng tối đa cho từng tổ chức tín dụng. Trong phần lớn các trường hợp những
hạn mức riêng được xác định căn cứ vào tỷ trọng cho vay của nó trong quá khứ so với tổng
mức cho vay của hệ thống tài chính, tổ chức tín dụng chỉ được cấp tín dụng cho nền kinh tế
tối đa bằng hạn mức tín dụng quy định. Lúc này, Ngân hàng Trung ương phải theo dõi hoạt
động cho vay của các tổ chức tín dụng, nếu tổ chức tín dụng cho vay vượt quá hạn mức tín
dụng quy định sẽ bị xử phạt.
Ưu điểm:
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
12
ĐỀ ÁN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Hạn mức tín dụng là một công cụ trực tiếp điều tiết lượng tiền trong lưu thông. Bằng
việc quy định hạn mức tín dụng, Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát khá chặt chẽ tổng
lượng tiền cung ứng. Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh
toán trong nền kinh tế tăng cao. Khi đó, nó được Ngân hàng Trung ương sử dụng nếu các
công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu quả.
Nhược điểm:
Bên cạnh các ưu điểm, kiểm soát trực tiếp hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế có
một số bất lợi sau :
- Hạn mức tín dụng có thể làm cho lãi suất tăng lên, bởi vì cung về vốn bị giới hạn
không thỏa mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
- Hạn mức tín dụng có xu hướng làm giảm cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng. Bởi
vì, một khi đã cho vay hết hạn mức tín dụng thì tổ chức tín dụng đó không còn muốn huy
vay. Nếu nhằm bảo đảm quyền lợi cho khách hàng của tổ chức tín dụng, thì Ngân hàng
Trung ương thường quy định ngược lạị: mức lãi suất tối thiểu cho tiền gửi và mức tối đa
cho tiền vay. Ngân hàng Trung ương muốn kiểm soát được lãi suất, bời vì lãi suất có tác
động mạnh đến tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động vào tăng trưởng kinh tế và giá cả.
Tuy nhiên, kiểm soát lãi suất của các tổ chức tín dụng sẽ triệt tiêu cạnh tranh trong
quá trình hoạt động của nó. Hiện nay, các nước phát triển đã và đang chuyển sang qúa trình
tự do hoá lãi suất.
Ưu điểm:
Biện pháp này có ưu điểm là giúp các tổ chức tín dụng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu
để cho vay, loại bỏ các dự án kém hiệu quả.
Nhược điểm:
Tuy nhiên quy định khung lãi suất tiền gửi hay quy định lãi suất trần và sàn làm cho
tính linh hoạt của thị trường tiền tệ bị suy giảm, các tổ chức tín dụng bị động trong kinh
doanh, hạn chế đầu tư.
Trong bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự linh động hơn trong việc sử dụng công cụ của
chính sách tiền tệ và đòi hỏi có sự sáng tạo về công cụ tiền tệ để hoàn thành các mục tiêu
kinh tế.
1.3.6. Công cụ tỷ giá
Trịnh Chiêu Minh - BH191527
14