CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG của NHPT - Pdf 23

“CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHPT”
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1. Nhân tố 1 : Mục tiêu và phương thức hoạt động của ngân hàng
1.1. Mục tiêu và phương thức hoạt động của NHPT
1.1.1.Mục tiêu hoạt động của NHPT
NHPT Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, phục vụ phát triển kinh tế
1.1.2. Phương thức hoạt động của NHPT
Ngân hàng sử dụng nguồn vốn đặc biệt cho các mục tiêu ưu đãi làm cho tình hình tài chính của NHPT gặp
nhiều khó khăn khi các nguồn vốn ưu đãi giảm sút.
NHPT phải cho vay các đối tượng ưu đãi, phải chịu đựng rủi ro tín dụng và rủi ro hối đoái lớn.
=>Trong trường hợp như vậy nếu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHPT không chỉ đơn thuần dựa vào
yếu tố lợi nhuận.
* Các hoạt động của NHPT ở một số nước, khu vực
- huy động và tiếp nhận vốn trong và ngoài nước, khu vực.
- Thực hiện chính sách TDĐT: Cho vay đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh TDĐT.
- Ngoài ra các hoạt động của NHPT gồm thực hiện chính cho vay, bảo lãnh, nhận ủy thác nguồn vốn của chính
phủ nước đó trao,cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng , NHPT của mỗi nước đều hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực TDĐT phát triển và TDXK
1.2. Đánh giá ảnh hưởng của mục tiêu và phương thức hoạt động đến hiệu quả hoạt động của NHPT
- NHPT thực thi hiệu quả chính sách TDĐT, TDXK của mỗi nước sẽ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, đẩy mạnh XK nước đó, tạo nhiều việc làm cho người dân trong nước.
- Qua mục tiêu hoạt động của NHPT ta thấy được vai trò to lớn của NHPT nhờ việc huy
động
và tài trợ vốn
cho các dự án phát triển, đặc biệt là các dự án trọng điểm của quốc gia,
NHPT
ngày càng tham gia đắc lực hơn
vào sự nghiệp phát triển kinh tế.
- NHPT mỗi nước không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài
chính trong nước mà còn liên
kết quốc gia đó với thị trường tài chính nước ngoài, hoặc NHPT của 1 khu vực có tác động liên kết tài chính giữa các

khác.
+Ủy thác cho các TCTC, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của VDB
+Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục
vụ các hoạt động của VDB theo quy định của pháp luật.
+Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TDĐT phát triển và TDXK
- Đánh giá ảnh hưởng của mục tiêu và phương thức hoạt động đến hiệu quả hoạt động của VDB
Thực tế nếu xem xét về quy mô lợi nhuận của VDB cùng với một số ngân hàng khác. Năm 2009 VDB thu
được lợi nhuận tuyệt đối là 1112 tỷ chỉ tương đương với ngân hàng Techcombank với 1144 tỷ. Trong khi đó
Techcombank có quy mô vốn điều lệ 5400 tỷ nhỏ hơn gần 2 lần so với con số 10 nghìn tỷ đồng của VDB.
Còn khi so sánh tốc độ tăng trưởng của VDB với một số ngân hàng khác có cùng quy mô như Vietcombank
với 12000 tỷ, Vietinbank với vốn điều lệ trên 12000 tỷ thì mới thấy rõ được sự khác biệt. Năm 2009 tốc độ tăng
trưởng của Vietcombank là 45%, Vietinbank là 24% trong khi đó của VDB xấp xỉ bằng 0%.
=> Rõ ràng là nếu chỉ nhìn lợi nhuận, ROE hay tốc độ tăng trưởng thì VDB hoạt động không hiệu quả bằng so
với ngân hàng quốc doanh khác có cùng quy mô như Vietcombank, Vietinbank, hay các ngân hàng thương mại cổ
phần có quy mô vốn nhỏ hơn như Techcombank, ACB.
Bảng lợi nhuận trước thuế của VDB và một số ngân hàng
2008 2009 tăng trưởng 2009 ROE 2009 Vốn điều lệ
Vietcombank 3324 4823 45% 40% 12000
Vietinbank 2436 3018 24% 25% 12060
ACB 2561 2838 11% 36.8% 7705
Techcombank 1600 2250 41% 41.6% 5400
Eximbank 722 1144 58% 12.7% 8800
VDB 1107 1112 0% 11% 10000
( nguồn : NHNN Việt Nam )
Biểu đồ : LNTT của VDB và 1 số NHTM
2
( nguồn : NHNN Việt Nam )
Biểu đồ : Tăng trưởng LNTT của VDB với một số ngân hàng khác năm 2009
Nhưng chúng ta không thể so sánh như vậy vì điểm mấu chốt ở đây chính là mục tiêu và phương thức hoạt động
của VDB khác so với các ngân hàng kể trên.

Thủy điện Sơn La, cho
vay và đầu tư xây dựng Đường
ô
tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng và xây dựng dự án tuyến đảo Tân Vũ – Lạch Huyện.
Từ năm
2009,
NHPT được giao thêm nhiệm vụ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM và cho
doanh
nghiệp vay vốn để thanh toán tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp thôi
việc.
- Cho vay đầu tư Trong giai đoạn 2006-2008, TDĐT (vốn trong nước) của NHPT đã có bước tăng
trưởng
vượt bậc với mức tăng trưởng dư nợ bình quân 20%/năm . Dư nợ TDĐT vốn trong nước đến
31/03/2009
gấp
hơn 1,5 lần so với thời điểm so với thời điểm NHPT bắt đầu đi vào hoạt động
(01/07/2006).
- Tổng thu nhập của NHPT tăng trung bình 32,5%/năm; cao hơn mức tăng 30%/năm
của
tổng chi phí
trong giai đoạn này nhưng thấp hơn mức tăng thu nhập của giai đoạn
2001-2005
(41,2%/năm).
- Tác động ngày càng nhiều hơn tới tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu; góp
ph

n
nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh
t

lâu năm, cây ăn quả khoảng 46.786 ha
Do mục tiêu và phương thức hoạt động riêng không giống với những NHTM khác đã tạo nên những tính đặc
thù riêng cho hoạt động của NHPT. Nhân tố này cũng ảnh hưởng cả tốt và xấu đến hiệu quả hoạt động của NHPT,
tạo điều kiện tốt cho NHPT thực hiện các mục tiêu của mình, thể hiện ở những hiệu quả kinh tế xã hội mà NHPT tạo
ra được, tuy nhiên hoạt động của VDB còn nhiều mặt hạn chế do một số nguyên nhân từ phía phương thức hoạt động
của VDB như sau:
1. Mô hình hoạt động chưa thực sự hợp lý
- Mô hình của NHPT không rõ ràng là TCTD hay TCTC, khó khăn trong việc thực hiện các quy định của nhà
nước về huy động vốn và đáp ứng các yêu cầu quản lý tín dụng.
- Chưa xây dựng được cơ chế bắt buộc tổ chức này phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong việc huy động
vốn, thẩm định và quyết định cho vay, bảo toàn vốn. Đây là một nguyên nhân hết sức quan trọng ảnh hưởng tới rủi ro tín
dụng và rủi ro thanh khoản của tổ chức này.
4
- Quy định về mối quan hệ của NHPT với Chính phủ và các Bộ ngành chưa thật rõ ràng và chặt chẽ: Mặc dù
lượng vốn TDĐT của Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư toàn xã hội, dư nợ tín dụng chiếm gần 12% tổng dư
nợ của hệ thống tài chính-ngân hàng nhưng các hoạt động này chưa được đặt dưới sự quản lý, giám sát thường xuyên
của NHNN nhằm đảm bảo sự quản lý của Nhà nước về tiền tệ-tín dụng, kiểm soát lạm phát Phần lớn các quy định về
mối quan hệ với các Bộ, ngành chỉ ghi chung chung là “theo quy định của pháp luật” trong khi có nhiều vấn đề pháp luật
chưa có quy định nào về vấn đề này, đặc biệt là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động
TDĐT&TDXK của Nhà nước được triển khai tại NHPT.
2. NHPT chưa được trao quyền chủ động phù hợp
Theo quy định hiện hành, NHPT chỉ được cho vay theo lãi suất do Bộ Tài chính công bố vơi sự điều chỉnh tối đa
2 lần/năm, lãi suất huy động trong khung được Bộ Tài chính công bố hàng tháng; quy định này hạn chế tính chủ động,
linh hoạt của tổ chức này theo tín hiệu thị
trường; việc điều chỉnh lãi suất thường chậm hơn thị trường một khoảng
thời gian khá dài.
Chính những vấn đề này dẫn đến việc cho vay lãi suất quá thấp khi lãi suất thị trường đã lên cao làm
gia tăng áp lực thanh khoản đối với NHPT, tăng cấp bù CLLS từ NSNN; trong khi nguồn lực từ NSNN là hạn chế, từ
đó làm gia tăng rủi ro tài chính cho tổ chức này.
Thẩm quyền xử lý rủi ro của NHPT cũng chỉ giới hạn ở mức gia hạn nợ; Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định việc

đổi cơ cấu thu nhập và cơ cấu kinh tế…
2.2.1. Mục tiêu quốc gia
Dự án phát triển là những dự án lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Dự án phát triển là những dự án lớn cả về quy mô và về vốn đầu tư, công nghệ, cũng như lao động sử dụng.
Bảng : Vốn đầu tư phát triển qua các năm
Nguồn: (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2010)
Bảng : Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển bình quân trong từng thời kỳ
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK
Dự án phát triển nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược cụ thể
như
- công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp và nông thôn, xóa đói giảm nghèo…
- Khuyến khích xuất khẩu: các dự án phát triển xuất khẩu mũi nhọn, xây dựng cơ sở chế biến xuất khẩu, xây
dựng cảng biển…
- Thay thế nhập khẩu: phát triển công nghiệp chế biến, sử dụng tối đa lợi thế của đất nước.
6
- Phát triển nông thôn: xây dựng đê điều, nghiên cứu lai tạo giống mới.
- Sản xuất các ngành liên quan đến an ninh xã hội và quốc gia như viễn thông, điện nguyên tử…
2.2.2 Mục tiêu của ngân hàng
NHPT về căn bản là một tổ chức tín dụng , hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi và có lãi, dựa trên tính chất này
mà ngân hàng được phân biệt với các tổ chức quản lý và hành chính khác. Ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua tài
trợ cho các dự án, có nghĩa là thu từ dự án phải bù đắp chi phí của ngân hàng và có thặng dư thích hợp. Các khoản tài
trợ của ngân hàng tuân thủ nguyên tắc cơ bản của chế độ tín dụng ngân hàng: người vay phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi
sau một thời gian. Để thực hiện được nguyên tắc này, ngân hàng phải tìm kiếm các dự án có hiệu quả kinh tế, quản lý
chặt chẽ việc sử dụng vốn của dự án, có biện pháp phòng ngừa rủi ro …qua đó ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn
cai hiệu quả tài chính của chủ đầu tư.
2.2. Ảnh hưởng của dự án đến hiệu quả hoạt động của NHPT
2.2.1. Mục tiêu của ngân hàng khi tài trợ dự án :
Ngay từ định nghĩa, chúng ta đã biết, NHPT là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài
hạn cho các dự án phát triển. Vì vậy, mục đích của NHPT khi tài trợ dự án đó là tài trợ có hiệu quả cho các dự án phát
triển. Thể hiện :

 Tính sinh lời và rủi ro của dự án phát triển :
Các dự án phát triển thường chứa đựng quá nhiều mục tiêu chính trị xã hội, lấn át hoặc rất khó xác định các
chỉ tiêu sinh lời. Về cơ bản, ngân hàng có trách nhiệm cung cấp các khoản cho vay rủi ro cao. Kết cục phát triển của
công cuộc đầu tư là không chắc chắn, ngành công nghiệp hoặc công nghệ có thể hoàn toàn mới, người vay có cư cấu
tài chính rủi ro và không có bảo lãnh. Những yếu tố này làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
 Tính đa dạng của dự án phát triển :
Nếu ngân hàng tài trợ cho các dự án một cách đa dạng thì có thể đạt được sự kết hợp có hiệu quả giữa doanh
lợi và rủi ro. Ngược lại, khi tài trợ ngân hàng bị giới hạn bởi các lĩnh vực riêng biệt như nông nghiệp, công nghiệp chế
tạo thì rất khó để đạt được hiệu quả trong hoạt động của mình
 Tính phức tạp của dự án :
Các dự án mà ngân hàng tài trợ là các dự án có vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, hay thay đổi so với dự
toán, thời gian vận hành dài, liên quan đến nhiều ngành…dẫn đến việc thẩm định dự án, phân tích tài chính và kiểm tra
trong quá trình sử dụng vốn vay thường rất khó khăn. Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
 Khả năng lựa chọn và quyết định tài trợ cho dự án nào
Rất nhiều các dự án phát triển do các cơ quan Chính phủ, các ngành đưa đến và ngân hàng phải tài trợ. Khả
năng lựa chọn và quyết định của ngân hàng rất nhỏ. Tình trạng này sẽ làm cho bộ máy ngân hàng kém linh hoạt và
nhạy bén.
2.3. Ví dụ liên hệ
2.3.1. Dự án 1
 Tên dự án : Dự án “Phát triển giáo dục Trung học phổ thông”
 Giới thiệu về dự án
* Tổng nguồn vốn (quy đổi ra USD): 80 triệu USD
* Phạm vi ảnh hưởng :22 tỉnh tham gia Dự án
* Thời gian thực hiện: 01/12/2003 – 31/12/2009
* Loại hình tài trợ: vốn vay ADB
* Nhà tài trợ: ADB
* Vai trò mục tiêu
Dự án Phát triển giáo dục trung học phổ thông (THPT) được triển khai theo hiệp định tín dụng kí kết giữa
chính phủ Việt Nam và ngân hàng phát triển châu Á (ADB) nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam thông qua
việc phát triển và cải thiện giáo dục THPT.

3.1. Các chính sách của NN đối với NHPT
Ví dụ như VN:
1. Nghị định số 151/NĐ-CP ngày 20/12/2006 về Tín dụng đầu tư phát triển và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
2. Nghị định 106/2008/NĐ-CP ngày 19/09/2008 về Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 151/2006/NĐ-
CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
3. Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày 25/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định
số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
4. Thông tư số 16/2009/TT-BTC ngày 22/01/2009 hướng dẫn sửa đổi Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày
25/6/2007 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP hiệu lực ngày 24/02/2009.
5. Thông tư số 105/2007/TT-BTC ngày 30/8/2007 hướng dẫn xử lý rủi ro Tín dụng đầu tư và tín dụng xuất
khẩu của Nhà nước.
6. Thông tư số 05/2009/TT-NHNN ngày 7/4/2009 quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất đối với các
tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất - kinh doanh.
9
7. Quyết định số 17/QĐ-HĐQL ngày 17/3/2008 của HĐQL NHPT ban hành kèm theo Quy chế xử lý rủi ro
vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
8. QĐ số 653/QĐ-NHPT ngày 22/09/2008 về việc ban hành Sổ tay nghiệp vụ cho vay đầu tư.
9. Công văn số 1096/ NHPT-TDĐT ngày 21/4/2009 về việc hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với
các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước.
3.2. Ý nghĩa các chính sách của NN đối với NHPT
Các ngân hàng phát triển thành công đều dựa trong việc phát triển mối quan hệ giữa chính phủ và ngân hàng.
Sao cho đảm bảo là chính phủ có hỗ trợ cho ngân hàng.đồng thời các quyết định cho vay của ngân hàng đều dựa trên
tính hiệu quả tài chính của dự án.
Các điều kiện tồn tại ngân hàng phát triển cho thấy môi trường kinh tế phù hợp với hoạt động của ngân hàng
là sự lãnh đạo và can thiệp của nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế. Nhiều nước có luật về NHPT và các quy định
riêng cho ngân hàng ngày , trở thành khung pháp lý để điều chỉnh và kiểm soát hoạt động của ngân hàng
3.3. Tác động của các chính sách của NN tới hiệu quả hoạt động của NHPT
3.3.1. Tác động tích cực
Nhà nước thường hỗ trợ trực tiếp cho ngân hàng ( cấp cho nguồn vốn ưu đãi,cấp bù lãi suất bảo lãnh cho các
khoản đi vay và cho vay … ) Sự hỗ trợ này rất quan trọng , cho phép ngân hàng thực hiện được các mục tiêu kinh tế và

- Một nguồn vốn khác chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nguồn của VDB là quản lý vốn ODA và các quỹ
quay vòng của Chính phủ với con số khoảng 9,5 tỷ USD.
- Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, nếu bị thiếu vốn thì VDB huy động từ dân cư, tổ chức kinh tế, tổ chức tín
dụng, nhà nước cấp bù lãi suất sau.
- Khi cho vay thì VDB cũng không phải vất vả tìm dự án tốt để giải ngân như mọi ngân hàng khác. Vì VDB
thực hiện cơ chế cho vay theo chỉ đạo của nhà nước, dự án ở đâu, VDB cho vay ở đó.
- Nếu được vay vốn của VDB, đối tượng thụ hưởng sẽ được hưởng mức lãi suất rất thấp. Theo cơ chế hiện
hành, VDB đang áp dụng mức lãi suất cho vay trung dài hạn, cho vay lại từ nguồn vốn ODA, cho vay ngắn hạn, tín
dụng xuất khẩu đều cùng một mức 11,4%/năm. Tất nhiên, mức lãi suất này chỉ áp dụng cho các dự án của doanh
nghiệp nhà nước
2. Để hỗ trợ cho các DNNVV(doanh nghiệp nhỏ và vừa) không có tài sản thế chấp, Chính phủ đã cho
phép VDB bảo lãnh cho các DN vay vốn.
- Trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam suy giảm, các doanh nghiệp trong nước, nhất
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh đình trệ, thậm chí nhiều
doanh nghiệp đã phải cắt giảm lao động.
Dự báo đến cuối năm tổng số lao động mất việc sẽ lên tới 300.000 - 400.000 người. Số này tập trung ở nhóm
các DNNVV trong các lĩnh vực may mặc, điện tử, chế biến gỗ những đơn vị sử dụng nhiều lao động nhưng lại
không chủ động, không có những đơn hàng ổn định.
Thống kê từ Hiệp hội DNNVV, trong tổng số 20% DNNVV đứng bên bờ vực phá sản đã có tới 7.000 DN công
bố giải thế và hơn 3.000 DN khác phải ngừng sản xuất. Ngoài ra, tính trung bình chung cho cả khối DNNVV, mức suy
giảm lên tới 30 - 50% so với trước đây.
 Để ngăn chặn đà suy giảm, Chính phủ và Nhà Nước đã ban hành Quyết định 14 cho phép Ngân hàng Phát
triển Việt Nam (VDB) bảo lãnh để các DNNVV có thể vay vốn ngân hàng, mở rộng sản xuất kinh doanh, kích cầu đầu
tư và tiêu dùng, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế.
*) Tác động của chính sách:
- Theo đó, đối tượng được VDB bảo lãnh vay vốn cũng được mở rộng, không chỉ có 350.000 DNNVV mà
những DN có quy mô lớn hơn cũng có thể được bảo lãnh vay vốn.
- Theo thống kê của VDB, tính đến nay đã có hơn 20 ngân hàng ký thỏa thuận hợp tác về cấp vốn và bảo lãnh
vay vốn với ngân hàng này.
11

• Môi trường : Sự ổn định xã hội,chính trị nơi các NHPT có các DAPT đang được thực hiện.
• Thể chế: được hiểu là “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”. Còn
theo *Ngân hàng Thế giới (2002) định nghĩa thể chế là “những quy định và tổ chức, bao gồm cả chính thức lẫn không
chính thức, điều phối hoạt động của con người.”
4.2. Tác động của các nhân tố xã hội đến hiệu quả hoạt động của NHPT
4.2.1. Tác động tích cực
12
• Với các điều luật rõ ràng, thủ tuc đơn giản sẽ giúp NHPT hoạt động dễ dàng hơn, có thể tiết kiệm được thời
gian, chi phí đi lại, đầu tư nhiều hơn vào mục tiêu chính là dự án
• NHPT hoạt động vì mục tiêu xã hội, thì sẽ có nhiều cơ hội thu hút đuợc các nguồn vốn nước ngoài,các tổ chức
phi chính phủ,các nguồn quỹ có mục đích công cộng,có nhiều ưu đãi hơn so với các ngân hàng khác, từ đó sẽ dễ dàng
hơn trong việc chi hay trả nợ,dự án tiến hành thuận lợi hơn, giúp tăng hiệu quả của ngân hàng lên
• Nhân tố xã hội thuộc ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả và sự thành công của dự án phát triển mà NHPT tài trợ,
từ đo ảnh hưởng tích cực đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà NHPT đặt ra tức là cũng ảnh hưởng tích cực đến
hiệu quả hoạt động của NHPT như
+ Nhân tố xã hội như yếu tố môi trường, khi được cải thiện chất lượng sẽ là nền tảng tốt cho NHPT có càng
nhiều các DAPT có tính khả thi cao hơn
+ Công nghệ cao sẽ ít cần tới lao động thủ công, hoạt động có năng suất hơn, dự án hoạt động có chất lượng hơn
+ yếu tố con người, con người luôn luôn là nhân tố quyết định hàng đầu đến sự thành công của mọi hoạt động
trong nền kinh tế xã hội . Con người có trình độ chuyên môn, có năng lực nghiệp vụ, có khả năng phát huy sáng tạo là
nhân tố tất yếu không thể thiếu trong sự thành công của bất kỳ hoạt động nào. DAPT chỉ có thể thành công khi có thể
thỏa mãn điều kiện trên. Bên cạnh đó, nếu có thể tranh thủ được nguồn nhân lực trẻ, năng động, tay nghề cao nhưng
chi phí nhân công trung bình ( chi phí nhân công ở VN thường được đánh giá là thấp so với với các nước khác ) thì
cũng là điều kiện tốt cho DA hoạt động hiệu quả.
+ Yếu tố về chất lượng các dịch vụ an sinh xã hội, y tế, giáo dục : Các dịch vu y tế tốt, giáo dục tốt, sẽ tạo một
môi trường lành mạnh,cung cấp nguồn lao động trí thức, có tay nghê, có kinh nghiệm, lãnh đạo tốt
+ các vấn đề về môi trường hoạt động, môi trường kinh tế xã hội ví dụ như sự trợ giúp của cơ quan chính quyển
địa phương, sự hỗ trợ của nhân dân các cấp, sự tạo điều kiện thuận lợi cho DAPT được tiến hành và đi vào vận hành
hiệu quả … tất cả tạo nên sự thành công cho dự án phát triển mà sự hiệu quả của dự án phát triển cũng đánh giá được
hiệu quả hoạt động của NHPT.

Trong quá trình triển khai dụ án xây dựng cầu Nhật Tân tại phường Phú¬ Thượng, quận Tây Hồ, Tp Hà Nội,
các cơ quan hữu quan: Bộ GTVT, PMU85, UBND thành phố Hà Nội…chưa thực hiện đúng luật đất đai 2003, Nghị
định 69/NĐ-CP của Chính phủ, các thông tư hướng dẫn công tác, GPMB và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công
văn số 128/TTg-CN, thậm chí có nhiều dấu hiệu sai phạm so với quy định, hướng dẫn tại các văn bản trên dẫn đến bất
bình lớn, không đồng thuận trong dân, cụ thể:
a. Không Lấy ý kiến nhân dân:
• Trong quá trình khảo sát, thiết kế thẩm định lựa chọn giải pháp kỹ thuật và phương án thiết kế để trinh Thủ
tướng, Bộ GTVT và UBND thành phố Hà Nội không lấy ý kiến người dấn sống trong khu vực bị ảnh hưởng trực
tiếp .Công văn số 617/BQL-DANT của ban quản lý dự án 85 báo cáo lấy ý kiến của nhân dân ngày 06 và 07 tháng
08/2005 thực chất là lấy ý kiến nhân dân phường Phú Thượng về xây dựng cầu Nhật Tân, lúc đó chưa có dự án đảo cỏ
(hơn 2 năm sau mới vẽ thêm dự án đảo cỏ)
b. Tự ý điều chỉnh thiết kế và phạm vi giải phóng mặt bằng:
• Trong các văn bản 650/QĐ-BGTVT và 814/QĐ-BGTVT của Bộ GTVT đã khẳng định việc xây dựng cầu và
hai đường đầu cầu, trong đó đường dẫn phía Nam cầu chính là đường vành đai II của thành phố Hà Nội (đã có trong
bản đồ quy hoạch chi tiết thành phố Hà Nội đến năm 2010), bắt đàu tại khu vực Phú Thượng, quận Tây Hồ, sau đó
chạy song song cách đường Lạc Long Quân khoảng 420m (về phí Tây). Điều đó cho thấy, phương án thiết kế Cầu
Nhật Tân được Thủ tướng Chính phủ và BGTVT phê duyệt tại thời điểm ban hành các quyết đinh nêu trên đúng với
quy hoạch chi tiết của Thủ đô Hà nội đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên trong quá trình triển
khai, không hiểu lý do gì, PMU85 lại trình phương án điều chỉnh thiết kế, phát sinh thêm đường dẫn phụ (vòng cung)
lên cầu, đắp cao từ 4 đến 8m, nối từ An Dương Vương lên cầu cắt ngang qua khu dân cư đông đúc (với vài trăm hộ
dân), tạo thành một ngã ba cách ngã ba Lạc Long Quân – Âu Cơ khoảng 70m, như vậy chỉ giới đường đỏ, cách đường
Lạc Long Quân từ 420m xuống còn 70m, trong lòng con đê tạo thành lòng chảo để trồng cỏ và cây cảnh (đảo cỏ),
Phương án vô lý này được BGTVT chấp thuận tại văn bản số¬ 7648/BGTVT-CGĐ ngày 27/11/2007 và UBND
thành phố Hà Nội chấp thuận tại văn bản số 19/UBND-XDĐT ngày 03/01/2008. Việc này của Bộ GTVT và UBND
thành phố Hà Nội cũng không lấy ý kiến của Nhân dân trong khu vực chịu ảnh hưởng.
14
Phương án điều chỉnh thiết kế của PMU85 với việc phát sinh đường¬ dẫn phụ lên cầu Nhật Tân tại 3 tổ dân
phố 47B-C-D phải xem xét lại vì không hợp lý, gây lãng phí lớn và gây bất bình cao trong nhân dân, vì làm bội chi
thêm Ngân Sách nhà nước vài ngàn tỷ đồng cho công tác giải phóng mặt bằng khu vực 3 tổ dân phố 47B-C-D, ảnh
hưởng nghiêm trong đời sống của hàng ngàn người trong lúc nhà nước và nhân dân đều khó khăn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status