Lời nói đầu
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc hiện nay, Đảng và
Nhà nớc ta luôn coi trọng vai trò con ngời, không ngừng cải thiện nâng cao đời
sống vật chất cũng nh tinh thần của nhân dân là mục đích hàng đầu của chế độ xã
hội chủ nghĩa ta. Phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là
một tất yếu khách quan đợc Đảng và Nhà nớc ta khẳng định trong các kì đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 6, 7, 8, 9 đã và đang có nhiều ảnh hởng tích cực đối với
nền kinh tế nớc ta. Sau hơn mời năm đổi mới, dới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng,
nhân dân ta đã gặt hái đợc nhiều thành công to lớn trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là
trong nền kinh tế xã hội. Vì thế nền kinh tế nớc ta đang dần khởi sắc và phát triển
một cách vững chắc, về cơ bản chúng ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo
dài, nền kinh tế có những bớc tăng trởng nhảy vọt qua các năm, điều kiện sống của
nhân dân không ngừng đợc cải thiện và nâng cao. Đất nớc đang trong thời kỳ đổi
mới nên cùng với sự biến chuyển không ngừng về mọi mặt từ KTXh đến chính trị
ngoại giao nền kinh tế mở theo hớng đa phơng hoá - đa dạng hoá đã và đang tạo
điều kiện tốt nhất cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh
bảo hiểm nói riêng nhiều cơ hội mới. Trong xu thế phát triển này, ngành bảo hiểm
cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngày càng có nhiều nghiệp vụ mới ra đời, BHNT là một ví dụ điển hình. Nghiệp
vụ BHNT mang tính đặc thù cao, có sức hấp dẫn riêng và có sự khác biệt so với
các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Nghiệp vụ BHNT bao gồm nhiều loại hình khác
nhau nh: BHNT có thời hạn 5-10 năm, An sinh giáo dục... Sau một thời gian lựa
chọn đề tài viết chuyên đề mặc dù đề tài còn nhiều khúc mắc và số liệu thực tế cha
nhiều nhng cùng với sự động viên của cô giáo hớng dẫn và sự giúp đỡ nhiệt tình
của Công ty BVNT Hà Nội em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài với nội dung: An
sinh giáo dục: Thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở công
ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội Sở dĩ em chọn đề tài trên cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình là vì những lý do sau:
- Mặc dù BHNT ra đời rất sớm trên thế giới (năm 1583, ở Anh) và khônh
ngừng phát triển ở khắp nơi, nhng lại đợc triển khai rất muộn ở Việt nam. Vì vậy,
nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm các nớc trên thế giới để áp dụng vào thực tế triển
2
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của cô giáo cùng sự giúp đỡ
của phòng Quản lý hợp đồng BVNT Hà Nội đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu tài
liệu, báo chí giúp em hoàn thành bản chuyên đề tốt nghiệp của mình.
3
Chơng I
KHáI QUáT về bảo hiểm nhân thọ và sản phẩm an sinh
giáo dục
I. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ
1. Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ (BHNT)
Bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông với một số ít trong số họ
phải gánh chịu những rủi ro. Có thể nói nguyên tắc này lần đầu tiên đợc ghi vào
lịch sử là năm 1583, ở thị trờng Luân đôn một nhóm ngời đã thoả thuận góp tiền
và số tiền này sẽ đợc trả cho ngời nào trong số họ bị chết trong 1 năm. Đây cũng
là mầm mống của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT).
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng nh trong hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhng con ngời vẫn có nguy cơ
gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro do nhiều nguyên nhân, ví dụ nh:
- Các rủi ro do môi trờng thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, hạn hán...
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật. Khoa
học kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho
cuộc sống con ngời nhng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ nh tai nạn
ôtô, hàng không , tai nạn lao động...
- Các rủi ro do môi trờng xã hội. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
gây ra rủi ro cho con ngời, khi xã hội càng phát triển thì con ngời càng có nguy cơ
gặp nhiều rủi ro nh thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát...
Bất kể là do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thờng đem lại cho con ngời
những khó khăn trong cuộc sống nh nguy hại đến bản thân, hao tổn tài chính gia
đình... làm ảnh hởng đến đời sống kinh tế xã hội. Để đối phó với những rủi ro con
ngời đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng nh khắc phục những
phải ngừng làm việc do tử vong hoặc thơng tật toàn bộ vĩnh viễn.
Trong điều kiện kinh tế Việt nam, trải qua hơn 10 năm thực hiện đờng lối
đổi mới dới sự lãnh đạo của Đảng, đất nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng
phấn khởi và có ý nghĩa rất quan trọng. Đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài,
tạo ra đợc những cơ sở vật chất thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất nớc, cho
5
phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội văn minh".
Cùng với tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm từ 8 đến 9% và tốc độ tiêu
dùng thấp hơn tốc độ tăng trởng kinh tế thì tiết kiệm trong dân sẽ không ngừng
tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với GDP. Đa số với ngời dân, ngoài khả năng
gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng thì thờng rất ít khả năng để đầu t những khoản
tiền nhàn rỗi. Nh vậy cùng với việc tăng nhanh số lợng và tỷ lệ tiết kiệm trong
dân, nhà nớc cần phải có giải pháp, chính sách và công cụ để huy động mạnh
nguồn vốn trong dân cho đầu t phát triển.
BHNT từ khi ra đời và triển khai các nghiệp vụ BHNT hỗn hợp mang tính
chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm đã và đang huy động đợc một lợng vốn không
nhỏ trong dân. Tuy bớc đầu, lợng ngời tham gia bảo hiểm cha lớn, số hợp đồng
tham gia ở mức trách nhiệm cao cũng cha nhiều, nhng đã mở ra thêm cho ngời dân
một cách thức tiết kiệm mới đồng thời góp phần vào phát triển nguồn vốn, tăng
đầu t cho đất nớc.
2. Vai trò và vị trí của BHNT
2.1. Vai trò của BHNT
Để đánh giá đợc đầy đủ ý nghĩa và vai trò của BHNT, trớc hết chúng ta cần
hiểu rõ khái niệm về BHNT:
Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa ngời bảo hiểm và ngời tham gia bảo
hiểm, mà trong đó ngời bảo hiểm sẽ trả cho ngời tham gia (hoặc ngời thụ hởng
quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trớc xảy ra
(ngời đợc bảo hiềm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định) còn ngời
tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá
khi tham gia BHNT mà ngày nay ngời ta ngày càng quan tâm đến BHNT, từ đó
mà lợng vốn đợc huy động từ dân chúng đợc tăng lên. Việt Nam đang trong thời
kỳ đổi mới Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc để phục vụ cho sự phát triển
kinh tế phảI có một lợng vốn đầu t rất lớn. Chính vì nhận thức đợc tầm quan trọng
của BHNT nên tuy mới ra đời đợc 5 năm nhng Nhà nớc ta đã liên tục có những
chính sách để tạo điều kiện cho BHNTngày một phát triển mà bớc tiến quan trọng
là sự cho phép các công ty BHNT nớc ngoài tham gia vào thị trờng BHNT Việt
Nam và sự ra đời của Luật Bảo hiểm ngày 7/12/2000. Đây là một trong các biện
pháp của Nhà nớc nhằm tạo ra các nguồn vốn dồi dào cho đầu t phát triển Đất nớc
7
với chủ trơng là chủ yếu dựa vào nguồn nội lực và tranh thủ nguồn ngoại lực,
chúng ta có quyền hy vọng thông qua BHNT có thể trong thời gian tới dần dần sẽ
thu hút đợc nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c vì lợng tiền này đợc dự kiến sẽ lên tới
hơn 10 tỷ (đợc dự trữ dới dạng ngoại tệ cũng nh vàng). Ngoài ra, khi các công ty
BHNT nớc ngoài tham gia vào thị trờng BH Việt Nam nguồn vốn do họ đầu t vào
cũng sẽ rất lớn. Thêm vào đó, do đặc điểm của BHNT là mang tính dài hạn, nguồn
vốn huy động đợc có thể đem đầu t trong một thời gian dài đây là đựoc coi là
nguồn vốn tuyệt vời nhất cho các dự án kinh tế lớn.
Thứ t: BHNT tạo ra một số lợng lớn công ăn việc làm cho ngời lao động.
Với dân số gần 80 triệu lại là dân số trẻ, hàng năm riêng số lợng sinh viên
ra trờng cũng là cả một thách thức đối với xã hội, việc làm luôn là vấn đề nóng
bỏng khi mà lợng ngời không có việc làm ngày càng nhiều và trong đó ngoài
những ngời không có trình độ thì cũng có rất nhiều ngời có trình độ không đợc sử
dụng đúng mục đích. Hoạt động BHNT cần một mạng lới rất lớn các đại lý khai
thác bảo hiểm, đội ngũ nhân viên tin học, tài chính, kế toán, quản lý kinh tế... Vì
vậy, phát triển BHNT đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm bớt số lợng
ngời thất nghiệp, bớt đi gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc. Cứ nói riêng ở công ty
BHNT Hà Nội, với số lợng cán bộ khai thác ở mỗi phòng lên đến trên dới 50 ngời,
riêng nội thành đã có 16 phòng khai thác, đa số đấy đều là các cán bộ chuyên
nghiệp cha kể đến các đại lý bán chuyên nghiệp rải rác ở từng quận huyện, ngoài
số đông và một vài ngời trong số họ chẳng may gặp phải rủi ro. Bảo hiểm ra đời là
một biện pháp hữu hiệu để xử lý các rủi ro tồn tại khách quan. Tham gia bảo hiểm
đang ngày càng trở thành một tác nghiệp không thể thiếu đợc đối với các chủ
doanh nghiệp, một thói quen tốt trong dân chúng.
Ban đầu bảo hiểm chỉ dừng lại ở một số hình thúc nh bảo hiểm hoả hoạn,
bảo hiểm hàng hải.. Đến nay, bảo hiểm đã phát triển rất mạnh mẽ với những loại
hình bảo hiểm hết sức phong phú và đa dạng. Một trong các loại hình bảo hiểm ra
đời khá lâu là BHNT với lịch sử phát triển 400 năm, nó đang ngày càng chứng tỏ
vị thế của mình trong thị trờng bảo hiểm nói chung.
2.2.2 BHNT ngày càng lớn mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng
không thể thiếu đợc trên thị trờng BH
Thực tế cho thấy tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới không
ngừng tăng và chiếm tỉ lệ lớn doanh thu trong tổng doanh thu của các nghiệp vụ
9
BH. Tuy nhiên tốc độ phát triển của BHNT rất không đồng đều. Nếu nh ở châu
Mỹ Latinh phí BH từ hoạt động kinh doanh BHNT rất thấp, chỉ chiếm khoảng
21,4% thì ở châu âu phí BHNT đạt tỉ lệ cân đối trong khoảng từ 41,8% - 49,3%
còn tỉ lệ phí BHNT ở châu Đại đơng chiếm 52,3% trong toàn bộ doanh thu phí
nghiệp vụ BH.
Tóm lại, dù đứng trên giác độ khách quan hay chủ quan chúng ta cũng phải
thừa nhận rằng BHNT vẫn ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của
mình trong thị trờng BH nói riêng và trong nền kinh tế của các quốc gia, nền kinh
tế thế giới nói chung.
3. Những đặc điểm cơ bản của BHNT
3.1. BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BH phi
nhân thọ, tham gia BHNT ngời mua có trách nhiệm nộp phí BH cho ngời BH theo
định kỳ đồng thời ngời bảo hiểm cũng có trách nhiệm trả một số tiền lớn (STBH)
cho ngời hởng quyền lợi bảo hiểm nh đã thoả thuận khi có các sự kiện bảo hiểm
xảy ra. Số tiền bảo hiểm này trả khi ngời đợc bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất
gia và từ các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm. Mỗi sản phẩm của công ty
thiết kế ra là để phù hợp với từng đối tợng tham gia khác nhau, cho nên bất cứ ai
cũng có thể tham gia bảo hiểm và có đợc sản phẩm phù hợp với mục đích của bản
thân khi tham gia bảo hiểm.
3.4. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình
định phí khá phức tạp
Để đa đợc sản phẩm BHNT đến với ngời tiêu dùng, ngời BH đã phải bỏ ra
rất nhiều chi phí để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí khai thác, chi phí quản lý
hợp đồng... Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên phí
BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:
+ Độ tuổi của ngời tham gia bảo hiểm
+ Tuổi thọ bình quân của con ngời
+ Số tiền bảo hiểm
+ Thời hạn tham gia bảo hiểm
+ Phơng thức thanh toán
+ Lãi suất đầu t
+ Tỉ lệ lạm phát, thiểu phát của đồng tiền
11
......
Đối với sản phẩm BHNT, để định giá phí BHNT thì phải dựa trên từng vùng
địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nớc
khác nhau là khác nhau. Hơn nữa còn phải nắm vững đặc trng cơ bản của từng
loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiều hớng phát triển chung của
mỗi loại sản phẩm trên thị trờng...
3.5. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất
định
Trên thế giới, BHNT đã ra đời hàng trăm năm nay nhng cũng có những
quốc gia cha triển khai đợc BHNT mặc dù ngời ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của
nó. Nguyên nhân của hiện tợng này đợc các nhà kinh tế giải thích rằng, cơ sở chủ
yếu để BHNT ra đời và phát triển là phải có những điều kiện kinh tế xã hội nhất
triển không ngừng của khoa học kỹ thuật nên bảo hiểm đã có điều kiện phát triển
trên phạm vi rộng lớn. Hợp đồng BHNT đầu tiên ra đời ở Philadenphia (Mỹ). Công
ty đó đến nay vẫn còn hoạt động nhng ban đầu nó chỉ bán bảo hiểm cho các con
chiên ở nhà thờ của mình. Năm 1762, công ty BHNT Equitable ở Anh đợc thành lập
và bán BHNT cho mọi ngời dân.
ở Châu á, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty bảo
hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và
Nippon ra đời và phát triển cho đến nay.
4.2. Tại Việt Nam
ở nớc ta, Công ty Bảo hiểm Việt Nam trớc đây và Tổng công ty Bảo Hiểm
Việt Nam hiện nay (gọi tắt là BAOVIET) là doanh nghiệp Bảo hiểm đầu tiên của
Nhà nớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, BAOVIET đã ra đời ngày 17/12/1964 và bắt
đầu hoạt động chính thức từ ngày 15/01/1965. Kể từ đó cho tới trớc năm 1993, ở
nớc ta chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam
(BAOVIET) trực thuộc Bộ Tài chính Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà n-
ớc ta đã thực hiện công cuộc đổi mới về kinh tế, từng bớc đa nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, tạo ra
tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế mới, đẩy mạnh công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ : Khuyến khích phát triển,
đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bảo hiểm cuả các thành phần kinh tế và mở cửa
13
hợp tác với nớc ngoài.... Đờng lối đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần theo cơ chế thi trờng với định hớng xã hội chủ nghĩa đã thể hiện trong
lĩnh vực bảo hiểm thơng mại, cụ thể là ngày 18/12/1993 Chính phủ nớc Cộng hoà
XHCN Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Đây là
văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên đặt nền móng cho pháp luật về bảo hiểm
trong điều kiện kinh tế thị trờng. Nghị định này là bớc ngoặt quan trọng tuyên bố
chấm dứt sự độc quyền Nhà nớc về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Theo nghị
định này các doanh nghiệp bảo hiểm có thể là doanh nghiệp nhà nớc, doanh
năm.
Cho đến 1/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm chính thức phát huy hiệu lực
tạo ra hành lang pháp lý đồng thời góp phần khẳng định vị trí của ngành kinh
doanh bảo hiểm trong xã hội Việt Nam.
II. Các loại hình BHNT
Nh trên đã nêu, BHNT là loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa kinh tế - xã hội
sâu sắc. Trong đó, ngời tham gia bảo hiểm sẽ định kì đóng những khoản phí trong
một thời gian thoả thuận trớc vào một quỹ lớn do công ty bảo hiểm quản lí và
công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền nh đã thoả thuận trong hợp
đồng khi kết thúc thời hạn bảo hiểm hoặc khi có sự kiện rủi ro xảy ra cho ngời đợc
bảo hiểm. Do đó BHNT đợc hiểu nh một sự đảm bảo, một hình thức tiết kiệm và
mang tính chất tơng hỗ. BHNT trên một phơng diện nào đó còn mang tính chất bổ
sung cho bảo hiểm xã hội (BHXH) khi đời sống của nhân dân đọc nâng cao mà
chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) cha đáp ứng hết đợc.
BHNT đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau của con ngời tuỳ theo
mục đích của ngời tham gia là gì. Trong thực tế để phân loại bảo hiểm ngời ta chia
ra các hình thức cơ bản sau:
1. Phân loại theo rủi ro bảo hiểm
Có 3 loại hình BHNT cơ bản, sản phẩm của các công ty bảo hiểm đều xuất
phát từ 3 loại này.
1.1. Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong
Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và đợc chia làm 2 nhóm:
1.1.1 Bảo hiểm tử kỳ
15
Còn gọi là BH tạm thời hay BH sinh mạng có thời hạn. Đây là loại hình BH
đợc kỳ kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của hợp đồng.
Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì ngời đợc BH không nhận đợc bất
kỳ một khoản tiền nào. Điều đó cũng có nghĩa là ngời BH không phải thanh toán
số tiền BH cho ngời đợc BH. Ngựoc lại, nếu có cái chết xảy ra trong thời hạn có
hiệu lực của hợp đồng, ngời BH có trách nhiệm thanh toán số tiền BH cho ngời thụ
+ BHNT trọn đời đóng phí một lần
+ BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí
Đặc điểm:
- STBH trả một lần khi ngời đợc bảo hiểm bị chết
- Thời hạn BH không xác định
- Phí BH có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt
quá trình bảo hiểm
- Phí BH cao hơn so với sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc chắn xảy ra
nên STBH chắc chắn phải chi trả
Mục đích:
- Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình
- 0iữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau
1.2. Bảo hiểm trong trờng hợp sống (sinh kỳ)
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là ngời bảo hiểm cam kết chi trả
những khoản tiền đều đặn trong một khoản thời gian xác định hoặc trong suốt
cuộc đời ngời tham gia bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc ngày đến hạn
thanh toán thì sẽ không đợc chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.
Đặc điểm:
- Trợ cấp định kỳ cho ngời đợc bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc cho
đến khi chết.
- Phí bảo hiểm đóng một lần
- Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian không xác định.
Mục đích:
- Đảm bảo thu nhập cố định khi về hu hay khi tuổi cao sức yếu.
- Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi tuổi già.
- Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
17
1.3. BHNT hỗn hợp
BHNT hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, số tiền bảo hiểm sẽ
đợc trả khi ngời đợc bảo hiểm bị chết hoặc sống đến đáo hạn hợp đồng và thời hạn
động.
3. Phân loại theo thời hạn hợp đồng
Trong bảo hiểm con ngời thì BHNT đợc sử dụng để chỉ loại hình bảo hiểm
con ngời có tính chất dài hạn (trên 1 năm), trong BHNT có 3 loại hình cơ bản nh
đã nêu ở phần 1. Bên cạnh đó còn có những sản phẩm đi kèm cho sản phẩm chính
đó là sản phẩm bổ xung, có những sản phẩm có thời hạn chỉ 1 năm, hết 1 năm lại
tái tục hợp đồng ví dụ nh: Trợ cấp nằm viện, chi phí phẫu thuật, bảo hiểm thơng
tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn...
III. Chơng trình An Sinh Giáo Dục trong BHNT
1. Bảo hiểm cho trẻ em trên thế giới
Trên thế giới bảo hiểm cho trẻ em xuất phát từ những nhu cầu thực tế là cha
mẹ muốn đảm bảo cho con cái về mặt tài chính khi có rủi ro về thu nhập xảy ra
với bản thân họ. Việc thanh toán học phí có thể thực hiện trong khi bố mẹ đang có
thu nhập đủ để trả cho các chi phí này. Khó khăn phát sinh nếu khoản thu nhập
chính bị đánh mất hoặc bị giảm do cha hoặc mẹ bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn
hoặc chết. Có nhiều cách để cha mẹ có thể đảm bảo thanh toán học phí ngay cảc
trong trờng hợp họ chết sớm. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thể thu xếp đợc điều
đó, số tiền bảo hiểm đợc thanh toán nhiều lần hoặc một lần. Đơn bảo hiểm dựa
trên sinh mạng của cha mẹ chứ không đợc ký do khả năng tự bảo vệ của trẻ em là
rất ít.
Tuy đợc ký do cha mẹ nhng cha mẹ không có quyền lợi bảo hiểm đối với
sinh mạng con cái họ. Bất cứ bảo hiểm nhân thọ nào vì lợi ích trẻ em đều hoàn phí
trong trờng hợp chết sớm xảy ra. Đây đợc gọi là bảo hiểm trả chậm, bảo hiểm của
trẻ em thờng đợc ký kết đựa vào cuộc sống của bố mẹ chúng và cho phép đứa trẻ
lựa chọn khi đứa trẻ đạt độ tuổi xác định trớc (ví dụ ở tuổi 18).
Nếu cha mẹ chết trớc khi con cái đến tuổi trởng thành, hợp đồng bảo hiểm
vẫn tiếp tục mà không phải đóng thêm phí cho đến ngày hợp đồng đáo hạn. Vào
ngày kỷ niệm hợp đồng trớc ngày sinh nhật lần thứ 18 sẽ có nhiều sự lựa xhọn
khác nhau cho đứa trẻ. Những dsự lựa xhọn này bao gồm việc thanh toán ngay
toàn bộ số tiền hoặc đơn bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực trên cơ sở bảo hiểm nhân
trả cho ngời đợc bảo hiểm một khoản lãi trích từ kết quả kinh doanh tại nghiệp vụ
này vào ngày kết thúc hợp đồng đợc gọi là bảo tức.
20
- Trong thời hạn bảo hiểm khi hợp đồng có hiệu lực từ 2 năm trở lên, ngời
tham gia bảo hiểm có thể huỷ bỏ hợp đồng và nhận đợc một số tiền gọi là giá trị
giải ớc.
Từ lúc Bảo Việt nhân thọ bắt đầu triển khai sản phẩm thì một trong hai sản
phẩm đầu tiên đợc Bảo Việt sử dụng có một sản phẩm dành riêng cho đối tợng trẻ
em. Điều này cũng dựa trên phận nào phong tục tập quán của ngời dân Việt Nam
là trẻ em bao giờ cũng là đợc u ái nhất trong gia đình cũng nh trong xã hội, gia
đình luôn giành cho con cái những gì quý giá nhất cũng nh mong muốn con em
mình có một nền tảng vững chắc sau này. Sản phẩm An sinh giáo dục ra đời đã
đáp ứng đợc mong muốn đó, cha mẹ, ông bà vừa đợc thể hiện tình thơng yêu đối
với con cái vừa tạo cho con cái hành trang để vững bớc vào đời. Bắt nguồn từ đức
tính tốt đẹp này của ngời dân Việt Nam Bảo Việt nhân thọ đã đa ra loại hình bảo
hiểm An sinh giáo dục và đây cùng là thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với ngời
dân.
Nh đã nói ở trên loại hình bảo hiểm này thuộc nhóm BHNT hỗn hợp nên thể
hiện rất rõ nét tính kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm vì thế nên ngời tham gia lại
càng thấy đợc tính tiện lợi khi tham gia Bảo hiểm. Hơn nữa, ngời ta nói Bảo hiểm
mang tính xã hội và nhân văn rất lớn điều đó đợc thể hiện ở tính chất của sản
phẩm An sinh giáo dục là khi chẳng may có rủi ro xảy ra đối với bậc cha mẹ chủ
hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng sẽ đợc miễn phí cho đến khi đáo hạn và quyền lợi
bảo hiểm dành cho em bé đó vẫn không hề thay đổi. Có lẽ vậy cho nên các bậc
cha mẹ tham gia cho con cái của mình rất nhiều vừa thể hiện đợc tình thơng yêu
đối với con cái, vừa đảm bảo cho con một tơng lai vững chắc về mặt tài chính khi
có rủi ro xảy ra đối với bản thân, vừa mang tính tiết kiệm. Hội tụ đủ các yếu tố
trên cho thấy quyền lợi của ngời tham gia bảo hiểm là rất lớn cả cho ngời chủ hợp
đồng lẫn ngời đợc bảo hiểm. Vì thế sản phẩm An sinh giáo dục luôn là sản phẩm
đợc bán nhiều nhất trong các công ty bảo hiểm.
Tai nạn:
Trong BHNT quy ớc Tai nạn là bất cứ thiệt hại thân thể nào do hậu quả
duy nhất và trực tiếp của một lực mạnh, bất ngờ từ bên ngoài tác động lên thân thể
ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời tham gia bảo hiểm, loại trừ ốm đau hoặc bệnh tật
hoặc bất kì trạng thái nào xảy ra tự nhiên hoặc quá trình thoái hoá. Nh vậy những
22
thơng tật xảy ra do ngộ độc thức ăn, cảm, trúng gió bất ngờ đối với ngời bảo hiểm
nhng không đợc coi là tai nạn bảo hiểm.
Thơng tật toàn bộ vĩnh viễn:
Là khi ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời tham gia bảo hiểm bị mất hoàn toàn
hoặc không thể phục hồi đợc chức năng của:
- Hai tay hoặc hai chân hoặc . . .
- Một tay, một chân hoặc hai mắt hoặc . . .
- Một tay, một mắt hoặc . . .
- Một chân, một mắt hoặc . . .
Giá trị giải ớc (hay giá trị hoàn lại):
Là số tiền mà ngời tham gia bảo hiểm có thể nhận lại khi yêu cầu huỷ bỏ
hợp đồng trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực.
Hợp đồng bảo hiểm có giá trị giải ớc khi có hiệu lực từ 2 năm trở lên. Giá
trị giải ớc ứng với mỗi năm hợp đồng vào ngày sinh nhật của hợp đồng bảo hiểm
(là ngày kỉ niệm hàng năm của hợp đồng bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực trong thời
hạn bảo hiểm).
Giá trị giải ớc luôn nhỏ hơn tổng số phí mà ngời tham gia bảo hiểm đã đóng
góp với công ty bảo hiểm, nó chiếm khoảng 70 đến 80 % số phí bảo hiểm đã
đóng, vì ngời tham gia bảo hiểm phải thanh toán cho công ty những khoản chi phí
đã thực hiện hợp đồng nh chi phí phát hành và quản lí hợp đồng, chi phí khai
thác... Tỷ lệ giải ớc trên số phí đã đóng càng cao thì càng thu hút, hấp dẫn đối với
khách hàng và do đó cũng là nhân tố tác động đến quyết định tham gia BHNT hay
không.
Số tiền bảo hiểm giảm:
2.2.1 Trách nhiệm của các bên
* Trách nhiệm của ngời tham gia bảo hiểm
- Kí hợp đồng bảo hiểm: ngời tham gia trực tiếp kí hợp đồng bảo hiểm,
cùng công ty bảo hiểm thoả thuận cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong
hợp đồng.
- Trách nhiệm khai báo rủi ro: Ngay khi kí hợp đồng bảo hiểm, ngời tham
gia bảo hiểm có trách nhiệm kê khai trung thực những yêu cầu của công ty bảo
hiểm (kê khai tình trạng sức khoẻ).
24
- Trách nhiệm đóng phí bảo hiểm: đây là số tiền mà họ phải đóng cho công
ty bảo hiểm, theo quy định nộp phí của công ty khoản phí đóng đầu tiên sẽ là cơ
sở thời điểm bắt đầu có hiệu lực của hợp đồng. Ngời tham gia baỏ hiểm phải đóng
đầy đủ phí theo quy định và đúng hạn.
- Trách nhiệm khai báo, thông báo tổn thất: khi có sự cố rủi ro xảy ra, ngời
tham gia bảo hiểm phải khai báo cụ thể tình hình xảy ra sự cố tổn thất, tình trạng
sức khoẻ của ngời đợc bảo hiểm cho công ty bảo hiểm biết. Bên cạnh đó phải cung
cấp đầy đủ hồ sơ cho công ty một cách trung thực, chính xác để công ty căn cứ trả
tiền bảo hiểm. Tạo điều kiện để công ty giám định tình trạng sức khoẻ.
* Trách nhiệm của công ty bảo hiểm:
- Kí kết hợp đồng chấp nhận ngời tham gia để hình thành quỹ bảo hiểm. -
Đề phòng, hạn chế tổn thất xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực.
- Thu phí và có trách nhiệm nộp cho ngân sách Nhà nớc một khoản tiền gọi
là thuế nh đối với các doanh nghiệp khác.
- Bảo toàn đồng vốn và chấp hành đúng pháp luật.
2.2.2 Quyền lợi bảo hiểm
1) Đến năm ngời đợc bảo hiểm tròn 18 tuổi, khi hợp đồng bảo hiểm hết hạn,
công ty BHNT sẽ trả cho ngời đợc bảo hiểm số tiền bảo hiểm đã cam kết và đợc
ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
2) Trờng hợp ngòi đợc bảo hiểm bị chết trớc ngày hợp đồng bảo hiểm hết
hạn, công ty BHNT sẽ hoàn trả 100% số phí đã nộp vì khi ngời tham gia BHNT kí