Đề tài : Chính sách tiền tệ năm 2012 và những tháng đầu năm 2013
I. CSTT năm 2012
1. Tình hình kinh tế chung năm 2012
Kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính và khủng
hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được giải quyết (suy thoái trong khu vực đồng euro cùng
với khủng hoảng tín dụng và tình trạng thất nghiệp gia tăng tại vẫn đang tiếp diễn). Hoạt
động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả hàng hóa diễn biến phức
tạp. Tăng trưởng của các nền kinh tế đầu tàu suy giảm kéo theo sự sụt giảm của các nền
kinh tế khác trong đó Việt Nam không ngoại lệ, thể hiện qua các chỉ tiêu:
a. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng
5,03%, thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994 ( Đơn vị tính: %)
Năm 2011 Năm 2012
TỔNG SỐ 5,89 5,03
Phân theo khu vực kinh tế
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 4,01 2,72
Công nghiệp và xây dựng 5,53 4,52
Dịch vụ 6,99 6,42
Phân theo quý trong năm
Quý I 5,53 4,64
Quý II
5,71 4,80
Quý III
6,02 5,05
Quý IV 6,15 5,44
Nguồn: tổng cục thống kê
b. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 tăng 9,21% so với bình quân năm 2011.
c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ: tổng kim ngạch đạt 124 tỷ USD
Nguồn: Tổng cục Thống kê,
Đồ thị thể hiện lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiện giai đoạn 2008-2012
Vẫn tiếp tục chọn biến số “Tổng phương tiện thanh toán” và “Mức tăng trưởng Tín
dụng” làm mục tiêu trung gian của CSTT VN, năm 2012 NHNN đã đạt mục tiêu là : kiểm
soát mức tăng trưởng tín dụng 15-17%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 14%-16%.
Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được NHNN sử dụng làm mục tiêu trung gian để tác động trực
tiếp đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Diễn biến cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng từ năm 2008- 2012
2008 2009 2010 2011 2012
M2(%
)
Mụ
c tiêu
32 18-20 25 15-
16
14-
16
Th
ực hiện
20.3 29 33.3 12.4 22.4
Tăng
trưởng tín
dụng(%)
Mụ
c tiêu
30 21-23 25 20 8-10
Th
ực hiện
25.43 37.53 31.19 12 8.91
Nguồn : tổng cục thống kê, NHNN VN
cực đến giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.So với cuối
năm 2011, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng giảm được 6%/năm(14%/năm xuống
8%/năm), lãi suất cho vay 4 đối tương ưu đãi giảm được 4%-5%/năm (16-17%/năm xuống
12%/năm). Lãi suất cho vay phổ biến đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông
thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-12%/năm;
cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14-17%/năm. Đặc biệt, lãi suất liên
ngân hàng giảm mạnh 8-9%/năm so với đầu năm 2012.
Cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi suất cho
vay trung dài hạn là bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động kinh doanh
theo nguyên tắc thương mại và thị trường. Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận
được thực hiện theo Thông tư 19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ
hạn 12 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.
Lãi suất cho vay thỏa thuận được thực hiện từ 14/4/2010 theo Thông tư số 12/2010/TT-
NHNN vàthông tư 14/2012/TT-NHNN từ ngày 4/5/2012. Đối với các khoản cho vay ngoài
4 lĩnh vực ưu tiên TCTD cho vay theo lãi suất thỏa thuận.
Trong điều kiện kinh tế khó khăn, lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp rất khó có
thể cao hơn lãi suất cho vay thỏa thuận của các TCTD. Với cơ chế lãi suất cho vay thỏa
thuận, các khách hàng tốt không dám vay vốn, còn các khách hàng chấp nhận được lãi suất
cao là những khách hàng đang thực sự khó khăn về tài chính, hoặc có nhu cầu tài trợ cho
những dự án có rủi ro rất cao.Vì vậy cơ chế lãi suất thỏa thuận chỉ mang lại lợi ích trước
mắt cho TCTD, nhưng lại tăng thêm các rủi ro do lựa chọn khách hàng, rủi ro tín dụng,
tăng nguy cơ tiềm ẩn nợ xấu, tạo ra một danh mục tài sản có rủi ro cao.
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD đối với tiền gửi VND cố định 3% và không thay
đổi trong giai đoạn 2009-2012. NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND
trong suốt thời gian dài, hạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong việc điều
chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của hệ thống TCTD.
Để phát huy được vai trò và tác dụng của công cụdự trữ bắt buộc phải điều chỉnh tỷ lệ
dự trữ bắt buộc để tác động đến cả khối lượng và lãi suất cho vay tín dụng của các NHTM,
từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng và khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM
mục tiêu chính sách tiền tệ đã đặt ra, nhờ sự linh hoạt và có nhiều ưu việt hơn các công cụ
khác mà tác động đến lượng tiền cung ứng nhanh, NHNN có thể chủ động kiểm soát được.
Kiểm soát hạn mức tín dụng
Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho từng
NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị
điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các quy định.Theo đó, các
nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn mức như sau: Nhóm thứ 1tăng
trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%;
nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4 thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng trưởng
tín dụng.
Tuy vậy, sau một thời gian, một số ngân hàng đã được NHNN nâng hạn mức tín dụng
lên đến 25 – 27% (gấp 1.5 – 2 lần hạn mức của Nhóm 1 và 2); trong khi đó, hầu hết các
ngân hàng khỏe mạnh trong nhóm 1 không có ý định xin thêm do khả năng hấp thụ vốn của
nền kinh tế còn yếu và e ngại nợ xấu tăng cao.
Việc NHNN áp dụng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng rồi sau đó lại nâng hạn mức tín dụng
lên có thể dẫn đến mục đích “ làm đẹp” hình ảnh sẽ tạo ra những giá trị ảo trong hệ thống.
đồng thời, NHNN vẫn chưa công khai các cơ sở, chi tiết để phân loại ngân hàng theo các
nhóm tăng trưởng tín dụng.
Một số biện pháp khác kèm theo:
•
Ban hành Thông tư số 21/2012/TT-NHNN siết chặt thị trường liên ngân hàng
Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ban hành những quy định đối với hoạt động liên ngân
hàng đã ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/09/2012 với một số nội dung khá chặt chẽ như
hình thức tiền gửi được chuyển thành tiền vay, TCTD bị hạn chế đi vay nếu có khoản nợ
quá hạn từ 10 ngày trở lên hay yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro đối với các giao dịch đây
là 1 công cụ khiến cho NHNN có thể lập lại trật tự và lành mạnh hóa thị trường liên ngân
hàng. Trước đó ta có thể thấy lãi suất nhũng tháng cuối năm 2011 khá cao, lãi suất trên thị
trường liên ngân hàng có những lúc lên mức 30% thì trong năm 2012, lãi suất liên ngân
hàng đã giảm mạnh từ 10-11%. Tuy nhiên, chức năng hỗ trợ thanh khoản tạm thời của thị
đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, lượng vốn mà hệ thống các TCTD cung ứng cho nền kinh
tế đã tăng 13,91% trong cả năm, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất của nền kinh tế.
Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2012. Đơn vị: %
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Vietinbank capital
Biện pháp quy định trần lãi suất huy động và tiến hành thanh tra, giám sát bảo đảm các
TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định của NHNN đã bảo đảm không xảy ra tình huy
động vượt trần lãi suất và hạn chế tình trạng chạy đua lãi suất giữa các TCTD( đây là điểm
tích cực hơn năm 2011). Do vậy, mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định, đã tạo điều kiện để
NHNN áp dụng trần lãi suất cho vay đối với bốn nhóm đối tượng ưu tiên và yêu cầu các
TCTD đưa lãi suất các khoản vay cũ về mức 15%. Nhờ thực hiện các biện pháp này, lượng
tiền gửi của công chúng trong hệ thống ngân hàng trở nên ổn định hơn, giúp bảo đảm an
toàn cho hệ thống ngân hàng; mặt bằng lãi suất cho vay giảm dần, bước đầu tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả hơn với nguồn vốn ngân hàng. Ðến cuối năm 2012,
lãi suất cho vay đã giảm từ 5 - 9% so với thời điểm cuối năm 2011; tỷ trọng dư nợ cho vay
với lãi suất trên 15% đã giảm xuống còn 19,2%. Kết quả này đã góp phần tháo gỡ khó khăn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp trong bối cảnh suy giảm kinh tế.
Các giải pháp kiềm chế và xử lý nợ xấu đã nhanh chóng được NHNN triển khai tích
cực nhằm cải thiện phía cung tín dụng của hệ thống các TCTD. Do tình hình kinh tế Việt
Nam chưa được cải thiện, hàng tồn kho của doanh nghiệp vẫn ứ đọng, thị trường bất động
sản gần như đóng băng hoàn toàn nên việc xử lý, thu hồi các khoản nợ xấu là rất khó khăn.
Trước thực trạng này, NHNN đã yêu cầu hệ thống các TCTD tiến hành các biện pháp cơ
cấu lại nợ góp phần kiềm chế nợ xấu tăng nhanh. Tính đến 30/9/2012, các TCTD đã xem
xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng vay vốn
lên tới 252.159 tỷ đồng. Các TCTD đã tiến hành trích lập dự phòng rủi ro lên tới 78,6 nghìn
tỷ đồng (tương đương 58,31% nợ xấu) và chủ động dùng dự phòng để xử lý các khoản nợ
xấu theo quy định của pháp luật. Tốc độ tăng nợ xấu trong nửa đầu năm 2012 đã chậm lại
trong những tháng cuối năm.
Thứ hai, mặc dù tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 8,91%, mức thấp nhất trong lịch sử,
nhưng chất lượng tăng trưởng tín dụng đã có những cải thiện tích cực. Trong năm 2009 và
NHNN.
Tỉ lệ nợ xấu cao khiến chi phí của ngân hàng tăng mạnh khi phải dự phòng rủi ro lớn.
Đồng thời các ngân hàng thương mại cũng dè dặt và chặt chẽ hơn trong việc cho vay đối
với doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy về mặt danh nghĩa, lãi suất cho vay tuy có giảm
nhưng nguồn vốn tín dụng vẫn chưa thực sự đến được với doanh nghiệp.
Vẫn còn một bộ phận các ngân hàng thương mại đang gặp vấn đề về thanh khoản
nhưng do không đủ điều kiện để tham gia vào thị trường liên ngân hàng nên phải tiếp tục
nâng lãi suất huy động kì hạn trên 12 tháng lên cao để đẩy mạnh huy động nhằm giải quyết
vấn đề thanh khoản.
Vấn đề tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, tiến trình tái cơ cấu ngân hàng thương mại đang
diễn ra chậm chạp. Vì vậy, trong quá trình thực hiện cần thường xuyên có những đánh giá
về những mặt được, và chưa được của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Ví dụ như
cần có những đánh giá cụ thể về việc hợp nhất 3 ngân hàng Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn
đã thực sự đem lại kết quả như mong đợi? Hiện nay hiệu quả hoạt động của ngân hàng sau
sáp nhập như thế nào? Từ đó rút ra những kinh nghiệm để tiếp tục quá trình tái cơ cấu một
cách hợp lí hơn.
Nợ xấu tiếp tục gia tăng cần có biện pháp giải quyết đúng đắn và kịp thời.
II. CSTT năm 2013 và kết quả những tháng đầu năm
NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, hiệu quả, phù hợp
các điều kiện kinh tế vĩ mô; đồng thời kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với các tổ
chức tín dụng để nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp theo hướng tập trung
vào các lĩnh vực ưu tiên và dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Chính sách tiền tệ đã triển khai đầu năm 2013
- Thứ nhất, NHNN đã ban hành Chỉ thị chỉ đạo toàn hệ thống tổ chức thực hiện chính
sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2013 theo sát các chỉ
đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 7/01/2013 về những giải pháp chủ yếu
chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà
nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/01/2013 về một số giải pháp tháo gỡ
khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.
Cụ thể, NHNN đã thực hiện:
cạnh đó, NHNN cũng thực hiện thu nợ đối với các khoản cho vay tái cấp vốn đến hạn.
- Thứ tư, NHNN điều hành chủ yếu thông qua nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ thanh
khoản cho các TCTD một cách nhanh nhạy và kịp thời, nhất là vào dịp giáp Tết Quý Tỵ khi
nhu cầu rút tiền của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội thường tăng cao. Trong 2 tháng
đầu năm, NHNN chào mua giấy tờ có giá với khối lượng hợp lý, phù hợp với tình hình vốn
khả dụng của các TCTD; kỳ hạn 7 ngày và mở rộng lên cả kỳ hạn 14 ngày vào giáp Tết để
tránh đáo hạn ngay sau Tết. Nhờ vậy, thị trường diễn biến ổn định, thanh khoản hệ thống
đảm bảo, không còn là tác nhân gây ra xáo trộn về lãi suất thị trường.
- Thứ năm, về điều hành lãi suất, sau khi điều chỉnh giảm 1%/năm vào cuối năm 2012,
NHNN g iữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng ở mức
10%/năm, lãi suất tái cấp vốn ở mức 9%/năm và lãi suất tái chiết khấu ở mức %/năm.Ngoài
ra, NHNN theo dõi sát và tăng cường giám sát tình hình chấp hành quy định lãi suất tối đa
đối với tiền gửi bằng VND của tổ chức,cá nhân tại các TCTD.
Các kết quả đạt được so với năm 2012
Với việc triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp ngay từ những tháng đầu năm,
diễn biến tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng trong 2 tháng đầu năm 2013 đã đạt được
những điểm tích cực sau:
- Huy động vốn tăng trở lại kể từ cuối tháng 1/2013 . Tính đến ngày 28/2/2013, huy
động vốn tăng 2% so với cuối năm 2012, gấp hơn hai lần mức tăng 2 tháng đầu năm 2012.
Tốc độ tăng huy động vốn bằng VND cao hơn huy động vốn bằng ngoại tệ là phù hợp với
chủ trương chuyển từ quan hệ huy động – cho vay sang quan hệ mua – bán ngoại tệ và cho
thấy niềm tin của người dân vào hệ thống TCTD tăng lên.
- Tín dụng so với cuối năm 2012 giảm theo quy luật hàng năm nhưng tăng trở lại trong
tháng 2/2013, tín dụng VND tăng khả quan. Tính đến ngày 28/2/2013, tín dụng giảm
0,28%, thấp hơn mức giảm 1,88% trong 2 tháng đầu năm 2012. Tính theo tháng, tín dụng đã
đảo chiều tăng 0,26% trong tháng 2 từ mức giảm 1,23% trong tháng 1, cải thiện so với mức
giảm trong cả tháng 1 và 2/2012. Hơn nữa, điểm tích cực là tín dụng bằng VND so với cuối
năm 2012 đã đảo chiều tăng 0,71% từ mức giảm 0,12% trong tháng 1/2013. Mức giảm của
tín dụng đối với nền kinh tế hoàn toàn là do tín dụng bằng ngoại tệ giảm, điều này cũng phù
hợp với chủ trương hạn chế tình trạng đô la hóa của Chính phủ. Như vậy, các giải pháp tháo