Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp công nhân của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Suốt
hơn 77 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua bao nhiêu khó khăn,
thử thách, qua nhiều bước ngoặt của cách mạng, và đã trở thành một Đảng
Mác-Lênin chân chính, một Đảng cầm quyền vững mạnh, chính là Đảng ta
đã giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Những kết luận của Hồ Chí Minh về vai trò của giai cấp công nhân
Việt Nam là kết quả của một quá trình quan sát, tìm tòi nghiên cứu ở nhiều
nước từ năm 1911, khi Người ra đi tìm đường cứu nước. Sự kiện Nguyễn Ái
Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã nói lên quyết tâm
của Người đi theo con đường cách mạng vô sản để thực hiện mục tiêu giải
phóng dân tộc. Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, khi được tin 600 thợ
nhuộm Chợ Lớn đấu tranh (12-1922) đòi chủ xưởng bảo đảm quyền lợi cho
người lao động, Người đã viết: Khắp nơi giai cấp công nhân cũng bắt đầu
giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình…Đây là lần đầu tiên một phong
trào như thế nhóm lên ở thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó của thời
đại.
Ở nước ta sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp bằng chính sách
khai thác thuộc địa đã làm xuất hiện một lực lượng xã hội mới: giai cấp công
nhân. Nhưng đó là một giai cấp mới quá nhỏ bé, đến năm 1930 số lượng
công nhân nước ta mới chỉ có 22 vạn người, chiếm một tỷ lệ nhỏ trong dân
cư. Đây cũng là một trong nhiều lý do làm cho nhiều nhà yêu nước đương
thời không nhận thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân đối với sự
nghiệp giải phóng dân tộc.
Phát hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thế giới là công
lao của Mác và Ăngghen. Nhưng qua những cuộc tranh luận lý luận về vấn
đề đó trong phong trào cách mạng và phong trào công nhân từ sau khi
C.Mác và Ph. Ăngghen qua đời và xem xét vấn đề đó vào những điều kiện
cụ thể của Việt Nam những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi mới thấy đầy
đủ giá trị của lý luận và thực tiễn mà Hồ Chí Minh đã cống hiến cho cách
mạng Việt Nam. Sau này, đánh giá về giai cấp công nhân Việt Nam, Hồ Chí
thành phần công nhân vào hầm mỏ, nhà máy, đồn điền để tuyên truyền chủ
nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân đồng thời học tập, tự rèn luyện
mình thành người vô sản và thành người Cộng sản. “Vô sản hóa” là một yếu
tố đầu tiên quan trọng tạo điều kiện cho đảng viên thực sự giác ngộ và trung
thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, giữ vững được bản chất giai cấp công nhân
của Đảng.
Trong “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, được thông qua
tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1930,
Người đã khẳng định “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu
phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh
đạo được dân chúng, Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và phải
dựa vào hạng dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo làm
thổ địa cách mạng đánh trúng bọn đại địa chủ và phong kiến”(2).
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ
nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam. Do vậy, ngay từ khi ra đời Đảng ta đã mang bản chất giai cấp công
nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Từ thực tế cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng việc giáo dục chủ
nghĩa Mác-Lênin, bồi dưỡng, rèn luyện năng lực và phẩm chất cho đảng
viên. Nhờ vậy, mặc dầu Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa, đa số đảng
viên không phải là công nhân, nhưng bản chất giai cấp công nhân và vai trò
tiên phong cách mạng của Đảng vẫn được giữ vững. Và chính trong thực
tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng ta trở thành người lãnh đạo cách mạng, của
dân tộc Việt Nam, được toàn thể dân tộc Việt Nàm coi là Đảng của mình, là
người lãnh đạo duy nhất của dân tộc mình.
Khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, sau cách mạng Tháng Tám
năm 1945, Người đã sớm giáo dục toàn Đảng nguy cơ thoái hóa về bản chất
giai cấp công nhân, sa vào tệ quan liêu hóa, xa rời quần chúng, trở thành tổ
chức “làm quan” vi phạm quyền làm chủ dân, xa rời mục tiêu cách mạng của
Đảng. Người đã chỉ rõ 12 điều về “tư cách của Đảng chân chính cách
cầm quyền…phải giữ gin Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người
lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(3).
Thực tiễn lịch sử của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã
chỉ rõ, đã là Đảng Cộng sản thì Đảng nào cũng phải coi trọng việc giữ vững
bản chất giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản ra đời và hoạt động ở một nước
mà kinh tế còn kém phát triển, giai cấp công nhân hiện đại còn ít như ở Việt
Nam thì việc không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng
lại càng quan trọng. Trong mọi giai đoạn và mọi thời kỳ cách mạng, bản
chất công nhân, sự vững mạnh của Đảng cũng phải được thể hiện cả về
chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Về đường lối chính trị, Người coi Đảng là đội tiên phong chính trị
của giai cấp công nhân và khi đã trở thành Đảng cầm quyền thì Đảng đồng
thời là đội tiên phong chính trị của cả dân tộc. Đường lối chính trị là vấn đề
cốt tử đầu tiên quyết định vận mệnh của Đảng và cả vận mệnh của dân tộc.
Hồ Chí Minh đã xác định cho Đảng ta một đường lối chính trị đúng đắn; làm
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa. Trong cương lĩnh đầu tiên, Người viết “làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội Cộng sản”(4).
Nhờ đường lối chính trị đúng đắn của Hồ Chí Minh ngay từ đầu,
Đảng ta đã đoàn kết các giai cấp, tầng lớp cách mạng, các lực lượng yêu
nước trên cơ sở liên minh công nông. Đó là yếu tố quan trọng đầu tiên giúp
Đảng ta nắm được quyền lãnh đạo. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đáp ứng
nguyện vọng, lợi ích của quần chúng lao động nên đã nhanh chóng phát
động được cao trào trong những năm 1930-1931 và đã định hướng đúng cho
sự phát triển của các thời kỳ lịch sử tiếp theo.
Thừa nhận hay không thừa nhận sứ mệnh lịch sử và vai trò lãnh đạo
của giai cấp công nhân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất để
phân biệt người Mácxít-Lênin nít chân chính với bọn cơ hội chủ nghĩa. Cuộc
cách mạng vô sản đầu tiên sau Cách mạng Tháng Mười thành công đã mở ra
thời đại mới của xã hội loài người. Nhưng từ đó đến nay, đặc biệt là từ sau