ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Nguyễn Thị Chiên
XU THẾ BIẾN ĐỔI CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA PHƠN
KHU VỰC MIỀN TRUNG VIỆT NAM Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Khí tượng học
(Chương trình đào tạo chuẩn) Cán bộ hướng dẫn: TS. Trần Quang Đức
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
I
f
Cường độ Phơn
T
xNhiệt độ cực đại ngày
T13
Nhiệt độ lúc 13 giờ
r13 Độ ẩm tương đối 13 giờ
U
m
Độ ẩm cực tiểu ngày
3.7. Biến đổi cường độ Phơn 32
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ mô tả quá trình Phơn…………………………………………… ……4
Hình 1.2: Phân loại Phơn……………………………………………………………….6
Hình 1.3: Số ngày gió khô nóng trung bình nhiều năm khu vực Bắc Trung Bộ và
Trung Trung Bộ (1971-2000)………………………………………………………….14
Hình 1.4: Số ngày gió khô nóng trung bình nhiều năm trên toàn quốc (1991-
2000)……………………………………………………………………………….….15
Hình 1.5: Địa hình khu vực Bắc Trung Bộ……………………………… ………….17
Hình 2.1: Mạng lưới các trạm khí tượng khu vực Bắc Trung Bộ(a) và Trung Trung
Bộ(b)…………………………………………………………………… ……………21
Hình 3.1: Ngày bắt đầu mùa Phơn ở 3 trạm khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn 1961 –
2007 và xu thế tuyến tính……………………………………………………….…… 23
Hình 3.2: Ngày kết thúc mùa Phơn của 3 trạm khí tượng khu vực Bắc Trung Bộ giai
đoạn 1961-2007 và xu thế tuyến tính……………………………………… ……… 25
Hình 3.3: Số ngày Phơn của 3 trạm khí tượng khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn 1961-
2007 và xu thế tuyến tính…………………………….………………………… ……27
Hình 3.4: Thời gian kéo dài mùa Phơn của 3 trạm khí tượng khu vực Bắc Trung Bộ
giai đoạn 1961-2007 và xu thế tuyến tính…………………………………………… 28
Hình 3.5: Trung bình độ dài đợt Phơn của 3 trạm khí tượng khu vực Bắc Trung Bộ giai
đoạn 1961-2007 và xu thế tuyến tính…………………………………………….……30
Hình 3.6: Số nhịp Phơn của 3 trạm khí tượng khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn 1961-
2007 và xu thế tuyến tính……………………………………………………… ……31
nhân gây ra hạn hán cục bộ kéo dài. Hiện tượng này diễn ra điển hình nhất trên
khu vực Bắc Trung Bộ. Bắc Trung Bộ là dải đất hẹp, kéo dài từ tỉnh Thanh Hóa
đến thừa Thiên Huế, khu vực tập trung khá đông dân cư, lấy phát triển chăn
nuôi, trồng trọt vẫn là nguồn sống chủ yếu, nhưng hàng năm ở khu vực này phải
gánh chịu rất nhiều hậu quả do gió Phơn gây nên.
Do tính khắc nghiệt về mặt khí hậu và ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế - xã
hội và sức khỏe con người nên đã có một số nghiên cứu về gió Phơn kể cả hệ
quả của nó. Trước tiên phải kể đến Phan Tất Đắc và Phạm Ngọc Toàn trong
“Khí hậu Việt Nam”. Các tác giả này nhấn mạnh tính chất phân hóa theo mùa
của loại hình thời tiết độc đáo này. Trong “Quy phạm quan trắc các trạm khí
tượng bề mặt” cũng đã đề ra các chỉ tiêu xác định thời tiết gió tây khô nóng. Hầu
hết các đợt nắng nóng, trong đó có các đợt gió tây khô nóng đều được tổng kết
trong các tạp chí khí tượng thủy văn xuất bản hàng tháng cùng với những nhận
định sơ bộ về ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội. TS.Trần Việt Liễn, viện
Khí tượng Thủy văn cũng đề cập đến gió tây khô nóng và ảnh hưởng của nó đến
2
khí hậu Việt Nam, Lào trong một số công trình nghiên cứu gió tây khô nóng và
ảnh hưởng của nó đến một số vùng thuộc Nghệ An được trình bày khá chi tiết
trong “Khí hậu tỉnh Nghệ An”. Tác giả Nguyễn Hữu Tài trong “Phân vùng khí
hậu tự nhiên Việt Nam” coi gió Tây khô nóng như một loại hình thời tiết có ảnh
hưởng nhất định đến sơ đồ phân vùng khí hậu Việt Nam. Các đợt gió tây khô
nóng cũng được tổng kết trong các Thông báo Khí hậu của trung tâm nghiên cứu
Khí hậu, Viện Khí tượng Thủy văn.
Tuy nhiên cho đến nay, các công trình nghiên cứu về sự biến đổi các đặc
trưng của gió Phơn ở khu vực bắc Trung Bộ còn ít. Đặc biệt là phân bố theo
không gian của các đặc trưng của loại hình thời tiết độc đáo này ở khu vực Bắc
Trung Bộ cũng chưa được quan tâm nhiều. Cho nên việc nghiên cứu tìm ra quy
luật diễn biến của gió Phơn để nhằm cảnh báo và hạn chế tới mức thấp nhất ảnh
hưởng của nó là một việc rất cần thiết. Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài nghiên
bị biến đổi tính chất, trở nên khô nóng hơn, và biến thành gió “Phơn”. Quá trình
biến đổi tính chất như trên của gió gọi là quá trình “Phơn”.
Bản chất của quá trình Phơn: Trên một dãy núi dài và cao có sự chênh
lệch về áp suất giữa hai sườn núi. Khi một khối khí ẩm đi qua phải vượt qua
sống núi. Không khí chuyển động đi lên theo gradient đoạn nhiệt khô
(1
o
C/100m) sau đó do nhiệt độ giảm hơi nước đạt trạng thái bão hoà ẩm (100%)
gradient đoạn nhiệt ẩm (trung bình 0.6
o
C/100m) không khí lạnh đi, nhiệt độ hạ
xuống dưới điểm sương, sự ngưng kết diễn ra, mây hình thành và mưa rơi xuống
bên sườn đón gió (mưa địa hình). Khi khối khí này vượt qua sườn đón gió, độ
ẩm tuyệt đối của không khí giảm đi và đi xuống sườn khuất gió theo gradient
đoạn nhiệt khô, nhiệt độ không khí liên tục tăng, độ ẩm tương đối của không khí
giảm mạnh luồng không khí đi xuống trở nên khô và nóng (hình 1.1). Đó chính
là gió phơn.
Hình 1.1:
1.2. Phân bố Phơn
ở Việt Nam
Nước ta có đị
a hình ch
dễ xảy ra hiện tượ
ng Phơn.
Ở một số miề
n núi, có nh
thổi xuống cánh đồ
ng Mư
ững loại gió Phơn nổi tiếng
, như gió Than Uyên
ng Mư
ờng Thanh, gió Ô Quy Hồ ở
vùng Sa Pa. Nhưng đi
n là gió Lào th
ổi trong một vùng rộng lớn về
mùa hè t
ự
c phía Nam Trung Bộ. Các khu vự
c khác trên lãnh th
ng sông H
ồng, Nam Trung Bộ c
ũng có hi
p và không rõ r
ệt như khu vực Bắ
c Trung B
ồn gốc của Ph
ơn
ớc ta chịu tác động
mạnh của gió m
ùa Tây Nam
ình thành vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5 khi áp thấp Nam
ở rộng sang phía đông tạo nên rãnh gió mùa bao chùm
ận nhiệt Tây Thái B
ình Dương b
ị đẩy ra phía biển Đông V
ển h
ình.
dãy Trường Sơn Bắc (độ cao trung bình khoảng 1000m) chạy gần như vuông
góc với hướng gió, lại có sườn đón gió thoải nên khối khí đã gây mưa hết ở bên
sườn đón gió (Sườn Tây), khi tràn vào nước ta gió đã biến tính và trở nên cực kì
khô và nóng. Đó chính là hiện tượng Phơn ở nước ta[15].
Một nguyên nhân nữa gây ra hiện tượng Phơn ở nước ta là vùng áp thấp
thường hình thành ở vùng phía Nam Trung Quốc, có khi trung tâm áp thấp nằm
ngay ở Đồng bằng Bắc bộ. Vùng áp thấp có tác dụng “gọi gió” hay “hút gió”
vượt qua dãy Trường Sơn. Vùng áp thấp này càng sâu thì vùng gió Phơn này thổi
càng mạnh, và có trường hợp tỏa ra cả Bắc Bộ[15].
1.4. Mùa Phơn
Mùa Phơn là khoảng thời gian có gió Phơn hoạt động. Theo quy luật khí
hậu, ở miền Trung bộ, mùa Phơn thường bắt đầu từ cuối tháng 4 đến giữa tháng
9, trong đó thời gian hoạt động nhiều nhất của Phơn vào giữa tháng 6 và tháng 7,
mỗi tháng có trung bình từ 7-10 ngày, trong đó 2 – 4 ngày gió Phơn thổi mạnh.
Gió Phơn thường thổi thành từng đợt, đợt ngắn từ 2 đến 3 ngày, có đợt từ 10 –
15 ngày, có đợt kéo dài tới 20-21 ngày[15].
Gió Phơn là một dạng thời tiết đặc biệt về mùa hè ở Trung Bộ, Việt Nam.
Gió Phơn thổi theo hướng Tây Nam. Trong một ngày, gió Phơn thường bắt đầu
thổi từ 8-9 giờ sáng cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa
đến xế chiều. Có khi gió Phơn thổi liên tục suốt cả ngày đêm, có đợt kéo dài
trong 10 ngày đêm liền. Khi có gió Phơn thổi, nhiệt độ cao nhất trong ngày
6
thường vượt quá 37°C và độ ẩm thấp nhất trong ngày thường giảm xuống dưới
50%, có khi xuống tới 30%, nhiệt độ có khi lên tới 43°C, bầu trời không một gợn
mây, trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa, cây cỏ héo khô, ao
hồ cạn kiệt, con người và gia súc bị ngột ngạt, rất dễ sinh hỏa hoạn. Các nơi khác
ở nước ta cũng có gió khô nóng, song mức độ thấp hơn so với Trung bộ[15].
1.5. Phân loại hiện tượng Phơn
nhiệt độ thực tế tăng lên đáng kể dẫn đến một thay đổi nhỏ trong độ ẩm tương
đối bề mặt quan trắc được. Một khối khí tương đối ấm và gần bão hòa mực
850hPa xung quanh rặng núi cao nhất của dãy núi Smoky là nguồn gốc của
không khí đoạn nhiệt bị nén quan trắc được trên sườn phía tây bắc dãy núi
Smoky. Bình thường các gió phơn quan trắc được trên trung tâm Đại thung lũng
Tennessee không mạnh vào buổi chiều tuy nhiên, các sóng núi có thể kết hợp với
gió phơn vào ngày 2 tháng 1 năm 1999 vì một lực gradient khí áp bề mặt mạnh
8
đã xuất hiện trên cả dãy núi, gió vượt quá 15 m/s (30 kt) quan sát được trong một
lớp ổn định ở mực 850 hPa thổi gần vuông góc với những dải núi Smoky cao
nhất cùng sự đóng góp của gió thẳng đứng và profile địa hình thuận lợi. Ngoài
ra, các mực độ ẩm tương đối cao (>70 %) trong nhiều lớp ranh giới gần thung
lũng Tennessee cũng có thể làm giảm cường độ của những cơn gió phơn[11].
David M. Gaffin đã tiến hành nghiên cứu 30 năm (1971 - 2000) với mục
đích:
- Xác định những đặc trưng điển hình và các điều kiện synop của những
hiện tượng phơn gây ra chênh lệch nhiệt độ lớn gần phía nam dãy núi
Appalachian.
- Tiếp tục kiểm tra những hiện tượng này đối với chênh lệch điểm sương.
Các sự kiện gió Phơn được xác định trên cả hai sườn phía tây và phía đông
Nam Appalachian bằng cách so sánh nhiệt độ tức thời của trạm với trạm ở phía
nam Appalachian (trạm Phơn) và hai trạm gần đó nằm xa núi hơn (trạm không
Phơn).
Một hiện tượng gió phơn xảy ra khi những tiêu chí sau đây được đáp ứng:
nhiệt độ tối thấp hoặc tối cao hàng ngày tại trạm phơn phải cao hơn ít nhất 3°C
(5°F) so với trạm không phơn, tốc độ gió đi xuống nhỏ nhất là 2.5 m/s (5 kt)
tại trạm phơn và sự nóng lên ít nhất là 3°C (5°F) phải diễn ra trong thời kỳ gió
đi xuống.
Các sự kiện gió Phơn ở sườn tây thường xảy ra khi gió đông nam phát
2.6 2.6 4.3 3.6 2 1.3 0.5 1.1 1.9 3.8 3.8 2.5 30
Vận tốc gió trung bình bề mặt là trong trường hợp có Phơn là 15 – 20m/s,
một số trường hợp gió có thể mạnh lên đến 25-30m/s. Trong tháng 12 năm 1970,
gió đạt tới 35m/s và 40m/s tại Cherni vrah. Nhiệt độ vào tháng 12 năm 1979 tại
Sofia là 17,3°C. Trong khi tràn qua núi Vitosha, ở phía khuất xuất hiện một rotor
lớn, bao gồm đài quan sát Sofia Aerological. Đặc thù của thám không vô tuyến
trong những trường hợp foehn trên thung lũng Sofia ít được nghiên cứu[14].
Theo nghiên cứu trong tài liệu “Khí hậu Việt Nam” của Phạm Ngọc Toàn
và Phan Tất Đắc tác giả đã chỉ ra rằng, gió khô nóng thực chất là gió mùa mùa
10
hạ (luồng phía Tây) bị biến tính khi vượt qua những dãy núi Lào và Trường Sơn,
có thể ảnh hưởng đến miền Bắc nước ta trong những tháng đầu mùa hạ. Nó
mang lại trạng thái thời tiết khô nóng cực đoan, với nhiệt độ tối cao thường vượt
quá 33-35°C và độ ẩm tương đối hạ thấp xuống dưới 65% và thậm chí xuống
dưới 45%. Tên gọi thứ gió này khác nhau tùy vùng. Ở Trung Bộ thường gọi là
gió Lào, ở Tây Bắc là gió Tây, một vài địa phương còn có tên gọi khác nữa
nhưng chung quy đều chỉ vào trạng thái thời tiết đặc biệt của mùa hạ [10].
Cũng theo tài liệu trên với chỉ tiêu nhiệt độ trên 33°C (Giới hạn thứ nhất
về cảm giác nóng của con người) và độ ẩm tương đối dưới 65%, ta có thể đánh
giá tình hình tác động của gió nóng từng vùng theo các số liệu thống kê trong
bảng sau:
Bảng 1.2. Số ngày khô nóng
Địa điểm
Với độ ẩm <65% và t°>33°C Với độ ẩm <65% và t°>35°C
IV V VI VII VIII
IX X IV
Móng Cái
0,8 2,0 0,5 2,5 2,0 0,3
0,6
0,6 0,1
Hà Giang
1,2 6,0 8,8 6,3 11,5
12,5
0,7
0,2
0,8 0,3
Lào Cai
3,4 11,3
9,8 8,4 10,5
8,3 0,5
0,3 0,3
0,1 0,4
11,5 3,9
1,8 3,1 3,3
Điện Biên
12,3
14,3
6,0 3,7 2,9 3,0 0,0
3,8
5,2 1,3
0,6 0,1
Sơn La
6,8 7,3 1,5 1,0 0,8 0,3 0,8
1,0 0,3
Hòa Bình
2,1 13,3
10,9
1,4 0,3
Vinh
2,0 5,3 9,9 10,6
5,0 0,5 1,6
4,5 8,0
7,1 4,0 0,1
Cửa Rào
11,5
15,8
9,3 14,8
7,5 1,0 8,0
14,8 8,0
12,3
5,8 0,5
Số liệu về số ngày khô nóng trung bình tháng và năm trong công trình
“Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam”. Theo đó, số ngày khô nóng được xác
định theo chỉ tiêu sau đây:
(1) Nhiệt độ 13 giờ (T13) trên 34°C
(2) Độ ẩm tương đối 13 giờ (r13) dưới 65%
Số ngày khô nóng trung bình năm phổ biến là 20-40 ở vùng núi thấp Tây
Bắc, 5-20 ở vùng núi thấp Đông Bắc, 10-20 ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, 30-60 ở
vùng đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Một số nơi ở vùng
núi Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, trung bình hàng năm có trên 60 ngày khô
nóng (Bảng 1.3) [5].
12
Bảng 1.3. Số ngày khô nóng trung bình tháng và năm
Trạm
II III IV V VI VII VIII
XI Năm
Tây Bắc
Lai Châu
0,1 3,0 7,8 7,3 3,0 2,4 3,3 1,3 28,2
Quỳnh Nhai
0,1 1,8 5,5 7,9 4,6 4,0 3,8 1,6 29,3
Sơn La
0,0 0,0 0,8 0,9 0,0 0,1 0,0 0,0 1,8
Sông Mã
Đồng Hới
0,0 0,3 1,2 7,3 9,9 13,4 6,4 0,7 39,2
Huế
0,1 1,4 4,3 10,7 13,1 14,9 10,9 2,6 58,0
Nam Trung Bộ
Đà Nẵng
0,5 1,0 1,3 8,2 9,6 12,6 9,6 1,4 44,2
Quảng Ngãi
0,1 0,3 1,3 7,5 10,0 11,7 9,0 1,5 41,4
Quy Nhơn
0,0 0,0 0,0 3,3 8,1 10,7 13,6 3,7 39,4
Tuy Hòa
0,0 0,4 1,9 9,9 10,9 11,7 10,8 2,0 47,6
Ba Tơ
0,0 5,5 13,3 15,2 9,7 9,8 9,3 2,0 64,8
Trong công trình “Tìm hiểu về hạn hán và hoang mạc hóa” của Nguyễn
Đức Ngữ tác giả có đưa ra một số nhận xét qua kết quả nghiên cứu như sau :
- Từ những số liệu về nhiệt độ tối cao, nhiệt độ 13giờ (T13), độ ẩm 13
giờ (r13), độ ẩm tương đối của các trạm ta thống kê, phân tích theo những chỉ
13
tiêu xác định gió khô nóng, từ đó xác định những ngày có gió khô nóng trong
khu vực miền trung Việt Nam.
- Xác định ngày bắt đầu, ngày kết thúc và thời gian kéo dài của loại hình
thời tiết này. Thời gian có gió Lào thông thường chiếm từ 15 đến 60 ngày, cá
biệt có thể lên đến 100 ngày trong một năm tùy theo địa phương. Theo số liệu đo
đạc của 30 trạm, trong vòng 10 năm gần đây (1990-1999) có thể rút ra mấy vấn
đề đáng chú ý như sau:
+ Số ngày gió Tây khô nóng hằng năm ở vùng đồng bằng Nghệ
và Trung Trung Bộ (1971-2000)
15 Hình 1.4: Số ngày gió khô nóng trung bình nhiều năm trên toàn quốc
giai đoạn 1991-2000
16
Ngoài ra công trình “Sự biến đổi của Phơn và nắng nóng ở Hà Tĩnh –
miền Trung Việt Nam” của Trần Quang Đức trong cũng đã trình bày về phương
pháp nghiên cứu cũng như xu thế biến đổi một số đặc trưng của Phơn ở khu vực
Hà Tĩnh. Theo đó, tác giả đã đưa ra bộ chỉ tiêu và định nghĩa về các đặc trưng
của Phơn và một số kết quả nghiên cứu[2].
1.7. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực Miền Trung Việt Nam
Khu vực Bắc trung bộ gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Phía Tây là sườn Đông Trường Sơn, giáp
nước Lào có đường biên giới dài 1.294 km với các cửa khẩu Quan Hoá, Lang
Chánh (Thanh Hoá), Kỳ Sơn (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Lao Bảo
(Quảng Trị). Phía Đông hướng ra biển Đông với tuyến đường bộ ven biển dài
700 km. Địa hình Bắc Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống
đồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi ra
đến các đảo ven bờ. Bắc Trung Bộ nơi bắt đầu của dãy Trường Sơn, sườn Đông
đổ xuống Vịnh Bắc Bộ, có độ dốc khá lớn. Lãnh thổ có bề ngang hẹp, địa hình
chia cắt phức tạp bởi các con sông và dãy núi đâm ra biển, như dãy Hoàng Mai
(Nghệ An), dãy Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) sông Mã (Thanh Hoá), sông Cả (Nghệ
An), sông Nhật Lệ (Quảng Bình) Cấu trúc địa hình gồm các cồn cát, dải cát
ven biển, tiếp theo là các dải đồng bằng nhỏ hẹp, cuối cùng phía Tây là trung du,
miền núi thuộc dải Trường Sơn Bắc. Nhìn chung địa hình Bắc Trung Bộ phức
tạp, đại bộ phận lãnh thổ là núi, đồi, hướng ra biển, có độ dốc, nước chảy xiết,
- Nhiệt độ tối cao: T
x
≥ 35ºC và độ ẩm tương đối: U
m
≤ 55% [15].
- Xét trên một khu vực, một chuỗi ngày khô nóng có xen kẽ một ngày
chưa đạt tiêu chuẩn khô nóng, nhưng trong ngày đó có ít nhất một nửa số trạm có
T
x
xấp xỉ 35ºC và U
m
≤ 55% vẫn được xem là một đợt khô nóng liên tục.
- Nếu trong khu vực có khô nóng xuất hiện mà ít nhất một phần ba số
trạm có T
x
≥ 37ºC và U
m
≤ 45% (hoặc T
x
≥ 39ºC) thì được xem là có khô nóng
gay gắt.
2.1.2. Phương pháp xác định chỉ tiêu của các đặc trưng Phơn
Phơn ở khu vực miền Trung Việt Nam, đặc biệt là khu vực Bắc Trung Bộ
là loại Phơn điển hình, với mưa gần như rơi hết bên sườn đón gió, khi sang bên
sườn khuất gió, không khí bị nóng lên qua quá trình nén đoạn nhiệt khiến gió trở
nên cực kỳ khô nóng. Khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam là một dải đất hẹp dọc
theo sườn khuất gió của dãy núi Trường Sơn vào phần lớn thời gian có gió mùa
mùa hè. Phía đông khu vực này là biển, vì vậy nếu có bất kì cơ chế vận động nào
gây hoàn lưu có hướng đông, đông bắc, đông nam đều cung cấp cho khí quyển
một lượng ẩm lớn. Chính vì vậy, có thể xác định hiện tượng Phơn ở Bắc Trung
+ Ngày có cường độ Phơn yếu: 0,6 ≤ T
x
/U
m
< 0,8
+ Ngày có cường độ Phơn trung bình: 0,8 ≤ T
x
/U
m
< 1
+ Ngày có cường độ Phơn mạnh: T
x
/U
m
≥ 1
Chỉ tiêu cường độ phơn theo tỷ lệ giữa nhiệt độ cực đại ngày và độ ẩm cực
tiểu ngày, thường vào thời điểm đầu giờ chiều, được đề xuất trên cơ sở đối với
phơn càng mạnh hiệu ứng hoặc nhiệt độ sẽ càng cao, hoặc độ ẩm tương đối sẽ
càng thấp, hoặc đồng thời nhiệt độ cao và độ ẩm tương đối thấp.
2.1.3. Phương pháp phân tích xu thế
Phân tích xu thế là một trong những phương pháp thường được xét đến
trong nghiên cứu biến đổi khí hậu. Từ chuỗi số liệu đã thu thập và xử lý về các
đặc trưng của các yếu tố khí hậu, phương trình hồi quy tuyến tính một biến dạng
x=a
0
+a
1
t được xác định, trong đó x là đặc trưng của các yếu tố khí hậu, còn t là
thứ tự các năm, a
0