BÀI 21
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP
CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỈ XIX
( tiết 2)
II-MỘT SỐ CUỘC KHỞI NGHĨA TIÊU
BIỂU TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG
VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH TỰ VỆ
CUỐI THẾ KỈ XIX
1.Khởi nghĩa Bãi Sậy(1883-1892)
2.Khởi nghĩa Ba Đình(1886-1887)
3.Khởi nghĩa Hương Khê(1885-1896)
4. Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)
Lãnh
đạo
Thời
gian
Địa bàn
Hoạt
động
chính
Kết quả
Nguyễn Thiện Thuật
1883-1892
Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh,
Thái Bình sang cả Nam Định và
Quảng Yên. Căn cứ chính là Bãi Sậy
- Từ 1883-1887 Nghĩa quân tổ chức
lực lượng, xây dựng căn cứ và đẩy lùi
nhiều cuộc càn quét của địch
-Từ 1888-1892 Nghĩa quân bước vào
giai đoạn chiến đấu quyết liệt và anh
1887): ở làng Tràng Xá-Thanh
Liêm-Hà Nam
*Địa bàn:
-
Căn cứ chính ở ba làng: Mậu
Thịnh,Thượng Thọ, Mĩ Khê
(Nga Sơn –Thanh Hóa) và một
số căn cứ ngoại vi
*Hoạt động chính:
- Xây dựng căn cứ Ba đình
kiên cố vững chắc.
- Chặn đánh các đoàn xe,
toán lính đi qua căn cứ gây
cho chúng nhiều khó khăn.
2-Khởi nghĩa Ba Đình ( 1886 – 1887 )
*Lãnh đạo:
*Địa bàn:
*Hoạt động chính:
- 1/1887 Pháp tập trung lực
lượng tấn công bao vây và
chiếm được căn cứ nghĩa
quân rút về Mã Cao
Đến mùa hè 1887 khởi
nghĩa tan rã
*Kết quả:
20 - 01 - 1887
06 - 01 - 1887
Lãnh
đạo
Phạm Bành – Đinh Công Tráng
phòng thủ kiên cố.
-
Khởi nghĩa Bãi Sy: Không xây dựng
thành lũy mà dựa vào điều kiện tự nhiên để
đánh giặc.
THO LUN NHểM
* Nhóm 2: Điểm khác nhau về cách tổ chức
đánh giặc:
-
Khởi nghĩa Ba Đình: dùng lối đánh phòng
thủ, cầm cự , khi bị bao vây tấn công thì dễ bị
dập tắt.
-
Khởi nghĩa Bãi Sậy : nghĩa quân dựa vào dân
sử dụng lối đánh du kích nên địch khó phát
hiện và khó tiêu diệt.