LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, ngân hàng là nghề được hình thành từ rất lâu . Đầu tiên do
yêu cầu của con người mà ngân hàng thương mại được hình thành và phát triển. Tuy
nhiên sự càng lớn mạnh đó đã xảy ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết để đảm bảo trật
tự xã hội. Do ngân hàng là một ngành kinh doanh tiền tệ nên nó ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế quốc gia. Cũng vì lý do này mà cần sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt
động của ngân hàng. Để can thiệp vào Nhà nước cần lập ra một ngân hàng mang tính
chất quản lý nền kinh tế cả nước. Từ khi nước ta chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp
sang hệ thống ngân hàng hai cấp thì vai trò của ngân hàng trung ương rất quan trọng.
Nó có vai trò là ngân hàng phát hành tiền thực hiện quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền
tệ tín dụng bằng pháp luật, chính sách và các công cụ khác nhằm tạo mục tiêu của chính
sách kinh tế và chính sách tiền tệ với trọng tâm là ổn định tiền tệ.
Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung ương chính là trái
tim của nền kinh tế. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một ngân
hàng trung ương thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ. Ngược lại, những
trục trặc trong hoạt động của ngân hàng trung ương cũng có thể gây ra những cú “đột
quỵ” đối với cả nền kinh tế. Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, ngân hàng trung ương cũng
đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.
Qua đây ta thấy được tầm quan trọng của ngân hàng trung ương như thế nào đối với cả
quốc gia nhưng đã bao giờ bạn quan tâm rằng nó hoạt động ra sao? Hoạt động theo mô
hình nào và vì sao nó lại quan trọng đến thế?
Xuất phát từ những lý do trên em lựa chọn đề tài : “Các mô hình hoạt động hoạt
động của ngân hàng trung ương trên thế giới”.
Để tìm hiểu chi tiết hơn về đề tài này em chia bài ra làm 3 phần như sau:
Phần 1 : Lời mở đầu
Phần 2 : Nội dung bao gồm sự ra đời ngân hàng trung ương, mô hình hoạt động
Phần 3 : Kết luận, nhận xét chung.
Dù đã rất cố gắng trong việc xây dựng đề tài nhưng không tránh khỏi những thiếu sót
vì vậy kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để em có thể hoàn
thành đề tài tốt nhất. Em xin chân thành cảm ơn.
1
Ngân hàng trung ương có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính
sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp
lực chính trị khác.
Ngân hàng trung ương do có vai trò hết sức quan trọng tới đời sống kinh tế nên không
thể đặt dưới quyền chính phủ được mà phải do quốc hội kiểm soát.
Tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm
hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính
Được giao quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp chỉ đạo từ Chính
phủ hay cơ quan liên quan khác : rõ ràng, cụ thể và thống nhất
Quyết định trong việc thực thi các chính sách nên tăng tính chủ động và giảm độ
trễ của chính sách tiền tệ
Có thể từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách
Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính nhân sự
Trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch
Các ngân hàng trung ương theo mô hình này là ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, ngân
hàng trung ương Thụy Sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật bản và gần đây là ngân hàng trung
ương Châu Âu. Mô hình ngân hàng trung ương Châu Âu là một mô hình ngân hàng
hoạt động theo mô hình ngân hàng trung ương Đức mà về cơ chế hoạt động của mô
hình này là ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ nhưng điểm đặc biệt là ngân
hàng trung ương chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của 13 quốc gia thuộc khu vực
đồng tiền chung Euro.
2.3 Nhược điểm
3
Tuy nhiên, không phải tất cả các ngân hàng trung ương được tổ chức theo mô hình
này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính phủ khi điều hành
chính sách tiền tệ. Mức độ độc lập của mỗi ngân hàng trung ương phụ thuộc vào sự chi
phối của người đứng đầu nhà nước vào cơ chế lập pháp và nhân sự của ngân hàng trung
ương. Ngân hàng trung ương khó tránh khỏi sự chi phối chính trị và sự thực hiện hài
hòa giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa.
3. Ngân hàng trung ương thuộc chính phủ
của mô hình tổ chức này đối với truyền thống văn hoá Á Đông.
4. Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Bộ Tài Chính
Đây là loại mô hình kế thừa truyền thống cũ, khi Bộ tài chính còn làm nhiệm vụ
phát hành tiền quốc gia. Mô hình này xuất hiện đầu tiên ở Pháp, Anh, sau đó là các
nước Malaysia , Thái Lan , Indonesia … Người ta lần lượt từ bỏ mô hình này bởi vì cơ
quan phát hành tiền trực thuộc Bộ Tài chính thì khả năng sử dụng công cụ phát hành bù
đắp thiếu hụt ngân sách ngày càng dễ dàng. Cơ chế này tự nó tạo ra mâu thuẫn giữa một
cơ quan thực hiện nhiệm vụ của ngân sách với một cơ quan quản lý phát hành tiền và
điều tiết lưu thông tiền tệ. Hay nói cách khác cơ chế này tự tạo ra mâu thuẫn giữa một
cơ quan thực hiện nhiệm vụ của ngân sách “lấy thu để thực hiện chi tiêu” với một cơ
quan quản lý phát hành tiền và điểu khiển lượng tiền cung ứng.
5
Quốc hội
Chính phủ
Bộ tài chính
Ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, nhưng hoạt động quản lý
của ngân hàng trung ương khác về tính chất so với hoạt động quản lý của các Bộ. Bởi vì
việc quản lý của ngân hàng trung ương không chỉ bằng pháp luật mà còn được thực
hiện bằng cơ chế nghiệp vụ mang tính chất kinh doanh, thực chất đó là những công cụ
điều khiển vĩ mô không vì mục đích lợi nhuận. Hai mặt quản lý và kinh doanh gắn liền
với nhau mà trong đó hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để thực hiện mục tiêu
quản lý.
5. Liên hệ Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Hiện nay, vị trí của ngân hàng Nhà nước đã được xác định trong pháp lệnh “ngân
hàng Nhà nước” năm 1990: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, gọi tắt là ngân hàng Nhà
nước, là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) có chức năng quản lý Nhà
nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng nhằm ổn định giá trị đồng tiền, là cơ quan duy nhất
phát hành tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
5.1 Mô hình hiện nay của Ngân hàng trung ương
thuộc chính phủ là … hợp lý! Tuy nhiên không vì lựa chọn mô hình này mà ta không để
ý với sự độc lập của ngân hàng trung ương, nếu không chúng ta sẽ phải chịu hậu quả
nặng nề trước sự biến động không ngừng của thị trường tài chính nói riêng hay cả nền
kinh tế toàn cầu nói chung. Để tồn tại trước những chấn động không ngừng này bắt
buộc ngân hàng trung ương phải có phản ứng nhanh nhạy trước những biến động đó,
mà sự nhanh nhạy, linh hoạt này lại gắn liền với sự độc lập của ngân hàng trung ương.
Do đó dù lựa chọn mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ thì cũng rất cần
thiết nâng cao tối đa tính độc lập của ngân hàng trung ương, bởi có thế ngân hàng trung
ương mới đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô hiệu quả, đặc biệt trong giai đoạn kiềm chế
lạm phát hiện nay.
5.3 Liên hệ tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thể hiện ở những khía cạnh
như sau:
7
5.3.1. Vị trí pháp lý độc lập
Điều 1 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẳng định vị trí pháp lý của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ (cơ quan ngang bộ) và là Ngân
hàng trung ương của Nhà nước Việt Nam. Nhưng thực tiễn đã cho thấy, khi Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ thì hoạt động của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào Chính phủ và vị trí pháp lý là Ngân hàng trung ương
của một quốc gia bị lu mờ. Gần như mọi hoạt động của Ngân hàng trung ương đều phải
được sự cho phép của Chính phủ (hoạt động phát hành tiền, thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia, hoạt động cho vay ngân sách trung ương, bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay
vốn nước ngoài, cho vay các tổ chức tín dụng trong trường hợp đặc biệt). ở đây, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam chỉ được coi như là cơ quan quản lý hành chính nhà nước,
giống như các bộ khác, chứ không phải là một thiết chế đặc biệt dù tổ chức, hoạt động
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ảnh hưởng rất lớn đến tính an toàn của hệ thống
ngân hàng, sự ổn định của giá trị đồng tiền, an ninh tiền tệ của một quốc gia.Trong khi
đó, cần phải khẳng định rằng, một Ngân hàng trung ương hiện đại phải có tính độc lập
về vị trí pháp lý, nhân sự, cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành, mục tiêu và về hoạt động
phát. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, những thách thức trên lĩnh vực tài chính
– ngân hàng đang ngày càng trở nên gay gắt, sự tham gia của các định chế tài chính có
vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường tiền tệ làm thay đổi cấu trúc của hệ thống tài
chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, dẫn đến hoạt động ngân hàng trở nên
sôi động hơn nhưng cũng phức tạp hơn, các loại rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
sẽ tiềm tàng hơn. Vì vậy, mục tiêu có rõ ràng thì Ngân hàng trung ương mới có thể
kiểm soát được rủi ro trong lĩnh vực quản lý của mình.
5.3.4. Độc lập trong hoạt động
Để đạt được mục tiêu đặt ra, Ngân hàng trung ương phải độc lập trong hoạt động của
mình. Hoạt động của Ngân hàng trung ương được ví như con dao hai lưỡi. Nếu thực
hiện không hợp lý sẽ gây hậu quả khôn lường cho cả nền kinh tế. Ngược lại, nếu biết sử
dụng, nó sẽ là công cụ hữu hiệu để đạt được các mục tiêu đặt ra. Điều đó đòi hỏi các
công cụ ngân hàng phải do Ngân hàng trung ương tự hoạch định, tự quyết định sử dụng
9
theo phương cách linh hoạt, mềm dẻo, tránh sự can thiệp không cần thiết của Chính
phủ. Hiện nay, mức độ độc lập, tự chủ trong hoạt động để theo đuổi mục tiêu hoạt động
của Ngân hàng trung ương còn rất thấp. Điều 3 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam quy định: “Chính phủ xây dựng Dự án chính sách tiền tệ quốc gia, mức lạm phát
dự kiến hàng năm trình Quốc hội quyết định; tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia; quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông hàng năm, mục đích sử
dụng số tiền này và định kỳ báo cáo ủy ban Thường vụ Quốc hội; quyết định các chính
sách cụ thể khác và các giải pháp thực hiện. Qua điều luật ta thấy, hoạt động của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực chính sách tiền tệ quốc gia hoàn toàn thụ
động, phụ thuộc vào Chính phủ. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý
của Ngân hàng trung ương. Trong khi đó, Ngân hàng trung ương là cơ quan am hiểu
hơn ai hết về hoạt động ngân hàng, về những diễn biến trên thị trường tiền tệ, về khả
năng phân tích các thông tin kinh tế có khả năng tác động tới thị trường tài chính. Thiết
nghĩ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần được giao quyền tự chủ trong việc hoạch
định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, độc lập trong việc lựa chọn các công cụ để
thực thi chính sách này theo hướng giảm thiểu đối đa việc sử dụng các công cụ trực
Từ những phân tích trên ta thấy được vai trò cũng như cách hoạt động của từng loại
mô hình đặc biệt liên hệ tới ngân hàng trung ương Việt Nam. Việc lựa chọn mô hình
này đã tạo được sự đồng bộ trong mục tiêu phát triển kinh tế với chính phủ, giúp chính
phủ thuận lợi trong việc hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, giảm thâm hụt ngân sách, tạo
niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Không những thế nó còn là nền tảng cho những thay
đổi mang tính độc lập hơn của ngân hàng trung ương sau này.
Tuy nhiên mô hình này cũng mang lại một vài điểm hạn chế như là ngân hàng trung
ương sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Sự phụ thuộc vào
chính phủ có thể làm cho ngân hàng trung ương xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn
định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế. Thẩm quyền của ngân hàng nhà nước
11
trong xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ còn hạn chế, ngân hàng nhà nước có
mức độ độc lập thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ.
Về lí thuyết khi áp dụng mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ thì
tỷ lệ lạm pháp khó duy trì ở tỷ lệ thấp hơn là mô hình độc lập với chính phủ vì
chính phủ có thể lợi dụng ngân hàng trung ương để bù đắp thâm hụt ngân sách.
Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động)
cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi chính sách tiền tệ. Đây là
một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của ngân hàng
trung ương, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. Đây
chính là trường hợp của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay và trên thực tế
thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập.
Làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia, thậm chí đôi khi gây ra sự chậm trễ trong chính sách phản ứng trước các
diễn biến khó lường trên thị trường tài chính tiền tệ ảnh hưởng đến sự ổn định
của đồng tiền
Vì là cơ quan của Chính phủ nên có khi ngân hàng nhà nước phải thực hiện
những nhiệm vụ không phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ. Như vậy
ngân hàng nhà nước Việt Nam chỉ được coi là cơ quan quản lý hành chính nhà
nước, giống như các bộ khác chứ không phải là thiết chế đặc biệt dù tổ chức,