Khảo sát thành phần hóa học và cô lập một số hợp chất có trong cây cỏ mực (eclipta prostrata l )họ cỏ mực (asteraceae) - Pdf 23


Cần Thơ,2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM GÓP PHẦN KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HOÁ HỌC VÀ
CÔ LẬP MỘT SỐ CHẤT TRONG CÂY CỎ MỰC
(ECLIPTA PROSTRATA L. ), HỌ CÚC (ASTERACEAE)
 Thầy Ngô Quốc Luân, cô Lê Thị Lộc, cô Thái Thị Tuyết Nhung và các thầy cô
khác trong Bộ môn đã quan tâm, giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức thức quý báu
trong suốt thời gian học tập tại trường để tôi có thể thực hiện tốt đề tài.
 Cô Nguyễn Thị Thu Thủy - Trưởng Bộ môn Hóa Học, Khoa Sư Phạm, Trường
Đại học Cần Thơ đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ không chỉ riêng cá nhân
tôi mà đối với tất cả các bạn sinh viên thực hiện đề tài.
 Cha mẹ, gia đình đã ủng hộ, động viên cho tôi về tinh thần và vật chất giúp tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
 Tập thể lớp Sư phạm Hóa học khóa 35 – những người đã luôn ở bên tôi, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi để cho tôi được học tập, nghiên cứu, hoàn thành tốt luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài

Luận văn tốt nghiệp ii

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN




GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài

Luận văn tốt nghiệp
II.1. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 10
II.2. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới 11
II.2.1. Thành phần hóa học của cây cỏ mực
[3,18,22,30,31,32]
11
II.2.2. Các hợp chất tiêu biểu đã được cô lập từ cỏ mực 12

GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài

Luận văn tốt nghiệp v
Phần hai: THỰC NGHIỆM
I. DỤNG CỤ - HÓA CHẤT 19
I.1. Dụng cụ 19
I.2. Hóa chất 20
II. NGUYÊN LIỆU 20
II.1. Quá trình thu hái và xử lí nguyên liệu 20
II.1.1. Thu hái nguyên liệu 20
II.1.2. Xử lí nguyên liệu 20
II.1.3. Xác định độ ẩm nguyên liệu 20
III. QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM 22
III.1. Sơ đồ điều chế cao Etyl acetat 22
III.2. Các bước tiến hành 23
IV. ĐỊNH TÍNH CÁC NHÓM HỢP CHẤT TRONG CỎ MỰC 23
IV.1. Xác định sự hiện diện của steroid 23
IV.2. Xác định sự hiện diện của flavonoid 24
IV.3. Xác định sự hiện diện của alkaloid 24
IV.4. Xác định sự hiện diện của saponin 25

H-NMR của hợp chất EPT01 PL4
Phụ lục 3. Phổ
13
C-NMR của hợp chất EPT01 PL5
Phụ lục 3a. Phổ
13
C- NMR mở rộng của hợp chất EPT01 PL6
Phụ lục 3b. Phổ
13
C- NMR mở rộng của hợp chất EPT01 PL7
Phụ lục 4a. Phổ DEPT kết hợp phổ
13
C- NMR của hợp chất EPT01 PL8
Phụ lục 4b. Phổ DEPT kết hợp phổ
13
C- NMR của hợp chất EPT01 PL9
Phụ lục 5. Một số hình ảnh minh họa thành phần hóa học trong cây Cỏ mực PL10


3
: Chloroform.
d : Doublet
DEPT : Distortionless Enhancement by Polarization Transfer.
EtOAc : Ethyl acetate.
g : Gam.
J : Hằng số ghép spin.
m : Multiplet (Mũi đa).
mg : Miligam.
MeOH : Methanol.
MHz : Mega Hertz.
NMR : Nuclear Magnetic Resonance (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân).
PE : Petroleum Ether (Ether dầu hỏa).
ppm : Part per million (Phần tỉ).
R
f
: Retention factor.
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài

Luận văn tốt nghiệp viii
t : Trilet (Mũi ba)
s : Singlet (Mũi đơn).
Stt : Số thứ tự.
TLC : Thin layer chromatography (Sắc ký bản mỏng).

Bảng 3. Xác định độ ẩm của nguyên liệu.
Bảng 4. Kết quả định tính thành phần hóa học cây Cỏ mực.
Bảng 5. Kết quả sắc ký quá trình sắc ký cột.
Bảng 6. Kết quả đo nhiệt độ nóng chảy của hợp chất EPT01.
Bảng 7. Phổ hồng ngoại của hợp chất EPT01.
Bảng 8. Phổ
13
C–NMR của hợp chất EPT01.
Bảng 9. So sánh phổ IR của EPT01 với 3-O-

-D-glucosyl-brassicasterol.
Bảng 10. So sánh số liệu phổ NMR của hợp chất EPT01 với3-O-

-D-glucosyl-
brassicasterol.
Sở đồ 1. Quy trình thực nghiệm.
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài

Luận văn tốt nghiệp xi

TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Cây Cỏ mực Eclipta prostrata (L.) thuộc họ cúc (Asteraceae) - Một loài cây mọc tập
trung nhiều ở hầu hết các nước vùng Nam và Đông Nam châu Á.
Từ bột khô của cây Cỏ mực tiến hành ngâm chiết với Etanol tuyệt đối, sau đó lần
lượt chiết với Petroleum Ether, Etyl axetat. Thu hồi dung môi dưới áp suất thấp thu được
cao Etyl acetat.
Cao Etyl acetat tiến hành sắc kí cột silica gel kết hợp với phương pháp sắc kí lớp
mỏng thu được một hợp chất tinh khiết. Từ phổ IR,
1
H-NMR,
13
C-NMR kết hợp với đo
nhiệt độ nóng chảy hợp chất được xác định là 3-O-

-D-glucosyl-brassicasterol.


nghiên cứu các loài cây cỏ chữa bệnh và đã tìm ra được rất nhiều dược phẩm có giá trị
cho y học.
Trong các loài cây Cỏ chữa bệnh truyền thống trên không thể không nhắc đến cây
Cỏ mực. Cỏ mực là một cây thuốc nam rất thông dụng, mọc hoang hầu như khắp nơi,
hiện là một dược liệu đang được nghiên cứu về khả năng bảo vệ gan và trừ được nọc độc
của một số loài rắn nguy hiểm.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây Cỏ mực ở các nước như: Ấn Độ, Trung
Quốc, Pakistan, Thái Lan, Banglades,…Còn ở Việt Nam thì có rất ít công trình nghiên
cứu.
Nhằm góp phần thêm cho những nghiên cứu về cây Cỏ mực. Trong luận văn này,
chúng tôi tiến hành khảo sát thành phần hóa học, đã cô lập và nhận danh cấu trúc một hợp
chất tinh khiết từ cây Cỏ mực đó là 3-O-

-D-glucosyl-brassicasterol.
Phần một

TỔNG QUAN



Thân hình trụ, có khía dọc, dài khoảng 30-50 cm, đường kính 2-5 cm. Mặt ngoài thân
màu tím nâu nhạt và mang lông cứng, trắng.
Hình 1. Cây cỏ mực
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài Luận văn tốt nghiệp
- 2 - Lá nguyên, mọc đối, hình mũi mác, màu xám đen và nhăn nheo, dài 2,5–5 cm. Hai mặt lá
đều có lông cứng ngắn, màu trắng. Mép phiến lá có răng cưa to và nông. Gốc phiến lá
men xuống nên coi như không có cuống lá.


Cây rất đa dạng. Thân có thể thắt lại ở mấu và phình ra ở dóng. Lá có khi to bản, hình
bầu dục hoặc hình trứng.
I.2. Phân bố và sinh thái
[3]
Cây Cỏ mực mọc tập trung ở hầu hết các nước vùng Nam và Đông Nam châu Á.
Ở Việt Nam, Cỏ mực phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh vùng đồng bằng, trung du và miền
núi đến độ cao 1500 m (ở các tỉnh phía Nam). Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng
râm, thường mọc lẫn với các loại cỏ thấp, trên đất ẩm ở bãi sông, ruộng trồng hoa màu,
Hình 4. Hoa cỏ mực
Hình 5. Quả cỏ mực
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài Luận văn tốt nghiệp
- 4 -
ven đường đi, bãi hoang quanh làng bản… Ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên
chủ yếu bằng hạt. Bên cạnh đó, với khả năng mọc chồi gốc và phân cành nhiều, cây dễ
dàng phát triển, tạo thành đám bò lan trên mặt đất. Ngoài việc thu hái từ nguồn hoang
dại, trước đây cỏ mực chỉ được trồng lẻ tẻ với quy mô ở các gia đình. Gần đây, cây đã bắt
đầu được trồng phổ biến hơn ở một số nơi.
Cách trồng:
Cỏ mực được nhân giống bằng hạt. Hạt chín rải rác vào mùa hè và mùa thu, vì
vậy hạt chín đến đâu thu ngay đến đó, đem phơi khô và bảo quản đến mùa xuân năm
sau thì gieo. Hạt cỏ mực rất nhỏ nhưng tỷ lệ nảy mầm cao. Thường áp dụng cách gieo

Chữa sốt xuất huyết: Cỏ mực tươi 30 g, rau má tươi 30 g, bông mã đề tươi (hoặc cối
xay, rễ cỏ tranh) 20 g. Vắt lấy nước uống hoặc sắc uống. Bài thuốc này cũng có thể dùng
để phòng bệnh.
Chữa các chứng đau sưng ở trẻ em và người lớn: Cỏ mực, rau diếp cá, lá xương
sông, lá huyết dụ, lá khế, lá dưa chuột, lá nhài, lá cải trời giã nát, thêm nước, vắt lấy nước
uống, bã dùng xoa, đắp chỗ sưng.
Chữa trẻ em tưa lưỡi: Cỏ mực tươi 4 g, hẹ 2 g. Hai vị rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy
nước cốt, hòa mật ong, trộn đều, chấm thuốc vào lưỡi, cách 2 giờ một lần.
Chữa rong kinh, rong huyết sau khi đặt dụng cụ tử cung: Cỏ mực 16 g, đương quy
12 g, sinh địa 16 g, hoài sơn 16 g, bạch thược 12 g, thỏ tỵ tử 12 g, ích mẫu 12 g, hương
phụ 10 g, xuyên khung 8 g sắc uống.
Chữa động thai băng huyết: Cỏ mực 1 nắm, ngải cứu 1 nắm, trắc bách diệp 1 nắm
sao cháy đen, cành tía tô 12 g (hoặc nhọ chảo, nhọ soong 10 g), củ gai 12 g. Sắc đặc uống
làm 1 lần.
Ho do viêm họng hoặc viêm amidan cấp: Cỏ mực tươi 50 g, sắc uống mỗi ngày một
thang, trong 3 ngày.
Chữa thấp khớp: Cỏ mực 16 g, rễ cỏ xước 16 g, hy thiêm 16 g, thổ phục linh 20 g,
ngải cứu 12 g, thương nhĩ tử 12 g. Sao vàng, sắc đặc, ngày uống một thang, trong 7-10
ngày liền.
Chữa di mộng tinh: Cỏ mực sấy khô tán nhỏ, uống mỗi lần 8 g với nước cơm, hay
sắc 30 g uống.
Chữa chảy máu kéo dài do nguyên nhân bệnh: Cỏ mực, đảng sâm, ô tặc cốt, mỗi vị
16 g; hoàng kỳ, bạch truật, địa du, ngải cứu, trắc bá diệp, mỗi vị 12 g; đương quy 8 g,
cam thảo 6 g. Sắc uống ngày một thang.
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài Luận văn tốt nghiệp
- 6 -
Chữa đáy ra máu do viêm nhiễm mãn tính đường tiết niệu: Cỏ mực 16 g; hoàng bá,


Luận văn tốt nghiệp
- 7 -
được trộn với gôm để chữa đau răng và đắp với một ít dầu để trị nhức đầu. Nó cũng được
đắp với dầu vừng để trị phù voi. Cây cỏ mực được dùng làm chất nhuộm để xăm hình. Lá
cỏ mực được dùng làm rau ăn ở Java, và làm gia vị ở một số vùng Ấn Độ.
Tại Pakistan:
Cỏ mực được gọi tại Pakistan là Bhangra, bhringaraja, được dùng trong dân gian
dưới nhiều dạng. Cây tươi được dùng làm thuốc bổ chung, giúp giảm sưng gan và lá lách,
trị bệnh ngoài da, trị suyễn, khi dùng trị bệnh gan liều nước sắc sử dụng là 1 thìa cà phê
hai lần mỗi ngày; cây giã nát, trộn với dầu mè được dùng để đắp vào nơi hạch sưng, trị
bệnh ngoài da. Lá dùng trị ho, nhức đầu, hói tóc, gan và lá lách sưng phù, vàng da.
Tại Trung Hoa:
Eclipta prostrata, hay Mò hàn lian: Lá được cho là giúp mọc tóc. Toàn cây làm chất
chát cầm máu, trị đau mắt, ho ra máu, tiểu ra máu, đau lưng, sưng gan, vàng da. Lá tươi
được cho là có thể bảo vệ chân và tay nông gia chống lại sưng và nhiễm độc khi làm việc
đồng-áng, tác dụng này theo Viện Y học Chiang-su là do ở thiophene trong cây.
Đông Y cổ truyền gọi cỏ mực là Hạn liên thảo (Han lian cao), hay Mặc hạn liên.
(Nhật dược gọi là Kanrensò) dược liệu là toàn cây thu hái vào đầu mùa thu. Cây mọc
hoang tại các vùng Giang Tây, Triết Giang, Quảng Đông, được cho là có vị ngọt/chua,
tính mát; tác dụng vào các kinh mạch thuộc Can, Thận.
Han lian cao có những tác dụng: Dưỡng và Bổ Âm-Can và Âm-Thận. Được dùng trị
các chứng suy Âm Can và Âm Thận với các triệu chứng choáng váng, mắt mờ, chóng
mặt, tóc bạc sớm; thường dùng phối hợp với Nữ trinh tử.
Lương huyết và cầm máu (Chỉ huyết): trị các chứng Âm suy với các triệu chứng
chảy máu do nhiệt tại huyết như ói ra máu, ho ra máu, chảy máu cam, phân có máu, chảy
máu tử cung và tiểu ra máu. Để trị tiểu ra máu cỏ mực được dùng chung với Mã đề (Xa
tiền thảo = Che qian cao (Plantaginis)) và rễ cỏ tranh (Bạch mao căn = Bai mao gen
(Rhizoma Imperatae)); để trị phân có máu, dùng chung với Địa du = di yu (Radix
Sanguisorbae); để trị ói ra máu, dùng chung với Trắc bách diệp xấy khô = Ce bai ye

áp dụng thuốc, thụt âm đạo bằng nước chín. Sau đó tẩm cao lỏng lá Cỏ mực
vào một bấc, bội khắp diện âm đạo. Sau 6-8 giờ, bệnh nhân tự rút bấc ra. Tỷ
lệ bệnh nhân khỏi và đỡ đối với viêm âm đạo do tạp khuẩn: 86,3%, đối với
nấm: 73%, đối với Trichomonas: 61,9%.
 Bài thuốc có Cỏ mực và 7 thuốc khác đã được áp dụng để điều trị viêm âm
đạo do Trichomonas thể hư chứng, phối hợp với một bài thuốc khác dùng
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài Luận văn tốt nghiệp
- 9 -
ngoài. Kết quả điều trị trên 68 bệnh nhân: khỏi 80,8 %, đỡ 11,7 %.
Trên lâm sàng, đã dùng cao cầm máu bào chế từ Cỏ mực và 4 dược liệu khác thay
hoàn toàn nước oxy già trong 697 ca cắt amidan, 3.162 ca nạo VA (sùi vòm họng) và 417
ca nhổ răng, không có tai biến nào.
Một bài thuốc cầm máu gồm Cỏ mực và cóc kèn đã được nghiên cứu dược lý và áp
dụng trên lâm sàng. Về dược lý, bài thuốc có độc tính thấp, không ảnh hưởng trên tim,
huyết áp và hô hấp, làm gia tăng sự bền vững của thành mạch, làm tăng số lượng tiểu cầu
trong máu thỏ, làm giảm thời gian máu đông và rút ngắn thời gian máu chảy. Trên lâm
sàng, thuốc không gây các phản ứng phụ, không có hiện tượng dị ứng, không làm hạ
huyết áp, có tác dụng lợi tiểu.
Một bài thuốc khác gồm Cỏ mực và 7 dược liệu khác đã được áp dụng cho 24 bệnh
nhân viêm gan virus, kết quả tốt cả về lâm sàng và xét nghiệm sinh hoá ở 22 bệnh nhân.
Chế phẩm bào chế từ 3 dược liệu: Cỏ mực, huyền sâm, sài đất đã được áp dụng để điều
trị các bệnh cao huyết áp, chế phẩm này đã có tác dụng như sau: an thần ở 66,66% bệnh
nhân, hạ áp ổn định ở 66,66% bệnh nhân; lợi tiểu (tăng lượng nước tiểu 300-400
ml/ngày) ở 63,88% bệnh nhân, thuốc không gây phản ứng phụ khi dùng điều trị lâu dài.
Bài thuốc trong có Cỏ mực và 12 dược liệu khác dùng điều trị sốt xuất huyết, đã làm
bớt sốt từ từ, tránh được hạ nhiệt độ đột ngột, đồng thời có tác dụng ngăn chặn chảy máu,
làm giảm nhẹ bệnh trạng.

toxin, bothropasin và crotoxin. Sự hữu hiệu được đo lường bằng tốc độ phóng thích
creatine kinase từ cơ bắp chuột. Kết quả cho thấy (invitro) độc tính trên bắp thịt của
nọc rắn crotalid và các độc tố tinh khiết đều bị trung hòa bởi WE và dịch trích cỏ mực
(EP), cả WE lẫn EP đều ức chế tác dụng gây chảy máu của nọc Bothrops, ức chế tác
dụng của men phospholipase A2 trong crotoxin, và tác dụng ly giải protein của nọc
B.jararaca.
II. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY
CỎ MỰC

II.1 Các công trình nghiên cu tại Vit Nam
Mặc dù Cỏ mực là dược thảo được biết đến từ rất lâu tại Việt Nam nhưng đến nay
còn ít công trình nghiên cứu về nó.
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Diễm Hồng đã thăm dò tác
dụng của cao cồn và cao nước của cây cỏ mực trên đường huyết và đưa đến kết quả là
cao chiếc cồn 45
0
của cỏ mực có tác dụng hạ đường huyết trên mô hình gây quá tải
glucose, với thời gian có tác dụng là 45 phút sau khi uống và liều có tác dụng là 0,5 g/kg
thể trọng.
GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hùng SVTH: Nguyễn Hửu Tài Luận văn tốt nghiệp
- 11 -
Tác giả Võ Thanh Thúy đã xác định một số hợp chất trong cây Cỏ mực như:
Wedelolacton,stigmasterol, poriferasterol, 3-O-β-D-Glucopyranosyl, acid echinocystic.
Và đã thử nghiệm tính kháng khuẩn ở các hợp chất stigmasterol, poriferasterol, 3-O-β-
D-Glucopyranosyl.
Tác giả Trần Vũ Thiên từ cao EtOAc đã phân lập và nhận danh được một hợp chất
coumarin và một triterpene đó là Wedeolactone và 3β-O-β-D-Glucopyranosyl-16α-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status