2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 04
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT…………………………………………………………… 05
DANH MỤC BẢNG BIỂU ……………………………………………………………… 06
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 07
1.1 Khái niệm – Đặc điểm của NHTM 07
1.1.1 Khái niệm – Đặc điểm của NHTM 07
1.1.1.1 Khái niệm 07
1.1.1.2 Đặc điểm của NHTM 07
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
08
1.1.2.1 Ngân hàng thương mại – Trung gian tín dụng 08
1.1.2.2 Ngân hàng thương mại – Trung gian thanh toán 09
1.1.2.3 Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp 10
1.1.3 Hoạt động cơ bản của NHTM 10
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của NHTM 11
1.2.1 Nguồn vốn tại ngân hàng thương mại 11
1.2.1.1 Nguồn vốn tại NHTM 11
1.2.1.2 Nguồn vốn đi vay 12
1.2.1.3 Các nguồn vốn khác của NHTM 13
1.2.1.4 Vốn chủ sở hữu và các quỹ 13
1.2.2 Phân loại sử dụng vốn tại NHTM 14
1.2.2.1 Tiền dự trữ 14
1.2.2.2 Đầu tư vào chứng khoán 14
1.2.2.3 Tiền cho vay 15
1.2.2.4 Các khoản đầu tư khác 15
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
3.2.1.1 Đa dạng hóa các hình thức tín dụng 42
3.2.1.2 Đa dạng hóa về loại tiền cho vay và ngành nghề cho vay 44
3.2.2 Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng 44
3.2.3 Về công tác nguồn vốn 45
3.2.4 Về kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế 46
3.2.5 Về công tác thu nợ 47
3.3. Một số kiến nghị 47
3.3.1. Đối với nhà nước 47
3.3.2. Đối với NHNo&PTNT Bắc Hà Nội 49
3.3.3. Đối với Agribank Bắc Hà Nội 50
3.3.4. Đối với các doanh nghiệp vay vốn 51
KẾT LUẬN 52
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Ths.Nguyễn Thị Vân Anh đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và cho em những ý kiến quý báu để em có thể hoàn thành chuyên đề
thực tập tốt nghiệp này.
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị cán bộ, nhân viên
Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội đã hướng dẫn và giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực tập cũng như trong quá trình thực hiện chuyên đề thực tập
tốt nghiệp .
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
27
Bảng 2.5 Huy động vốn và sử dụng
vốn tại NHNo&PTNT Bắc
Hà Nội qua 3 năm 2010 –
2012
29
Bảng 2.6 cơ cấu đầu tư tín dụng của
NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
theo thành phần kinh tế
32
Bảng 2.7 Tình hình nợ quá hạn tại
NHNoPTNT Bắc Hà Nội
34
Bảng 3.1 KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
GIAI ĐOẠN 2013 - 1016
40
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm – Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1Khái niệm:
Ngân hàng thương mại đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Ngay
nửa đầu thế kỳ 16, ở Châu Âu đã ra đời một số ngân hàng đầu tiên mà tiền thân là những
tổ chức cho vay nặng lãi. Vào thời điểm này, ngân hàng phát triển ở trình độ thấp, hoạt
động của ngân hàng chỉ gói gọi trong lĩnh vực giữ hộ tiền và cho vay. Cùng với sự phát
nghĩa là chỉ khi ngân hàng thương mại thoải mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe do phát
luật quy định về vốn, phương án kinh doanh… thì mới được phép hoạt động trên thị
trường.
Ba là, hoạt động ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủ ro cao
hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh thưởng sâu sắc tới các
ngành khác và cả nền kinh tế. Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là
hoạt động kinh doanh tiền tệ do các ngân hàng tiến hành huy động vốn của người khác
rồi đem vốn đó để cấp tín dụng cho khác hàng theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong
một thời gian nhất định, nên đã tạo rủi ro cho các hoạt động ngân hàng thương mại. Rủi
ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền, rủi ro đến từ những yếu tố khách quan.
Bởi vây, ngân hàng thương mại phải đối mặt với rủi ro cao, kéo theo là rủi ro đối với
những người gửi tiền ở ngân hàng thương mại cũng như đối với nền kinh tế. Để tránh rủi
ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát, làm giảm nhẹ những tổn hại do ngân hàng vỡ nợ gây
ra, chính phủ các quốc gia đặt ra những đạo luật riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động này
được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Tầm quan trọng của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức năng của
nó. Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thương mại là trái tim của nên kinh tế. Ngân
hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi được khơi thông đưa tiền từ
nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lưu chuyển tiền tệ một cách hiệu quả. Các chức
năng của ngân hàng thương mại có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau,
nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh
toán, chắc năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1 Ngân hàng thương mại – Trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng thương mại và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức năng
trung gian tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế, khơi
nguồn vốn từ những người có vốn nhàn rỗi sang những người có nhu cầu về vốn.
Trong nền kinh tế, do các đơn vị kinh tế có nhu cầu về tiền, vốn vào thời điểm
khác nhau là khác nhau, gây ra những hiện tượng thừa, thiếu tạm thời. Ngân hàng thương
thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiến vị trí rất quan trọng, phù hợp với sự phát triển
và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các nước phát triển, phần lớn các công tác thanh toán
ở trong nước được thực hiện thông qua séc và phần lớn séc thanh toán ở trong nước được
thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Với phương
pháp công nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính và
các phương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện, thanh toán bù trừ được nhanh chóng giảm
bớt chi phí và có độ chính xác cao. Quá trình lưu thông chuyển vốn từ tài khoản người
mua sang tài khoản người bán có một đặc điểm phi vật chất. Bằng chứng là ở các nước
công nghiệp phát triển sử dụng hình thức chuyển tiền điện tử là chuyện bình thường. Họ
thanh toán bằng nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoảng người mua sang tài khoản người bán một cách
nhanh chóng tiện lợi.
Như vậy, ngân hàng đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩy nhanh
tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.
1.1.2.3 Chức năng tạo ra tiền của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp.
Vào thế kỷ 19, hệ thống ngân hàng hai cấp đã được hình thành, các ngân hàng
không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương
là cơ quan quản lý, về tiền tệ tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng còn các ngân hàng
thương mại, kinh doanh tiền tệ.
Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các ngân hàng thương mại đã tạo ra bút tệ. Việc
tạo ra bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động ngân hàng; chức năng tạo ra
bút tệ được thông qua hoạt động tín dụng và đầu tư của ngân hàng thương mại trong mối
quan hệ tùy thuộc vào ngân hàng Trung ương. Nhờ nhận tiền ký thác của khách hàng,
ngân hàng thương mại có khả năng đầu tư. Nhưng khi đầu tư, ngân hàng tạo ra tiền ký
thác mới, còn gọi là tiền bút tệ, tiền chuyển khoản ngân hàng thương mại trở thành người
cung ứng tiền bút tệ quan trọng trong nền kinh tế.
*Hoạt động sử dụng vốn: sau khi huy động vốn, để bù đắp được chi phí huy động
vốn và có lợi nhuận thì ngân hàng thương mại phải tìm cách sử dụng có hiệu quả các
nguồn vốn này để thu lãi. Đây là hoạt động chủ yếu và đem lại tỷ trọng thu nhập lớn nhất
cho ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại sử dụng vốn theo các hướng cơ bản là
hoạt động tín dụng, đầu tư chứng khoản, đầu tư mua sắm tài sản cố định và trang thiết bị,
hoạt động ngân quỹ trong đó hoạt động tín dụng là quan trọng nhất bởi nó đem lại phần
lớn thu nhập cho ngân hàng.
*Các hoạt động trung gian của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động thanh
toán, hoạt động quản lý sản cho khách hàng, hoạt động phát hành chứng khoán, hoạt
động mua bán và bảo quản chứng khoán, hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn kinh
doanh và quản trị doanh nghiệp… Các hoạt động trung gian này không phải đem lại
nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thương mại nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong
việc mở rộng hoạt động huy động vốn và sử dụng nguồn vốn, đồng thời đa dạng hóa hoạt
động, giảm bớt rủi ro và tăng thu nhập cho ngân hàng.
Trên đây là ba nhóm hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, mỗi hoạt động
có những đặc điểm khác nhau song có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho
nhau. Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng, không được coi nhẹ hoạt động nào mà
phải luôn đặt mối quan hệ giữa chúng trong khi đề ra chiến lược cũng như lập kế hoạch
kinh doanh để đạt được hiệu quả trong hoạt động.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Nguồn vốn tiền gửi
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất chiếm bộ phận lớn trong tổng số
nguồn vốn của NHTM, thường chiếm khoảng 50 – 60% nhưng hiện nay tỷ lệ này đang
giảm dần.
Theo tính chất giao dịch việc huy động vốn chia làm 2 loại: Tiền gửi giao dịch và
tiền gửi tiết kiệm, nó có thể được chia thành dạng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nguồn
vốn nằm trên tài khoản thanh toán và tiết kiệm không kỳ hạn là khá lớn bởi nó phục vụ
cho nhu cầu thanh toán giao dịch trong nền kinh tế. Đặc điểm của nguồn vốn này là ngắn
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
vốn, tuy nhiên cách làm này chi phí hơi cao vì lãi suất tín dụng qua đêm là lãi suất nóng.
Ngoài ra, ngân hàng thương mại có thể vay vốn trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ
thông qua phát hành các kỳ phiếu ngắn hạn, trái phiếu trung và dài hạn.
Đặc điểm của nguồn vốn đi vay là ổn định hơn nguồn vốn tiền gửi nhưng chi phí
vốn cao hơn. Tỷ lệ nguồn đi vay đang có xu hướng chiếm khoảng 15 – 20% tổng nguồn
vốn ngân hàng thương mại. Việc huy động vốn còn phụ thuộc chính sách tiền tệ của
NHNN, các hoạt động nói chung của ngân hàng thương mại và tính năng động của thị
trường chứng khoán.
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
1.2.1.3 Các nguồn vốn khác của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại còn có những nguồn vốn khác như nguồn vốn ủy thác,
nguồn vốn mà ngân hàng đứng ra quản lý hộ một tổ chức để đầu tư vào một dự án lớn
mang lại lợi nhuận cao, trong trường hợp này ngân hàng sẽ hưởng hoa hồng và dịch vụ
quản lý.
Nguồn vốn trong thanh toán hình thành từ đặc điểm thanh toán không dùng tiền
mặt khi mà sự vận động giữa hàng hóa và tiền tệ luôn có một khoảng thời gian nhất định.
Kế toán ngày càng hiện đại thì khoảng thời gian này ngày một rút ngắn, nguồn vốn bị thu
hẹp nhưng tăng tính cạnh tranh cho ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn hình thành từ các khoản nợ của ngân hàng chưa đến hạn phải trả.
1.2.1.4 Vốn chủ sở hữu và các quỹ
Trước khi bước vào hoạt động, mỗi ngân hàng đề có một khoản vốn nhất định
nhiều hơn hoặc bằng vốn pháp định do Nhà nước đặt ra, gọi là vốn điều lệ. Đối với ngân
hàng quốc doanh, vốn điều lệ thường do ngân sách Nhà nước cấp, các ngân hàng cổ phần
do các cổ đông đóng góp. Vốn điều lệ phục vụ cho việc mở rộng, khởi động ngân hàng,
tạo ra cơ sở vật chất ban đầu để ngân hàng đi vào hoạt động. Vốn điều lệ thể hiện quy
mô, uy tín của ngân hàng. Tỷ lệ vốn nhỏ chỉ chiếm 5 - 10% tổng nguồn vốn. Thường các
ngân hàng cổ phần sau một thời gian hoạt động muốn nâng vốn điều lệ lên bằng cách
một tỷ lệ nhất định tiền gửi mà ngân hàng huy động được tại Ngân hàng Nhà nước
(thường là 10%) để đảm bảo tiền gửi. Đây cũng là công cụ quan trọng trong quản lý lưu
thông tiền tệ. Thứ hai, bản thân ngân hàng cũng thấy rõ sự cần thiết phải giữ một ít tiền
mặt mà không nên cho vay hết. Việc giữ tiền mặt này để đảm bảo an toàn cho những hoạt
động còn lại, do vậy dự trữ tiền mặt trong tài sản còn gọi là “khoản đầu tư cho sự an
toàn”. Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ gửi tiền vào các ngân hàng lớn để đổi lấy các dịch vụ
khác nhau như tập hợp séc, giao dịch ngoại tệ. Các khoản này có tính lỏng nhất trong các
loại tài sản của ngân hàng chiếm khoảng 7% tổng tài sản, phục vụ nhu cầu thanh khoản
tại ngân hàng.
1.2.2.2 Đầu tư vào chứng khoán
Có thể thấy ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán
nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hóa các loại
hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro. Trong việc đầu tư vào chứng khoán, ngân hàng
thương mại chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái phiếu có tính thanh khoản cao.
Đây là những công cụ chính của thị trường tiền tệ tài chính. Việc mua và dự trữ các loại
trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho ngân hàng, mặt khác chúng là những công cụ
tài chính dễ lưu động hóa, vì vậy khi cần tiền ngân hàng có thể bán hoặc chiết khấu ở
ngân hàng khác hoặc ở NHNN.
1.2.2.3 Tiền cho vay
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại để tạo
ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí
rủi ro đầu tư.
Kinh tế ngày càng phát triển, hướng cho vay của các ngân hàng thương mại càng
tăng và loại hình cho vay cũng trở nên vô cùng đa dạng. Ở hầu hết các nước công nghiệp
trong nhóm 10 và 15 nước hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
1.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Khái niệm chung về sử dụng vốn
Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được là lẽ sống của ngân hàng
thương mại. Cho vay hay đầu tư vào các loại tài sản nào cũng đều là hoạt động kiếm lợi
nhuận. Tài sản có là những khoản nợ mà thị trường nợ ngân hàng hoặc là những khoản
mà ngân hàng cho thị trường vay. Đứng trên góc độ tính chất, ngân hàng là chủ nợ và các
đội tượng vay tiền của nó là con nợ. Vì mục tiêu của ngân hàng là cho vay để kiếm lời,
nên tài sản có hay các khoản mà ngân hàng cho vay còn được gọi là đầu tư.
Như vậy sử dụng vốn là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại.
Sử dụng vốn bao gồm:
- Dự trữ tiền mặt: Tiền mặt tại kho của ngân hàng
Tiền mặt ký gửi của ngân hàng Trung ương.
- Đầu tư vào chứng khoán ( trái phiếu, hối phiếu…)
- Cho vay
- Đầu tư vào các loạt tài sản ( như bất động sản, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị…)
1.2.3.2 Chỉ tiêu xác định hiệu quả sử dụng vốn
*Tổng dư nợ cho vay / Tổng nguồn vốn kinh doanh
Phản ánh cứ một đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng được đem đi cho vay.
*Doanh số cho vay / Tổng nguồn vốn kinh doanh
Phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh thì bao nhiêu đồng được đem đi cho vay.
1.2.3.3 Các vấn đề liên quan đến sử dụng vốn an toàn và hiệu quả
*Quản lý nguồn vốn tại ngân hàng thương mại
Phân tích cơ cấu nguồn vốn và quản lý nguồn vốn hướng tới mục tiêu ổn định hoạt
động của ngân hàng và đặc biệt hướng tới lợi nhuận. Nghĩa là: Ngân hàng phải đạt được
chiến lược làm sao tạo nguồn vốn ổn định có thể ổn định sử dụng. Và xây dựng cơ cấu
vốn hợp lý và giảm chi phí vốn ở mức thấp nhất.
Quản lý nguồn vốn về quy mô nghĩa là xem xét ngân hàng thương mại có khả
năng huy động vốn cao nhất là bao nhiêu. Cơ cấu, qui mô từng loạt vốn ảnh hưởng tới
nhu cầu tín dụng sẽ tăng vào mùa xuân.
Các biến động chu kỳ thường khó dự đoán hơn các biến động theo thời vụ. Trong
suốt thời kỳ suy thoái của một chu kỳ sản xuất, nhu cầu tín dụng giảm và tiền gửi ngân
hàng cũng có thể giảm theo. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương có
khuynh hướng bù đắp cho sự giảm sút tiền gửi ngân hàng trong toàn bộ hệ thống ngân
hàng suốt thời kỳ kinh tế trì trệ. Trong giai đoạn chấn hưng, nhu cầu tín dụng tăng vượt
mức tăng tiền gửi, khiến ngân hàng bán các tài sản lưu hoạt.
Kết quả của những biến động này trong nền kinh tế đã tác động đến mức tiền gửi
do đó ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản. Vấn đề đặt ra cho ngân hàng là phải
quản lý thanh khoản.
Quản lý thanh khoản của ngân hàng xác định nhu cầu khả năng đáp ứng nhu cầu
thanh khoản tín dụng cho khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào, tránh tình trạng khách
hàng đến rút tiền ồ ạt dẫn đến tình trạng ngân hàng phá sản. Điều quan tâm hàng đầu là
ngân hàng phải tính toán các loại tài sản có khả năng chuyển thành tiền mặt. Việc xác
định một mức thanh khoản hợp lý trong từng thời kỳ là hết sức khó khăn. Ngân hàng phải
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
dự đoán được nhu cầu của nền kinh tế tại các thời điểm khác nhau. Đồng thời dựa vào tỷ
lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng Trung ương ban hành để có chính sách tín dụng phù
hợp. Trong từng trường hợp thanh khoản có vấn đề, ngân hàng thường dùng biện pháp
bán đi các chứng khoán để chuyển đổi như tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái
phiếu và cổ phiếu của các công ty có chất lượng cao được ưa chuộng trên thị trường. Tiếp
theo ngân hàng rút các khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng khác. Trường hợp khẩn cấp, ngân hàng phải tiến hành thương lượng với các ngân
hàng thương mại khác để bán đi các khoản tín dụng có chất lượng cao. Thông báo trì
hoãn các khoản nợ sẽ là phương cách cuối cùng của ngân hàng thương mại.
*Quản lý rủi ro
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là những biến cố sự kiện, hiện tượng
của NHTM phải kể đến là thực trạng nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, các dịch vụ
ngân hàng ngày càng đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Bên
cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng hoạt
động kinh doanh của mình như các hoạt động tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, các dịch vụ
thanh toán. Ngược lại, một nền kinh tế ì ạch sẽ tác động xấy đến hoạt động kinh doanh
của NHTM. Bên cạnh đó, các yếu tố khác của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến hoạt động
huy động vốn như lạm phát, chu kỳ kinh tế…
Không những chịu ảnh hưởng của thực trạng nền kinh tế, các yếu tố về chính trị -
xã hội cũng như tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của NHTM. Hoạt động kinh doanh
của ngân hàng là loại hình hoạt động kinh doanh đặc biệt, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế
nên hoạt động ngân hàng chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Chính trị,
pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng chính là các chính sách tiền tệ tín dụng của Chính phủ
hoặc của Ngân hàng Trung ương. Vì vậy, tình hình chính trị ổn định là nền tảng cơ sở
cho ngân hàng thương mại hoạt động ổn định, từ đó đưa ra các điều kiện vay hợp lý đồng
thời đưa ra các hình thức dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú. Ngược lại,
khi tình hình chính trị không ổn định, các ngân hàng phải lo đối phó với những biến động
của thị trường cho vay, các hình thức đầu tư cũng bị hạn chế, các điều kiện cho vay khó
hơn…
1.3.2 Các yếu tố nội tại
Bên cạnh các yếu tố về môi trường kinh doanh, hoạt động sử dụng vốn của ngân
hàng thương mại còn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố nội tại bên trong của chính ngân
hàng. Hoạt động sử dụng vốn là một hoạt động trong tổng thể những hoạt động thống
nhất của NHTM bao gồm bao hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn, hoạt động sử
dụng vốn và các hoạt động cho vay. Hoạt động sử dụng vốn là các hoạt động cho vay,
các dịch vụ thanh toán… của ngân hàng nhằm thu lợi nhuận. Vì vậy, hoạt động vốn phải
gắn liền với hoạt động huy động vốn. Để có thể đầu tư, cho vay các ngân hàng phải có
vốn, như vậy muốn đáp ứng nhu cầu trên, các NHTM phải đi huy động vốn từ các tầng
lớp dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức trung gia tài chính khác… Ngân hàng
thương mại muốn hoạt động có hiệu quả thì hoạt động sử dụng vốn phải gắn liền hoạt
động huy động vốn, phải chú trọng phát triển đồng bộ cả hai hoạt động, bởi đó là hai mặt
vào NHNo&PTNT Việt Nam
Chi nhánh được thành lập theo quyết định số 342/QĐ/HĐQT – TCCB ngày 5/9/2001
của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam ban hành
Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đi vào hoạt động kinh doanh từ ngày 01/11/2001
với 42 cán bộ công nhân viên và Ban giám đốc.
Tên giao dịch : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh
Bắc Hà Nội. (Agribank Bắc hà Nội )
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam bank for Agriculture and Rural Development Bac
Hanoi Brach
Trụ sở chính hiện nay: 266 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội
* Chức năng và nhiệm vụ kinh doanh của NHNo&PTNT Bắc Hà Nội:
- NHNo&PTNT Bắc Hà Nội thực hiện các chức năng chính là huy động tiền gửi: Huy
động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh
tế trong và ngoài nước vốn vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo quy định của
NHNo&PTNT Việt Nam.
- Cho vay ngắn trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: Cho vay thông
thường, cho vay tài trợ theo dự án, cho vay đồng tài trợ, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu,
chiết khấu các giấy tờ có giá…
- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới nhiều hình thức khác nhau trong và
ngoài nước.
- Thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ như: thanh toán chuyển tiền điện tử trong
cả nước, thanh toán biên giới, thanh toán quốc tế qua mạng…
- Đầu tư dưới hình thức hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần, mua tài sản và các hình thức
đầu tư khác với các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng tài chính.
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
- Thực hiện làm đại lý và dịch vụ uỷ thác cho các tổ chức tài chính tín dụng và cá nhân
trong và ngoài nước như tiếp nhận và triển khai các dự án uỷ thác vốn, dịch vụ giải ngân
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
cho vay trung và dài hạn phải là nguồn vốn có thời hạn dài. Nhưng thực tế trong sổ tiền tệ
mà ngân hàng huy động được với nhiều kỳ hạn khác nhau, luôn xác định được nguồn vốn
ổn định có thời hạn dài phục vụ nhu cầy vay trung và dài hạn. Ngoài ra, ngân hàng có thể
chủ động đi vay các tổ chức kinh tế khác, huy động từ dân cư thông qua cách thức phát
hành kỳ phiếu ngân hàng để đảm bảo nguồn vay cho vay trung và dài hạn.
Trên thực tế bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh đều phải có
vốn. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt (hoạt động kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ) do vậy nhu cầu vốn đối với ngân hàng là hết sức cần thiết để thực hiện hoạt
động kinh doanh. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác, nguồn vốn chủ yếu của
một ngân hàng là vốn huy động. Do vậy để mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng cần
phải mở rộng hoạt động huy động vốn nhằm đảm bảo tính cạnh tranh của ngân hàng
mình với các ngân hàng khác.
Bảng 2.1: Biến động nguồn vốn huy động qua các năm 2010 - 2012
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 So với 2010 2012 So với 2011
+/- % +/- %
Tổng
nguồn
vốn huy
động
( Gồm cả
ngoại tệ
quy đổi
VND)
2.264.034 3.379.000 1.114.966 149,2% 6.117.000 2.738.000 181%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT năm 2010 – 2012)
Qua bảng 2.1 ta thấy: Nguồn vốn huy động của Agribank Bắc Hà Nội
. Năm 2010 khi nguồn vốn huy động thấp 2.264.034 triệu đồng nhưng sang đến
năm 2011 đã là 3.379.000 triệu đồng, tăng 1.114.966 triệu đồng so với 2010, tăng
1.Nguồn nội tệ
-Không kỳ hạn
-Có kỳ hạn
-Vay tổ chức kinh tế
2.Nguồn ngoại tệ
-Không kỳ hạn
-Có kỳ hạn
2.264.034
1.823.517
999.225
224.292
600.000
30 234
2.867
27 367
100
54,7
12,4
32,9
100
9,5
90,5
3.379.000
2.869.517
797.725
330.568
1.741.224
35 146
3 936
31 210
phương thưc hoạt động kết hợp với sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất để thu hút
nguồn tiền gửi từ các tầng lớp dân cư, từ các doanh nghiệp, đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho
nền kinh tế, giữ vững và đảm bảo ổn định về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh.
Nguyễn Tài Việt NHA - 05
2
Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Bắc Hà Nội
Agribank Bắc Hà Nội đã chú trọng đến huy động nguồn vốn trung và dài hạn,
khuyến khích các tổ chức kinh tế gửi tiền có kỳ hạn nên vốn duy động trung và dài hạn
tăng đáng kể so với những năm trước đây.
Tuy nhiên công tác huy động vốn cũng còn hạn chế như: Nguồn vốn huy động của
Agribank Bắc Hà Nội tăng trưởng khá vững nhưng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn
còn thấp, chưa tạo được sự thay đổi lớn trong việc huy động nguồn vốn có thời hạn dài.
Nhìn vào bảng cơ cấu nguồn vốn qua những năm gần đây cho thấy tổng chỉ tiêu
đều đạt kết quả tốt, nhưng có một số chỉ tiêu đạt kết quả chưa tốt. Nguyên nhân là do
ngân hàng gặp nhiều khó khăn do những di chứng của cuộc khủng hoảng tiền tệ vào cuối
năm 2010 và đầu năm 2011 chịu sự tác động sự phát triển kinh tế chững lại, sức mua thị
trường giảm sút. Khả năng hấp thụ vốn suy giảm và việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản
phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, đã tác động không nhỏ đến tốc độ lưu
chuyển vốn trong nền kinh tế. Hơn nữa khu vực Nhà nước đang trong quá trình cải tổ và
cơ cấu lại, việc áp dụng luật thuế mới, chuyển đổi doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước
thành doanh nghiệp cổ phần cũng ảnh hưởng đến nhu cầu và điều kiện vay vốn của doanh
nghiệp, đến quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng.
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn của NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012
Số tiền Tỉ
trọng
%
Số tiền Tỉ
371.466
1.922.270
100
74,7
25,3
100
74,5
25,5
6.117.000
2.954.000
3.523.000
3.750.000
1.657.500
2.092.500
2.367.000
100
42,4
57,6
100
44,2
55,8
Tỷ lệ sử dụng vốn: % 29,36 43,11 61,3
(Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh doanh của NHNo&PTNT Bắc Hà Nội năm 2010-2012)
Nguyễn Tài Việt NHA - 05