Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung - Pdf 88

MỤC LỤC
Danh mục các chữ viêt tắt: - Ngân hàng nhà nước: Ngân hàng nhà nước.
- Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam: NH ĐT & PT
VN
- Ngân hàng trung ương : NHTW
- Ngân hàng thương mại: NHTM.
- Ngân hàng: NH
- Thị trường chứng khoán : TTCK.
- Tiền gửi thanh toán : TGTT.
- Tiền gửi có kì hạn: TGCKH.
Mở đầu.......................................................................................................................1
Chương1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NHTM.........................................................................................3
1.1 HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ( NHTM ).............3
1.1.1 Sơ lược về NHTM:...........................................................................................3
1.1.2 Khái niệm về huy động vốn của NHTM..........................................................7
1.1.3 Nguồn hình thành nên nguồn vốn của NHTM...............................................8
1.2. CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM……………………….18
1.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỐI VỚI
NHTM........................................................................................................................21
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN .........................................................................................................................24
1.4.1. Nhân tố khách quan.......................................................................................24
1.4.2. Nhân tố chủ quan............................................................................................26
1.5. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÔN.............................................29
1.5.1. Quan niệm về hiệu quả huy động vốn của các NHTM...............................29
1.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM.......30
Chương 2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH QUANG TRUNG............................................32
2.1. TỔNG QUAN VỀ NH ĐT & PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG.............33
1

kinh tế của Đảng và Nhà nươc ta trong thời gian tới đó là: “Tiếp tục đổi mới và lành
mạnh hoá hệ thống tài chính tiền tệ, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội“.
Các NHTM ngày càng đa dạng hoá các hoạt động nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu
của thị trường, tuy nhiên hoạt động truyền thống và quan trọng nhất đối với mỗi
NHTM là hoạt động huy động vốn. Đây là hoạt động ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả
các hoạt động còn lại, và có vai trò quyết định đến kết quả kinh doanh của mỗi NH.
Trong bài viết này em xin đề cập tới công tác huy động vốn và hiệu quả huy
động vốn tại NH ĐT & PT chi nhánh Quang Trung. Trong thời gian thực tâp tại chi
nhánh Quang Trung em nhận thấy công tác huy động vốn của chi nhánh đóng một vai
trò quan trọng trong hệ thống NH ĐT & PT, và có vai trò quan trọng trong việc thúc
đây sự phát triển về kinh tế cho thủ đô. Vì lí do đó mà em xin đề cập đến Giải pháp
nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NH ĐT & PT chi nhánh Quang Trung trong
chuyên đề của mình.
Bài viết của em gồm ba chương:
Chương 1. Lí luận chung về huy động vốn và hiệu quả huy động vốn của
NHTM.
Chương 2. Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh Quang Trung.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh Quang
Trung.
3
Chương 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY
ĐÔNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ( NHTM).
1.1.1. Sơ lược về NHTM:
Ngân hàng ( NH ) là một trong những tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất
trong nền kinh tế. NH là tổ chức thu hút tiền tiết kiệm lớn nhất trong nền kinh tế. NH
dóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội. Thu nhập từ NH là nguồn thu nhập
không phải là nhỏ đối với nhiều hộ gia đình. NH là tổ chức cho vay chủ yếu đối với
các tổ chức kinh tế, các cá nhân và cả nhà nước. Bên cạnh đó NH còn đóng một vai
trò quan trọng trong nền kinh tế, đó là thông qua việc điều chỉnh hoạt động của NH

 Mua bán ngoại tệ: NH sẽ là người đứng ra mua bán một loại tiền này và lấy
một loại tiền khác để hưởng phí dịch vụ.
 Nhận tiền gửi: Các NH luôn cố gắng huy động được một lượng tiền gửi lớn
vì cho vay luôn là một hoạt động sinh lời cao. Lượng tiền huy động được
lớn thì sẽ đa dạng hoá được loại hình cho vay. NH nhận tiền gửi để bảo
quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Song song với quá
trình chạy đua huy động tiền gửi giữa các NH là quá trình chạy đua lãi suất.
Bởi lãi suất chính là khoản mà NH dành trả cho khách hàng về việc khách
hàng đã hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt để nhường lại quyền sự dụng số
tiền của mình vào việc kinh doanh.
 Cho vay: Gồm có cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ cho dự
án. Trong đó cho vay thương mại là một hoạt động truyền thống trong các
NH và thường chiếm tỉ trọng lớn trong các khoản cho vay. Trong giai đoạn
đầu hầu hết các NH ít cho vay tiêu dùng vì họ nghĩ rằng rủi ro vỡ nợ cao. Sự
gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ
chức tín dụng đã buộc các NH phải hướng tới người tiêu dùng như một
khách hàng tiềm năng. Bên cạnh việc cho vay truyền thống là cho vay ngắn
hạn. Các NH ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng
5
nhà máy mới đặc biệt là trong nghành công nghệ cao. Dù rủi ro trong lĩnh
vực tài trợ cho dự án là tương đối cao song lãi suất lại lớn nên nhiều NH vẫn
cho vay để đầu tư vao đất.
 Bảo quản vật có giá: Các NH thực hiện lưu giữ vàng và các vật có giá khác
tại kho bảo quản. NH giữ vàng và giao cho khách hàng tờ giấy biên nhận
( giấy chứng nhận do NH phát hành ). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào
của giấy chứng nhận nên giấy chứng nhận được sự dụng như tiền – dùng để
thanh toán các khoản nợ trong phạm vi của NH phát hành. Lợi ích của việc
dùng giấy tờ trong trao đổi thay cho dùng kim loại đã khuyến khích mọi
người gửi vàng và vật có giá vào NH.
 Cung cấp các khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Thanh toán qua NH

thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ. uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm
chí các NH còn đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lí tài
sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản tài sản
có giá. Bên cạnh đó NH còn là những chuyên gia trong việc tư vấn về đầu
tư, quản lí tài chính, sáp nhập doanh nghiệp.
 Cung cấp các dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán: Trong điều kiện thị
trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc các NH đứng ra
lập các công ty chứng khoán là một điều dễ hiểu, nhằm đáp ứng mọi nhu
cầu của khách hàng mà không cần đến những người kinh doanh chứng
khoán.
 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
 Cung cấp các dịch vụ đại lí.
Như vậy cùng với những hoạt động cơ bản đó đã giúp cho việc tồn tại của NH
dường như là một phần tất yếu trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi cá nhân hay tổ
chức kinh tế. Quá trình phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính mà đặc biệt là hệ
7
thống NH không những làm gia tăng số lượng các NH mà còn làm tăng quy mô của
mỗi NH . Quá trình đó đã tạo ra mối quan hệ ràng buộc ngày càng chặt chẽ, sự phụ
thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các NH, giữa các cá nhân, tổ chức kinh tế trong xã
hội với các NH.
8
1.1.2 Khái niệm về huy động vốn của NHTM.
Nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn hoạt động của NH gọi là nghiệp vụ nợ. Trong
bảng cân đối tài sản của NHTM thì những khoản mục do nghiệp vụ này tạo nên sẽ
nằm bên tài sản nợ. Hàm ý chỉ đây là những khoản mà NHTM nợ nền kinh tế.
Đây là hoạt động đầu tiên để thành lập được NH. Trong quá trình phát
triển của mình NH luôn luôn tìm cách để năng cao hiệu quả của hoạt động này, và
các nghiệp vụ của nó luôn được xen kẽ trong suốt quá trình. Bởi từ thành quả của
hoạt động này mà NH mới có điều kiện để phát triển những hoạt động khác đặc biệt
là hoạt động tín dụng. Những hoạt động khác của NH mà đặc biệt là hoạt động tín

nhiên trong quá trình hoạt động vốn điều lệ sẽ được bổ sung thêm từ: huy động thêm
vốn từ các cổ đông, ngân sách cấp, lợi nhuận bổ sung…Nguồn vốn này chủ yếu dùng
để mua sắm bất động sản, động sản, trang thiết bị… cho hoạt động NH tuy nhiên với
mục tiêu đa dạng hoá hoạt động cũng như cố gắng mang lại ngày càng nhiều lợi
nhuận thì lượng vốn bổ sung thêm này còn được dùng để góp vốn liên doanh, cho
vay, mua cổ phần của công ty khác. Theo quy định thì không được dùng vốn điều lệ
để chia lợi tức, lập quỹ khen thưởng. Như vậy đến khi NH hoạt động vốn điều lệ
không chỉ là một phần lượng tiền mặt tại quỹ của NH mà có thể đã nằm dưới dạng
trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ trang thiết bị, dự trữ hay kí quỹ tại NHTW, hay đầu
tư vào một lĩnh vực nào đó.
Ngoài vốn điều lệ NHTM còn các quỹ buộc phải trích lập trong quá trình hoạt
động của mỗi NH đó là quỹ dự trữ NH. Cụ thể như: quỹ phát triển kĩ thuật, quỹ khấu
hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi…
10
Các quỹ dự trữ của NH được hình thành từ nguồn vốn tự có và bổ sung hàng
năm từ lợi nhuận ròng của NH. Theo quy định về việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận.
Thông thường NHTM phải trích lập các quỹ:
 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: phần trích lập mỗi năm có thể khác nhau do
hàng năm thì một số % nhất định tới mức tối đa của lợi nhuận sau thuế được
bổ sung vào quỹ. Tỉ lệ trích lập này do NHTW quy định.
 Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Nhằm phòng trường hợp rủi ro có thể xẩy ra
dẫn đến hiện tượng vốn có thể bị ăn mòn và bù đắp những thiệt hại đã xẩy
ra thì các NHTM đã trích từ lợi nhuận hàng năm để lập quỹ dự phòng bù
đắp rủi ro. Quỹ này được trích theo % từ lợi nhuận hàng năm tuy nhiên theo
quy định thì quỹ đạt mức tối đa khi bằng vốn điều lệ.
Theo quy định thì hai quỹ trên bắt buộc phải trích lập tại các NH, các NH
không được dùng quỹ này để trả lợi tức cổ phần hay chuyển ra nước ngoài.
Mặt khác, với tư cách là một đơn vị kinh doanh, NH còn tiến hành trích lập các
quỹ phúc lợi từ lợi nhuận thu được: quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ NH, quỹ phúc
lợi khen thưởng, hội cổ đông hoặc theo chỉ đạo của Nhà nước.

+ Tài khoản TGTT ( hay còn gọi là tài khoản giao dịch hoặc sec ), tài khoản này
dư có, khách hàng chỉ được sự dụng trong phạm vi tiền của mình. Tài khoản séc hay
tài khoản thanh toán hiện nay ở Việt Nam gồm có tài khoản thanh toán cho các doanh
nghiệp và tài khoản thanh toán cho các cá nhân.
+ Tài khoản vãng lai: tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghĩa là khách
hàng ngoài việc sự dụng số tiền gửi của mình còn được dùng khoản tiền do NH cho
vay theo sự thoả thuận trước giữa NH và khách hàng.
Trong việc sử dụng TGTT khách hàng thường dùng các công cụ thanh toán như
chi trả séc, lệnh chuyển tiền…
12
 Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và các tổ chức dân cư ( TGCKH ):
TGCKH nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả trong tương lai của các tổ chức, cá
nhân trong nền kinh tế. TGTT tuy thuận tiện nhưng lãi suất lại thấp nên
nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền và tăng thu nhập của khách hàng NH đã đưa
ra hình thức gửi tiền có kì hạn. Tuy nhiên với loại tiền gửi này thì người gửi
không được sự dụng các dịch vụ thanh toán như đối với TGTT. Thông
thường kì hạn TG càng dài thì lãi suất càng cao vì NH có thể dùng TGCKH
này đem đầu tư vào những dịch vụ sản suất có tính lâu dài hơn, lợi tức cao
hơn và cố định hơn. Lãi suất mà NH trả cho TGCKH thường là cao hơn lãi
suất của TGKH. Hiện nay NH Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền gửi đinh
kì, đó là: TGCKH theo tài khoản va TGCKH dưới hình thức phát hành kì
phiếu NH.
 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Hiện nay với thu nhập cao những điều kiện
sống cơ bản đã được đảm bảo thì phần lớn người dân đều có khoản thu nhập
tạm thời chưa dùng đến ( các khoản tiết kiệm ). Trong điều kiện NH trở nên
quen thuộc và gần gũi với mọi nhà và mọi người thì họ đều có thể gửi tiết
kiệm với mục tiêu an toàn và sinh lợi mà đặc biệt là mục tiêu an toàn. Nhằm
thu hút ngày càng nhiều tiền gửi tiết kiệm, các NH đều khuyến khích dân cư
thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng
lưới huy động , đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh

gắng để trả nợ nhanh nhất. Những lúc ấy các khoản vay từ NHTW chỉ
chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng tài sản nơ.
 Dù vay ít hay nhiều, vay thường xuyên hay không thường xuyên, dịch vụ
vay NHTW vẫn là một khoản mục hiển nhiên trong tài khoản nợ, vì khong
có NHTM nào mà không đi vay NHTW bao giờ kể từ khi thành lập. Thời
gian vay ngắn hay dài, hiệu quả của tiền vay cao hay thấp phụ thuộc vào lãi
suất chiết khấu của NHTW và mức tiền vay của NHTM.
14
 Đứng về phía NHTW là NH của các NH, NHTW luôn luôn là chủ nợ của hệ
thống NH. Thông qua đó mà NHTW mới dễ dàng kiểm tra, dám sát, điều
khiển NHTM. Tuy nhiên đây cũng là vấn đề dễ bị nhầm lẫn. Tiền đi vào chu
trình kinh tế bằng con đường các NHTM chuyển các hối phiếu và trái phiếu
lên NHTW và bị chiết khấu mất phần lãi suất phải trả cho khoản được vay,
qua đó trở thành người nợ của NHTW. Việc NHTW bút toán khối lượng
tiền vào bên nợ trong bảng kế toán của mình thực chất chỉ là phải ghi theo
quy định của kế toán, chứ không làm thay đổi việc phát hành tiền và cho vay
có lãi của NHTW. Vị trí chủ nợ trong hệ thống NH là cần thiết để NHTW có
thể điều tiết mở rộng hay thắt chặt tiền tệ. Chính vì lí do đó, các NHTM
không bao giờ được phép gửi tiền có lãi tại NHTW, vì như thế thì vị trí chủ
nợ của NHTW sẽ không còn ý nghĩa nữa. Nếu các NH gửi tiền tại NHTW,
thì đó chỉ là việc dự trữ thuần tuý không có lãi.
NHTW cấp tín dụng cho NHTM qua 2 hình thức chính:
+ Tái chiết khấu ( hoặc chiết khấu ) hay còn gọi là tái cấp vốn.
+ Thế chấp hay ứng trước có đảm bảo hay không đảm bảo.
 Vay ngắn hạn dự trữ tại NHTW: Các NH vay mượn như vậy gọi là vay
mượn qua vốn trung ương để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Để chuẩn bị
cho thanh toán bù trừ và chuyển nhượng lẫn nhau, kể cả quy định dự trữ bắt
buộc, tất cả các NHTM phải kí gửi những khoản tiền mặt nhất định tại kho
của NHTW, những khoản tiền này không mang lại lợi nhuận gì cho NHTM.
Trong quá trình hoạt động của mình, có lúc NHTM gặp tình huống thiếu hụt

khoản có được cơ hội đầu tư sinh lợi hay nói cách khác đó là không để vốn
chết tại NH. Thông qua việc mua bán các trái phiếu ngắn hạn trên TTTT mà
những người cho vay và những người đi vay gặp được nhau. Như vậy mặt
hàng trao đổi trên thị trường này là tiền hoặc các chứng từ có giá trị như
tiền. Nhưng trên TTTT, tiền hay các chứng từ có giá trị như tiền là các
chứng từ tài chính đại diện cho một lượng tiền mà một cá nhân ( hay doanh
16
nghiệp ) nợ người khác. “ Chứng từ có giá như tiền ” được quan niệm là
những tài sản thực hiện chức năng cất giữ hơn là phương tiện trao đổi. Và
với đặc trưng đó mà các “ chứng chỉ có giá như tiền ” khi gửi trong NH thì
hưởng lãi cao hơn là một phương tiện trao đổi tuy nhiên muốn chi tiêu thì
cần đổi chúng ra tiền mặt Về bản chất các loại tiền ( tiền của NHTW, của
NHTM…) là những hình thức giấy nợ, mà người cầm nó là những người
cho vay đã gửi tiền vào NHTM, hoặc cung cấp cho nền kinh tế một sản
phẩm hay một dịch vụ ( trong trường hợp tiền lương tiền bán dịch vụ )
Người vay nợ hay những người nhận dịch vụ là những tác nhân phát sinh ra
giấy nợ. Xã hội và nền kinh tế vận hành cùng việc trao đổi, chuyển dịch sở
hữu hàng hoá, chất xám lao động…thông qua các phương tiện trung gian là
những loại hình giấy nợ này. Sự đa dạng của loại hình giấy nợ theo tiến
trình phát triển của nền kinh tế hình thành nên một hệ thống tiền tệ: hoặc là
phiếu nợ của chính phủ ( nếu là tiền mặt ) hoặc là phiếu nợ của NHTM, các
tổ chức tín dụng khác. Các loại tiền là phiếu nợ luôn vận động không ngừng
trong quá trình biến động không ngừng của nền kinh tế và nằm một trong ba
trạng thái: 1, vay và cho vay; 2, nhận và trả; 3, cất giữ. Người ta gọi tiền là
phương tiện thanh toán bởi dù ở trạng thái nào trong ba trạng thái trên thì
tiền cũng là giấy nợ phải thanh toán đúng ngày khác nhau chỉ ở chỗ hiện nay
và tương lai. Cuộc sống của con người và nền kinh tế có thể xem là một
chuỗi xoay vòng quanh các loại nợ. Chuỗi xoay vòng đó thông qua việc
phiếu nợ được chuyển qua tay các tác nhân trong nền kinh tế tạo nên các
hoạt động kinh tế khác nhau và mang lại sự đa dạng cho nền kinh tế. Xét về

Khả năng vay vốn của thị trường thông qua việc phát hành phiếu nợ phụ
thuộc vào 3 yếu tố đó là: mức độ chấp nhận của nhân dân đối với nó như là
phương tiện thanh toán trong lưu thông; hiệu quả của việc thực hiện các
đồng vốn đã được vay bên cạnh việc có nhận được sự khuyến khích hay
không của NHTW. Tuy nhiên, NHTM chỉ quyết định vay trên TTTT khi đã
có sẵn những kế hoạch kinh doanh cụ thể. Vì thế hai yếu tố sự chấp nhận
18
của nhân dân đối với nó như là phương tiện thanh toán trong lưu thông và sự
khuyến khích hay không của NHTW sẽ quyết định nhanh hay chậm của quá
trình phát hành.
 Vay từ công ty mẹ: Thực ra đây là hình thức các công ty mẹ đứng ra phát
hành cổ phiếu hoặc trái phiếu của công ty để vay vốn trên thị trường, sau đó
dồn lượng vốn vay được này về cho NH hoạt động. Để tránh gặp phải
những khó khăn và hạn chế về dự trữ bắt buộc, lãi suất và thủ tục khi
NHTM vay bằng các hình thức khác thì việc vay từ công ty mẹ đơn giản và
khả quan hơn nhiều. Điều đó giải thích tại sao mà ngày càng nhiều các NH
là con đẻ của công ty tài chính và công ty liên doanh. Khi một công ty phát
hành trái phiếu nó sẽ không phải chịu những điều kiện ràng buộc về lãi suất,
dự trữ và khối lượng như một NH khi phát hành. Sau khi công ty mẹ vay
được của thị trường NH sẽ vay được của công ty mẹ và khoản vay đó được
đưa vào khoản nợ có kì hạn tương ứng với kì hạn vay của công ty hoặc có
thể nhập vào vốn cổ phần.
 Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Đây cũng là hình thức được nhiều NHTM
thực hiện trong những giai đoạn cần thiết. Nguyên tắc được áp dụng khi NH
và các tổ chức tín dụng cho vay lẫn nhau là:
+ Các NH phải hoạt động hợp pháp.
+ Thực hiện các việc đi vay và cho vay theo đúng hợp đồng tín dụng.
+ Vốn vay phải được thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của NHTW.
 Vay từ nước ngoài: Từ tháng 11/1998 các NHTM được phép vay các NH
nước ngoài để cho vay trong nước. Hiện nay các NHTM trong nước có quan

hay pahỉ kí quỹ với một khoản tiền tối thiểu nhất định. Trong khi khách
hàng chưa sự dụng số dư tài khoản để thanh toán thì số dư từ những tài
khoản này gộp lại tạo thành một lượng vốn không nhỏ cho NH. Tuy nhiên
việc sự dụng số dư của những tài khoản này yêu cầu NH phải thật thận trọng
20
trong việc chọn kì hạn cho các hoạt động bởi khách hàng có thể có yêu cầu
thanh toán ngay bất cứ lúc nào, và khi khách hàng có yêu cầu thì ngay lập
tức các NH phải đáp ứng.
 Nguồn khác: Ngoài các nguồn huy động kể trên thì nguồn vốn của NHTM
còn được bổ sung từ các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả.
Tuy nhiên những nguồn này thường là không lâu dài vì đây là những khoản
mà khách hàng phải sự dụng trong thời gian gần.
1.2. CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM.
1.2.1. Phương thức huy động vốn chủ.
Có nhiều hình thức để huy động vốn chủ. Đối với các NHTM cổ phần thì có thể
huy động vốn thêm từ cổ đông, phát hành cổ phiếu hay phát hành trái phiếu có thể
chuyển đổi thành cổ phiếu. Tuy nhiên không phải lúc nào các phương thức trên đều
nhận được sự ủng hộ của các cổ đông bởi đơn giản khi số cổ phần tăng lên cũng
đồng nghĩa với việc cổ tức giảm xuống, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi tức mà cổ đông kì
vọng. Đối với NH liên doanh thì có thể tăng vốn chủ bằng cách xin tăng vốn từ cổ
phần, huy động vốn góp từ các bên liên doanh.
Thông qua việc trích lập các quỹ dự trữ và quỹ khác từ lợi nhuận ròng của NH
sẽ giúp NH tăng lượng vốn chủ. Bên cạnh đó một số NHTM còn được Chính phủ cấp
vốn dưới hình thức quỹ đầu tư phát triển nhằm thực hiện một số chính sách và mục
tiêu của Nhà nước. Nguồn vốn này có đặc trưng là ổn định, khối lượng tương đối lớn
và thông thường được sự dụng trong thời gian là một giai đoạn hay một thời kì.
Chính những đặc trưng đó mà mang lại những cơ hội đầu tư và kinh doanh cho NH.
Tuy nhiên không phải NH nào cũng dễ dàng có được nguồn vốn này, nó phụ thuộc
vào mục tiêu của Chính phủ trong từng thời kì nhưng cũng phụ thuộc nhiều vào uy
tín và hiệu quả kinh doanh của NH.

22
của NHNN. Kì phiếu có thể đa dạng về thời hạn có thể 7 ngày mà cũng có thể 5 đến
7 năm tuy nhiên nói chung thì kì phiếu là công cụ để NH vay nợ ngắn hạn. Có loại kì
phiếu có lãi cố định, trả lãi kì hạn và kì phiếu chuyển tiếp liên tục.
+ Phát hành trái phiếu: Trái phiếu NH là công cụ vay nợ dài hạn trên thị
trường vốn dưới hình thức giấy nợ của các NH phát hành để huy động vốn, trong đó
NH cam kết trả gốc và lãi cho người mua sau một thời gian nhất định. Thông thường
người dân ủng hộ việc NH phát hành trái phiếu bởi tính linh động của nó. Trong
trường hợp cần thiết người sở hữu trái phiếu có thể chuyển nhượng, mua bán, biếu
tặng, thừa kế hay cầm cố. Trái phiếu phát hành có thể dưới 1 trong 3 hình thức sau:
vô danh, ghi sổ hay ghi danh. Thông thường trái phiếu được phát hành với kì hạn hơn
1năm, mệnh giá tối thiểu là 50000VND. Lãi suât trái phiếu do NHTM phát hành
quyết định dựa trên nhu cầu vốn của NH và lãi suất trên thị trường. Hình thức trả lãi
đối với trái phiếu cũng đa dạng, NH có thể trả lãi định kì, trả lãi trước, trả lãi sau.
Tuy nhiên không phải bất kì một NHTM nào khi cần vốn đều có thể phát hành trái
phiếu. NH chỉ có thể phát hành trái phiếu khi đảm bảo một số yêu cầu củ thể của
NHNN về hiệu quả kinh doanh, hiệu quả quản lí và điều kiện về vốn pháp định.
Nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu là nguồn ổn định, thời hạn sự dụng lâu
có thể mang lại nhiều lợi ích cho NH.
- Vay nợ trực tiếp: Đó chính là hình thức vay NHNN, vay Bộ Tài Chính, vay
các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước…Tuy nhiên dù vay của ai đi nữa thì hình
thức vay trực tiếp này cũng tốn chi phí cho NH đi vay hơn nhiều so với các hình thức
huy động khác.
Việc vay NHNN thường phức tạp về thủ tục, thông thường NHTM chỉ vay của
NHNN trong trường hợp cấp bách, để đảm bảo khả năng thanh khoản cho NH, khoản
vay này thường chỉ tồn tại trong ngắn hạn. Trong một số trường hợp NHNN vẫn cho
NHTM vay với một lượng vốn nhất định để hoạt động tín dụng với mức lãi suất ưu
đãi, tuy nhiên nếu Chính phủ đang thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì việc vay
của NHNN là một điều quá khó khăn.
23

giải pháp tài chính, kinh tế và tiền tệ đã mang lại hiệu quả không phải là
nhỏ. Mà trong đó giải pháp không ngừng tăng huy động trong nền kinh tế là
một hoạt động tối ưu. Thông qua việc tăng lãi suất huy động cũng như việc
phát hành kì phiếu, trái phiếu NH sẽ huy động được một lượng tiền mặt tạm
thời không nhỏ trong nền kinh tế, giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông.
 Thông qua hoạt động huy động vốn các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư
được sự dụng phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Bởi đơn giản khi tập trung
nguồn vốn nhàn rỗi tại NH, NH sẽ không để không tiền như vậy để phải
chịu một chi phí lớn và không mang lại lợi nhuận gì. Ngược lại, ngoài việc
phải đảm bảo một lượng dữ trữ bắt buộc tại NHTW, một phần được NH giữ
tại quỹ để đảm bảo cho nhu cầu thanh khoản trong thời gian trước mắt, phần
còn lại NHTM sẽ đem đi đầu tư. Có thể là cho các cá nhân, tổ chức kinh tế
khác thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho tiêu dùng vay với lãi
suất cao hơn lãi suất huy động, hay NH tự mình tham gia vào hoạt động đầu
tư, mua bán chứng khoán. Như vậy việc huy động vốn và sự dụng vốn huy
động có tác dụng trực tiếp đến tăng trưởng phát triển, tăng năng lực sản xuất
của nền kinh tế quốc dân. Góp phần thực hành tiết kiệm huy động tiềm lực
của cả nền kinh tế, xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng đất nước theo hướng phát triển và hoà nhập với nền kinh tế
thế giới.
 Thị trưòng chứng khoán trong thời gian qua đã có những bước phát triển
mạnh mẽ. Các NHTM cũng đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển đó,
bởi chính từ việc phát hành các giấy tờ có giá trung và dài hạn trong công
tác huy động vốn đã tạo lập và đa dạng hoá các loại hàng hoá trên thị trường
chứng khoán. Như vậy bằng hình thức gián tiếp hoạt động huy động vốn của
NH TM đã góp phần hình thành và phát triển thị trường vốn mà thị trường
chứng khoán là thị trường đóng vai trò cốt lõi. Việc huy động vốn cũng đã
tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân có thể tích luỹ được vốn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status