Trường Kinh Tế Quốc Dân 1
Đề tài thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 đã ghi dấu nhiều sự kiện vàng của đất nước. Đặc biệt là việc Việt
Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Sự kiện này đã mở ra cánh
cửa hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội đan xen không ít thách thức. Trong
môi trường như vậy, một yêu cầu khách quan, cấp bách là phải nâng cao năng
lực tài chính cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, đặc biệt là các
NHTM Nhà nước chủ lực để có thể cạnh tranh được với các NHTM nước ngoài
là vấn đề hết sức thực tế và đang được quan tâm.
Triển khai thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập
kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế liên quan tới lĩnh vực Ngân
hàng, thời gian qua hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng đã
được triển khai tích cực với những bước đi phù hợp với mức độ phát triển và đặc
thù của hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Hoạt động hội nhập quốc tế ngày càng
được tăng cường, mở rộng và đi vào thực chất hơn. Mục đích của hội nhập quốc
tế ngành Ngân hàng được xác định là nhằm tranh thủ thêm vốn, công nghệ, trình
độ quản lý, mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác tiền tệ Ngân hàng để xây
dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, một hệ thống Ngân hàng Việt Nam
có sức cạnh tranh hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Để làm được điều đó đòi hỏi các NHTM phải có năng lực tài chính
vững mạnh. Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại là chất lượng cho vay tại các
ngân hàng hiện nay đang có xu hướng giảm sút: nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng, đặc
biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản (XDCB). Theo thống kê của ngân hàng nhà
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 2
Đề tài thực tập
nước cuối năm 2006, nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB chiếm 42% tỷ lệ
nợ quá hạn. Nhưng không phải vì thế mà ngân hàng giảm doanh số cho vay đối
CỦA NHTM ĐỐI VỚI LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1 Khái quát về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1 Khái niệm lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để mong thu
được lợi ích trong tương lai. Đầu tư hay hoạt động đầu tư là việc huy động các
nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn. Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên
thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất khác. Biểu hiện bằng tiền tất cả các
nguồn lực đã bỏ ra trên đây được gọi là vốn đầu tư. Những kết quả đó có thể là
sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường
sá,...), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và
nguồn nhân lực. Có nhiều cách phân loại đầu tư:
* Xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại người ta phân
chia thành: Đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư tài sản vật chất và nguồn
nhân lực.
* Để phục vụ cho việc lập và thẩm định dự án đầu tư người ta thường quan
tâm đến các loại đầu tư sau: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, đầu tư trong nước,
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 4
Đề tài thực tập
đầu tư ra nước ngoài, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đầu tư theo chiều sâu, đầu
tư cơ bản.
Trong đó, đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định và
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư XDCB nhằm tạo ra các công
trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư. Đó là một hoạt động kinh tế.
Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức
lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động
(nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm...) các tư liệu lao động (như
máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiên vận tải,...) là những phương tiện vật
công trình bình thường, nhỏ cũng vài trăm triệu, lớn tới hàng chục tỷ đồng.
* Đầu tư xây dựng luôn gắn liền với sự phát triển của ngành kinh tế và mức
sống của nhân dân. Khi kinh tế xã hội phát triển kéo theo sản xuất xây dựng phát
triển đặc bịêt trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp và xây dựng dân dụng.
* Trong sản xuất xây dựng, người đầu tư và người sử dụng sản phẩm không
phải là người thực hiện xây dựng. Trong đó luôn tồn tại những hợp đồng A - B
và luôn cần hoạt động đầu tư giám sát.
* Sản phẩm xây dựng là những công trình gắn liền với địa điểm nhất định
(bất động sản) do đó xây dựng chịu tác động của nhiều yếu tố địa phương. Địa
điểm sản xuất luôn thay đổi, lực lượng sản xuất luôn phải di động, cơ cấu tổ
chức xây lắp luôn phải thay đổi cho phù hợp với công trình làm tăng những chi
phí gián tiếp.
* Đầu tư XDCB mang tính xã hội và thay đổi theo thời gian, nó chịu ảnh
hưởng của phong tục tập quán, trình độ văn hóa và quan điểm của người sử
dụng.
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 6
Đề tài thực tập
* Thời gian xây dựng một công trình tương đối dài và ở ngoài trời nên chịu
tác động của thời tiết, thị trường nên quá trình sản xuất khá rõ rệt. Việc tổ chức
thực hiện xây dựng đòi hỏi phải luôn năng động, chính xác và nhạy cảm, đôi khi
còn có một phần may rủi.
* Sản xuất xây dựng cần nhiều lao động sống, mà lao động lại là nguồn tài
nguyên quý hiếm nên bài toán sử dụng lao động luôn luôn đặt ra với mọi phương
án thi công.
* Công nghệ xây dựng biến đổi chậm, thị trường cạnh tranh khá tự do nên
rất gay gắt.
1.1.3 Vai trò của lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản đối với nền kinh tế
Thứ nhất, đầu tư XDCB đã góp phần phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh
sản xuất cho nền kinh tế. Dầu khí, điện lực, bưu chính viễn thông... đã trở thành
những ngành công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn của đất nước.
Thứ tư, lĩnh vực xây dựng đã tạo công ăn việc làm, thu nhập cho người lao
động. Một trong những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà
nước ta là làm sao giảm thiểu tối đa số người thất nghiệp. Doanh nghiệp trong
lĩnh vực XDCB đã phần nào tạo điều kiện cho người trong độ tuổi lao động có
công ăn việc làm ổn định. Nếu các chuyên gia xây dựng như tư vấn, thiết kế,
giám sát... cần có trình độ cao thì tổ thi công cũng cần nhiều công nhân “chay”,
một nguồn lao động có khá nhiều trong xã hội. Điều này đã góp phần giải quyết
tình trạng thất nghiệp, giảm bớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư,
đảm bảo an ninh trật tư trong vùng miền.
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc cho vay của ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 8
Đề tài thực tập
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng, hoạt động cho vay được hiểu:
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi ”.
1.2.1.2 Các nguyên tắc cho vay
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhưng
đồng thời nó cũng mang lại nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, để đảm bảo tính an toàn và
khả năng sinh lời đòi hỏi các ngân hàng phải bám sát các quy định của ngân
hàng Nhà nước một cách chặt chẽ. Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN có
hai nguyên tắc cho vay:
các doanh nghiệp XDCB đã nắm bắt thời cơ trong các khâu lập dự án, đấu thầu,
thi công công trình một cách nhanh chóng.
Giả sử rằng, lĩnh vực XDCB không có mặt nguồn vốn của ngân hàng thì các
công trình có được hoàn thành hay không và hiệu quả của nó sẽ như thế nào?
Hầu hết các công trình xây dựng đều cần đến nguồn vốn ngân hàng, không có
một công trình nào xây dựng mà nhà đầu tư không vay vốn ngân hàng. Vậy vốn
ngân hàng là chiếc cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp với thị trường, tạo điều
kiện cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp XDCB. Đến nay, không một
doanh nghiệp nào phủ nhận vai trò quan trọng của vốn ngân hàng.
1.2.3 Phân loại cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB
Phân loaị cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng. Liên quan mật
thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của
khách hàng. Có nhiều tiêu chí để phân loại cho vay song đối với lĩnh vực đầu tư
XDCB chủ yếu có một số cách phân loại sau:
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 10
Đề tài thực tập
Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận đồng vốn đầu tiên cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Theo
quyết địng số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng, thời hạn cho vay được phân thành:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
+ Tín dụng trung hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng.
+ Tín dụng dài hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên.
Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào thời gian xây dựng, thời hạn thu
hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng để thoả thuận thời hạn
* Cho vay không có tài sản đản bảo: là loại cho vay không có tài sản cầm cố,
thế chấp hoặc không có sự tham gia bảo lãnh của bên thứ ba mà dựa trên lòng
tin, uy tín của khách hàng để cho vay. Theo cách này thương áp dụng đối với
khách hàng truyền thống, có uy tín, có tình hình tài chính vững mạnh.
Thứ ba, căn cứ vào mục đích vay vốn
Mỗi khoản vay của khách hàng đều có một mục đích nhất định, ảnh hưởng
đến quyết định cho vay của ngân hàng như thời gian, số tiền cho vay, thời hạn trả
nợ... Theo căn cứ trên chia thành các loại:
* Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho khách hàng vay tiêu dùng nhằm đáp ứng
nhu cầu mua sắm các hàng hoá lâu bền như nhà cửa, xe, đồ gỗ sang trọng, nhu
cầu du lịch... đối với lượng khách hàng rộng lớn. Nguồn trả nợ cho ngân hàng là
nguồn thu nhập khá ổn định của khách hàng.
* Cho vay kinh doanh, sản xuất: Gồm cho vay theo lĩnh vực thương mại - dịch
vụ; lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực công - nông nghiệp.
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 12
Đề tài thực tập
Thứ tư, căn cứ vào phương thức cho vay
Đây là cách phân loại phổ biến của các NHTM. Theo cách thức này các
doanh nghiệp trong lĩnh vực XDCB thường có một số cách vay sau:
* Cho vay từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối
với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên không có điều kiện để được
cấp thấu chi. Các công trình khi nào xác định được nguồn vốn thì chủ đầu tư mới
vay vốn ngân hàng để thi công. Mỗi lần vay, khách hàng phải làm đơn và trình
ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí
hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân và thời hạn trả
nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách thành mỗi hồ
sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau. Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng
sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ
án tham gia vào dự án
-
Vốn khác
(nếu có)
* Cho vay theo hạn mức thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân
hàng cho phép các nhà doanh nghiệp xây dựng được chi trội (vượt mức) trên số
dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoản thời
gian xác định. Giới hạn này được gọi là mức thấu chi. Các khoản chi vượt quá
hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này. Thấu chi
trên cơ sở thu - chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô. Thấu
chi là hình thức tín dụng ngắn, linh hoạt, phần lớn không có tài sản đảm bảo,
thường sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu
nhập ngắn.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: là hình thức cho vay mà ngân
hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức
tín dụng nhất định. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của
hạn mức tín dụng dự phòng và mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
1.2.4 Quy trình cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB
Quy trình cho vay được bắt đầu khi cán bộ tín dụng bộ phận quan hệ trực
tiếp tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi tất toán thanh lí hợp đồng tín
dụng, được tiến hành theo ba bước:
- Thẩm định trước khi cho vay.
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 14
Đề tài thực tập
- Kiểm tra, giám sát trước khi cho vay.
- Kiểm tra, giám sát, thu hồi nợ sau khi cho vay.
Sơ đồ dưới đây tóm tắt quy trình tiếp nhận vốn vay, quy trình đánh giá và
thẩm định:
xuất để tạo ra số tiền lớn hơn, hoàn trả đủ cho ngân hàng cả gốc lẫn lãi theo thoả
thuận, trang trải đủ chi phí và có lợi nhuận, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã
hội.
Theo cách hiểu trên, nếu ta xét chất lượng cho vay của ngân hàng đối với
các doanh nghiệp trong lĩnh vực XDCB thường tính trên ba giác độ là: NHTM,
doanh nghiệp XDCB và nền kinh tế.
Thứ nhất, chất lượng cho vay xét trên giác độ của ngân hàng
Chất lượng cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải
phù hợp với khả năng, thực lực theo đúng định hướng của ngân hàng. Đồng thời
phải thực hiện nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi, đảm bảo sự cạnh tranh
trên thị trường. Chất lượng cho vay phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lí và
có sự gia tăng, đồng thời dư nợ ngày càng tăng trưởng, doanh số thu nợ lớn, tỷ lệ
nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,
trung và dài hạn của nền kinh tế.
Thứ hai, chất lượng cho vay xét trên giác độ khách hàng
Sự am hiểu về khách hàng sẽ làm cho ngân biết rõ nhu cầu tín dụng của
khách hàng, đảm bảo nhu cầu hợp lí về vốn của họ. Trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt như hiện nay, chất lượng là yêu cầu hàng đầu. Vì vậy, chất lượng cho vay
là sự đáp ứng yêu cầu hợp lí của khách hàng - mà ở đây là doanh nghiệp trong
lĩnh vực XDCB, đồng thời lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu
hút được khách hàng, góp phần làm lành mạnh tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba, chất lượng cho vay xét trên giác độ nền kinh tế.
Có thể nói hoạt động cho vay trong những năm gần đây đã phản ánh rõ nét
sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới.
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 17
Đề tài thực tập
Hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người
lao động, làm gia tăng nguồn sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế
trình tự do hoá, hội nhập quốc tế như vậy làm thách thức của các NHTM phải
đối mặt trở nên khóc liệt hơn. Xu hướng tự do hoá thương mại và mở cửa của thị
truờng tài chính cũng như nền kinh tế Việt Nam sẽ dẫn đến những thay đổi cơ
chế và môi trường hoạt động, gây tác động tới ngân hàng. Sức ép cạnh tranh
ngày càng gia tăng, cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và nước ngoài. Do
đó, việc nâng cao chất lượng tín dụng là một yêu cầu cấp thiết buộc các ngân
hàng phải thực hiện để có thể đứng vững trên thị trường.
* Đối với khách hàng
Hiện nay, các NHTM có xu hướng chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng
dịch vụ bởi vì chính sách lãi suất không còn là động lực chính để thu hút khách
hàng do các NHTM có mặt bằng lãi suất tương đương nhau. Chính vì vậy, nâng
cao chất lượng cho vay là yêu cầu khách quan và cũng là xu thế phát triển chung
của hoạt động tín dụng trong giai đoạn hiện nay.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự
tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế, cung phải đáp ứng với cầu. Vì vậy,
hoạt động của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế nhất định mới có thể đứng
vững trong cạnh tranh. Để đáp ứng tốt các yêu cầu thị trường, doanh nghiệp
không chỉ nâng cao chất lượng lao động, cũng cố hoàn thiện cơ chế quản lí kinh
tế, chế độ hạch toán kế toán mà còn phải không ngừng cải tiến thiết bị máy móc
để đạt hiệu quả thi công cao. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng vốn
lớn vượt quá khả năng vốn tự có của các doanh nghiệp xây dựng. Để giải quyết
khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng. Thông qua hoạt động tín
dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Hiệu quả
nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 19
Đề tài thực tập
trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình xây dựng, từ đó tạo
cho doanh nghiệp có chổ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Nâng cao chất lượng
thu nợ
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 20
Đề tài thực tập
cuối kỳ đầu kỳ trong kỳ trong kỳ
Doanh số cho vay trong kì là tổng số tiền ngân hàng cho khách hàng vay
thực tế trong kì. Doanh số cho vay và tốc độ tăng trưởng của nó phản ánh quy
mô và xu hướng hoạt động cho vay của ngân hàng là mở rộng hay thu hẹp. Hoạt
động cho vay của ngân hàng là mở rộng khi tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay
dương và ngược lại.
Doanh số thu nợ trong kì là tổng các khoản thu nợ phát sinh trong kì.
Dư nợ cho vay là số tiền mà ngân hàng đang cho vay tính đến một thời điểm
cụ thể.
Nếu tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không mở rộng được hoạt động
cho vay, không thu hút được đông đảo khách hàng, chất lượng cho vay thấp.
Nhưng tổng dư nợ cao thì chưa chắc chất lượng cho vay cao vì dư nợ cho vay
tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng. Do vậy, phải xem xét tổng dư nợ trong mối quan
hệ với việc phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng của ngân hàng, để có thể đánh giá đúng đắn, chính xác, khoa học.
* Nợ qúa hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó
khăn, nó có thể xảy ra bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Một rủi ro nào đó từ phía người
vay cũng có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Rủi ro ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động cho vay của ngân hàng nói riêng và toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng nói chung. Do đó, quản lý rủi ro cần được quan tâm, đặc biệt là trong nền
kinh tế thị trường hiện nay. Để đo lường rủi ro trong hoạt động cho vay của
NHTM người ta thường quan tâm tới một số chỉ tiêu đánh giá: quá hạn và tỷ lệ
nợ quá hạn.
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động
xếp loại B và từ 8% trở lên xếp loại C nghĩa là chất lượng tín dụng yếu kém. Các
NHTM luôn cố gắng duy trì tỷ lệ này ở mức thấp nhất có thể.
Ngoài ra, để đánh giá hoạt động cho vay an toàn hay không, ngân hàng có
thể xem xét tỷ lệ giữa cho vay có TSĐB trên tổng dư nợ.
* Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 22
Đề tài thực tập
Nợ khó đòi là các khoản nợ qúa hạn và kèm theo một số chỉ tiêu khác như
quá hạn một thời kì gia hạn nợ hoặc không có TSĐB hoặc có TSĐB nhưng
không bán được, con nợ thua lỗ triền miên, phá sản.
Tỷ lệ nợ khó đòi cho vay XDCB được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa nợ khó
đòi cho vay XDCB với tổng dư nợ cho vay XDCB.
Tỷ lệ nợ khó đòi cho vay
XDCB
=
Nợ khó đòi cho vay XDCB
*
100%
Tổng dư nợ cho vay XDCB
Tỷ lệ nợ khó đòi càng cao chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng
cao, chất lượng cho vay tốt.
* Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng trong hoạt động cho
vay XDCB.
Vòng quay
vốn tín dụng
=
Doanh số thu nợ XDCB
hướng biến động của nó, từ đó có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá chính xác
hơn.
1.3.3.2 Chỉ tiêu định tính
Sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng là sản phẩm vô hình, là một
loại dịch vụ tiện ích. Để đánh giá được chất lượng dịch vụ, nó phụ thuộc vào
mức độ thoả mãn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng có những đặc điểm hết sức khác biệt so với các sản phẩm của ngành
sản xuất khác. Chúng không tồn tại dưới dạng vật chất mà tồn tại dưới dạng dịch
vụ được thực hiện thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Trong
cho vay, sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng là quyền sử dụng vốn
trong một khoảng thời gian nhất định do khách hàng và ngân hàng có thoả thuận
trước. Do đó, ngân hàng quan tâm tới nhu cầu của khách hàng, thiết lập mối
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 24
Đề tài thực tập
quan hệ chặt chẽ, tin cậy với khách hàng và đổi mới trang thiết bị phục vụ khách
hàng.
Việc đưa ra các chỉ tiêu định lượng để đánh giá chất lượng sản phẩm dịch
vụ ngân hàng không phải là dễ dàng. Thông thường vấn đề này thường được
xem xét ở một số chỉ tiêu như sau:
- Thủ tục, trình tự cho vay của ngân hàng có đơn giản, thuận tiện cho khách
hàng không? Khoản cho vay có kịp thời cung ứng cho khách hàng khi khách
hàng cần không? Đặc biệt là quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng có thân
thiện, trên cơ sở tin cậy và tương trợ với nhau không?
- Lãi suất cho vay của ngân hàng có phù hợp không? Bản thân khách hàng là
người đi vay, phải trả lãi cho ngân hàng, đây là một khoản chi phí để sử dụng
vốn vay. Nếu chi phí này cao hơn chi phí khả năng sinh lời của dự án mà khách
hàng đầu tư thì ắt hẳn sẽ khó khăn trong việc hoàn trả. Mặt khác, để mở rộng
mối quan hệ với khách hàng, các NHTM có thể đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn
lượng tín dụng như hoạt động Marketing, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực.
- Chính sách cho vay của NHTM: Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm
của ngân hàng. Với tầm quan trọng và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện
với một chính sách rõ ràng, được xây dựng và hoàn thiện theo nhiều năm, đó là
chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng bao gồm hạn mức cho vay, lãi suất, kì
hạn của các khoản vay, hình thức cho vay... Có thể nói chính sách tín dụng là
kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của
ngân hàng. Bất kì một chính sách tín dụng nào của NHTM trong nền kinh tế đều
phải đạt ba mục tiêu: lợi nhuận, an toàn và sự lành mạnh của các khoản tín dụng.
Nếu ngân hàng có chính sách cho vay đúng đắn, hợp lí, chặt chẽ, đồng bộ với
mức lãi suất thích hợp, hình thức cho vay đa dạng sẽ tạo cho cán bộ tín dụng có
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN