MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................4
CHƯƠNG I.
CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ................................................................6
1.1. Khái niệm và các đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ:............6
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ:.........................6
1.1.2. Các đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ: .................................8
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường:
.................................................................................................................10
1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ:....................................................................................11
1.2.1. Khái niệm về cho vay:...................................................................11
1.2.2. Các phương thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:.......13
1.3. Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:...................15
1.3.1. Quan điểm vể chất lượng cho vay:................................................15
1.3.2. Sự cần thiết của nâng cao chất lượng cho vay đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ:..................................................................................16
1.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay:...................................17
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay đối với DNVVN:24
1.4.1. Các nhân tố khách quan:...............................................................24
1.4.2. Các nhân tố chủ quan:...................................................................26
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI –
LÁNG HẠ......................................................................................................32
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
2.1. Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội – Láng Hạ:
.....................................................................................................................32
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của MB Láng Hạ:...................32
3.2.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ: ...........................................65
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay DNVVVN tại
MB Láng Hạ...............................................................................................66
3.3.1. Đối với cơ quan quản lý Nhà Nước:.............................................66
3.3.2. Đối với các DNVVN:....................................................................67
3.3.3. Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội:.....................68
KẾT LUẬN....................................................................................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................71
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
PHẦN MỞ ĐẦU
Những năm gần đây chúng ta chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của
hệ thống ngân hàng từ 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh và 15 Ngân hàng
thương mại cổ phần và hợp tác xã tín dụng năm 1990, đến năm 2008 con số
này đã lên tới 6 ngân hàng quốc doanh và 35 ngân hàng thương mại cổ phần
cùng rất nhiều các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính… Với
số lượng đông đảo như vậy, các ngân hàng muốn phát triển và thành công thì
phải tự xác định cho mình thị trường và đối tượng khách hàng chủ yếu.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 93% số doanh nghiệp tại Việt
Nam, với lĩnh vực hoạt động phong phú, quy mô đa dạng đang là thị trường
mang lại nhiều lợi nhuận nhưng cũng đầy rủi ro cho các ngân hàng thương
mại.
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội là ngân hàng lựa chọn chiến
lược phát triển ngân hàng bán lẻ tập trung đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ
và đã thu được nhiều thành công.
Chi nhánh Láng Hạ là chi nhánh mới đi vào hoạt động của ngân hàng
Quân Đội và 100% khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vấn đề lớn nhất
của chi nhánh đó là đảm bảo tăng trưởng dư nợ trong khi vẫn đảm bảo chất
lượng cho vay với đối tượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ được xem
là có nhiều đặc điểm phức tạp. Yêu cầu trên đặc biệt khó khăn trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế như hiện nay. Do đó, em đã lựa chọn cho đề tài “ Nâng
doanh nghiệp, ta sẽ có doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Như vậy, khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là ta đang nói đến các
doanh nghiệp được phân loại theo tiêu thức quy mô doanh nghiệp.
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay ở các nước trên thế giới
chỉ mang tính chất tương đối về thời gian lẫn không gian. Quy mô doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở các nước thì khác nhau và có thể, quy mô doanh nghiệp
nhỏ ở Mỹ, Nhật, Pháp lớn hơn quy mô của doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam, và
quy mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ của một nước hiện tại có thể lớn hơn
quy mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nước đó vào thời kì trước.
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
Tại Mỹ, doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Là một
doanh nghiệp có quyền sở hữu độc lập, hoạt động độc lập và không phải là
thành phần nổi trội của một ngành công nghiệp”. Tiêu chuẩn cụ thể doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Mỹ phụ thuộc vào ngành hoạt động. Ví dụ như trong
ngành chế tạo, doanh nghiệp nhỏ nếu số lượng công nhân nhỏ hơn hoặc bằng
250 người, vừa: nếu 250 – 1000 người, lớn: nếu trên 1000 người.
Tại Hàn Quốc, phân chia dựa chủ yếu vào số lượng công nhân làm việc
cho cơ sở ấy và tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ví dụ trong ngành chế
tạo và khai khoáng thì doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp từ 21-300 công
nhân, doanh nghiệp nhỏ là có nhỏ hơn 21 công nhân.
Tóm lại, ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có những khái niệm khác nhau
và những tiêu chuẩn khác nhau để phân loại như thế nào là một doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Nhưng nhìn chung những tiêu thức mà các nước thường sử dụng
để làm căn cứ phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp
lớn là các tiêu thức về vốn, lao động hoặc doanh thu. Tùy thuộc vào điều kiện
và thời điểm của mỗi nước mà tiêu thức dùng làm phân loại có thể là một
hoặc hai trong ba tiêu thức đó.
Ở Việt Nam, theo Nghị Định số 90/2001 NĐ – CP ngày 23/11/2001 của
Chính Phủ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp
đầu tư công nghệ và thiết bị hiện đại cần sử dụng số vốn lớn. Việc đầu tư
nâng cấp các thiết bị máy móc đã lỗi thời cũng cần có khả năng tài chính tốt,
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
cho phép đầu tư lâu dài. Trong khi đó thì ở Việt Nam, nguồn vốn đầu tư vào
công nghệ là nguồn vốn mà các DNVVN khó có khả năng tiếp cận được.
Ngoài ra, để có thể thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao độ như
hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc,
thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản xuất. Thế nhưng hầu hết công nghệ
đang được sử dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện được
đánh giá là lạc hậu. Đại đa số những người chủ của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa không có kiến thức, thông tin, kinh nghiệm về những vấn đề liên quan
đến lựa chọn, mua và chuyển giao công nghệ.
Thứ ba, trình độ quản lý còn thấp.
Các nhà quản lý DNVVN thường chưa được đào tạo bài bản về chuyên
môn, nghiệp vụ, thiếu hiểu biết đầy đủ về quản trị doanh nghiệp dẫn đến
nhiều giám đốc doanh nghiệp không thế lập được kế hoạch tài chính, khhông
xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi…
Ngoài ra thì các DNVVN có nguồn lao động chất lượng được đánh giá là
thấp và ít. Nguyên nhân là do các DNVVN không có khả năng thu hút các
nhân lực chất lượng cao do điều kiện làm việc và chế độ làm việc ở các
DNVVN không đáp ứng được mức lương thưởng như tại các doanh nghiệp
lớn.
Thứ tư, khả năng tiếp cận thông tin kém.
Việc thiếu những thông tin về nhu cầu thị trường, về thiết bị, nguyên vật
liệu…đã khiến cho sức cạnh tranh của các DNVVN yếu đi. Hơn nữa, hoạt
động thiếu thông tin khiến cho quá trình sản xuất kinh doanh không mang
tính định hướng chính xác.
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
Thứ năm, cơ cấu tổ chức đơn giản, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, số lượng
nhân viên ít.
tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp lớn do, DNVVN hoạt động với số
lượng lớn, tham gia vào các ngành nghề rất đa dạng.
Nhìn chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ được thừa nhận là đóng vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của các nước có nền kinh tế phát
triển nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, trong đó có Việt Nam.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhân tố góp phần làm kinh tế phát triển
mạnh mẽ, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đã và sẽ góp phần quan trọng để xoá đói giảm nghèo, tạo sự cấu thành mới
cho phát triển kinh tế Việt Nam.
1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ:
1.2.1. Khái niệm về cho vay:
1.2.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
các ngân hàng. Chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại cũng là đặc
điểm cơ bản đó là việc nhận tiền gửi để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay,
chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh của ngân hàng.
Theo luật các tổ chức tín dụng sửa đổi được Quốc Hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/06/2004:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính
chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương
mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
Hoạt động cho vay đối với DNVVN cũng như các loại hình doanh
nghiệp khác rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau. Sau đây là một
số phương thức cho vay cơ bản:
Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ ngân hàng cho DNVVN vay qua đó
ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định. Hình thức vay trên đang dần được sử dụng
phổ biến hơn với các DNVVN có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân
hàng.
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với
các DNVVN. Nguồn tín dụng ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn
nhất định của chu kỳ kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay đơn giản và doanh
nghiệp có thể kiểm soát từng lần vay.
- Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận
cung cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối
kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây cũng là phương thức cho vay mà
ngân hàng thường chỉ áp dụng với các khách hàng có mối quan hệ thường
xuyên với ngân hàng.
- Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng cho
vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa của doanh nghiệp. Hình thức cho vay
như trên rất ít được sử dụng với các DNVVN.
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Hình
thức cho vay này khá hợp lý đối với các DNVVN và thường được áp dụng kết
hợp với các hình thức cho vay khác.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người
vay phân tán, cách xa ngân hàng. Hình thức vay này ít được các ngân hàng áp
dụng với các DNVVN.
trợ về vốn để mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm...đóng góp vào sự phát
triển chung của toàn xã hội.
Một cách khái quát, chất lượng cho vay chính là sự đáp ứng về số lượng
và chất lượng đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng và đảm bảo các yếu tố
an toàn và lợi nhuận đối với ngân hàng. Khoản vay được coi là có chất lượng
tốt khi nó mang lại lợi ích kinh tế cho cả khách hàng và ngân hàng và cho cả
xã hội. Tức là vốn đưa vào kinh doanh tạo ra số tiền lớn đủ để trang trải chi
phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng và có lợi nhuận đóng góp vào sự tăng
trưởng của nền kinh tế.
1.3.2. Sự cần thiết của nâng cao chất lượng cho vay đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ:
Việc nâng cao chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đóng vai trò quan trọng đối với cả bản thân doanh nghiệp, ngân hàng cũng
như toản xã hội. Để thấy được sự cần thiết của nâng cao chất lượng cho vay,
ta hãy xem xét ý nghĩa và vai trò của việc nâng cao chất lượng cho vay của
các DNVVN.
1.3.2.1. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Đối với các doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng, chất lượng
cho vay cao tức là khoản vay chính đáng của doanh nghiệp được đáp ứng một
cách kịp thời, nhanh chóng, quá trình giải ngân phù hợp với yêu cầu kinh
doanh, chi phí vay vốn thấp, thủ tục nhanh gọn và hiệu quả sử dụng vốn cao.
Khi nhận được vốn tài trợ phù hợp của ngân hàng, DNVVN có thể đầu
tư theo mục đích vay vốn nhằm cải thiện công nghệ, mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh, nâng cao năng suất....từ đó đem lại thu nhập cao hơn cho
doanh nghiệp, nâng cao mức sống của công nhân. Do đó, các DNVVN luôn
muốn chọn cho doanh nghiệp một ngân hàng có chất lượng cho vay tốt.
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
1.3.2.2. Đối với Ngân hàng thương mại:
Cho vay là một trong những hoạt động sinh lời quan trọng nhất của các
NHTM. Khi ngân hàng tìm cách nâng cao chất lượng cho vay tức là ngân
tính. Có thể kể đến vài chỉ tiêu như sau:
- Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trình tín dụng:
Hoạt động cho vay có chất lượng phải tuân thủ các quy định pháp luật
của Nhà Nước: luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản
của Ngân hàng Nhà Nước và các văn bản có liên quan.
Khi tiến hành hoạt động cho vay, phải luôn đảm bảo tuân thủ các quy
trình cho vay, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá
được chất lượng cho vay. Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc
này được cụ thể hóa trong các qui định của ngân hàng Nhà Nước và các
NHTM. Có thể kể đến ba nguyên tắc cơ bản:
• Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác
định đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay
• Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn cho vay đúng mục đích đã
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
• Ngân hàng chỉ được tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả.
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
Nếu ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay, thì ngân hàng có
thể đánh giá đúng tình hình tài chính của khách hàng, từ đó, giúp đưa ra quyết
định tài trợ hợp lý, đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
- Chính sách quản trị điều hành đứng đắn, chiến lược phát triển phù hợp
với yêu cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh của ngân hàng trong từng thời
kỳ cụ thể.
Chỉ tiêu trên được thể hiện trong chính sách tín dụng của ngân hàng.
Chính sách tín dụng cho ta biết về cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, hướng
dẫn chung cho cán bộ, nhân viên ngân hàng tăng cường chuyên môn và tạo sự
thống nhất. Chính sách tín dụng của ngân hàng cũng cho biết được chiến lược
phát triển tín dụng của ngân hàng.
- Mức độ thỏa mãn như cầu tài trợ của khách hàng và chi phí cho vay:
Chất lượng cho vay của ngân hàng với khách hàng được cho là tốt khi
−
−
n
nn
DSCV
DSCVDSCV
Dư nợ cho vay đối với DNVVN:
Chỉ tiêu trên phản ánh số vốn của ngân hàng đang cho các DNVVN vay
tại một thời điểm cụ thể. Nó được tính trên số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế
toán của ngân hàng.
Cùng với chỉ tiêu doanh số cho vay, chỉ tiêu trên cũng dùng để đánh giá
mức độ tăng trưởng tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu
mà ngân hàng phải theo dõi thường xuyên để biết tình hình sử dụng vốn của
khách hàng. Nếu dư nợ cuối kỳ thấp và có xu hướng giảm, nó phản ánh chất
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
lượng cho vay thấp. Vì hoạt động cho vay không thu hút khách hàng, không
được mở rộng. Tuy nhiên, dư nợ với DNVVN cuối kỳ cao cũng chưa thể
đánh giá là chất lượng cho vay với DNVVN tốt được. Chỉ tiêu này còn phải
kết hợp với các chỉ tiêu khác để đánh giá một cách toàn diện.
Tỷ lệ tăng trưởng DNCV =
1
1
−
−
−
n
nn
DNCV
DNCVDNCV
Nếu cả hai chỉ tiêu trên đối với DNVVN cùng cao và với tốc độ tăng
giá chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng. Vì khi tỷ lệ này thấp, có thể
ngân hàng đang theo đuổi chính sách cho vay an toàn, ít rủi ro với khách hàng
DNVVN nên không mở rộng cho vay nhiều với loại hình này nên tỷ lệ tăng
trưởng dư nợ và doanh số sẽ thấp.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các khoản nợ quá hạn của các DNVVN.
Có thế là nguyên nhân xuất phát từ phía doanh nghiệp như trình độ quản lý
sản xuất yếu kém, công nghệ lạc hậu.....hoặc do sự thay đổi của các nguyên
nhân khách quan như: sự bất ổn của nền kinh tế, sự thay đối chính sách kinh
tế....Nguyên nhân cũng có thể xuất phát từ trình độ đánh giá, phân tích yếu
kém của cán bộ tín dụng khi phân tích các khoản vay không có khả năng hoàn
trả ngay từ khi xét hồ sơ tín dụng.
Nhìn chung, các nguyên nhân trên đều đánh giá được khi tỷ lệ nợ quá
hạn các DNVVN cao thì chất lượng cho vay của ngân hàng đương nhiên là
thấp.
Quyết định 493/2005/ QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 đã quy định về phân
loại nợ, trích lập, dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng. Các khoản nợ quá
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
hạn gồm có: nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng
mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu của các DNVVN:
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = ----------------------
×
100%
Tổng dư nợ
Nợ xấu bao gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ khó đòi và nợ có khả năng mất
vốn. Chỉ tiêu này bổ sung cho chỉ tiêu trên bởi nếu xét chỉ tiêu nợ quá hạn thì
các khoản nợ quá hạn thì phần lớn có thể là nợ cần chú ý, ngân hàng có thể cơ
cấu lại các món nợ.
Vòng quay vốn tín dụng :
Có thể chia các nhân tố tác động đến chất lượng cho vay đối với các
DNVVN thành các nhân tố khách quan và chủ quan. Trong đó, nhân tố chủ
quan bao gồm các nhân tố từ phía khách hàng và nhân tố từ phía ngân hàng.
1.4.1. Các nhân tố khách quan:
Hoạt động của các NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nhân tố thuộc
về môi trường khách quan như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính
trị - xã hội.... Hoạt động cho vay cũng chịu những tác động từ những nhân tố
này.
Vũ Minh Hạnh Tài chính doanh nghiệp 47B
• Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế là nhân tố vĩ mô có những tác động đáng kể đến chất
lượng cho vay đối với các DNVVN. Nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều
kiện cho doanh nghiệp phát triển tốt, tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng
hoạt động, thuận lợi hơn cho hoạt động cho vay phát triển, các khoản vay sẽ
có chất lượng cao hơn.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, mất đi sự hài hòa và ổn định sẽ gây
khó khăn cho cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp. Các DNVVN là các doanh
nghiệp chịu nhiều khó khăn nhất khi nền kinh tế khủng hoảng, hoạt động kinh
doanh bị thu hẹp, hoạt động cho vay sẽ gặp khó khăn. Nhu cầu vốn cho vay
trong thời kỳ này giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện cũng khó có
thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.
• Môi trường pháp lý:
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động cho vay nói
chung và cho vay với DNVVN nói riêng. Chủ trương chính sách của Chính
Phủ, ngân hàng Nhà Nước về hoạt động tín dụng, hỗ trợ với các DNVVN sẽ
có những tác động trực tiếp đến hiệu quả cho vay đối với các DNVVN. Có
thể kể đến những quy định về đảm bảo tiền vay, tỷ lệ an toàn vốn, trích lập dự
phòng....đều là các quy định nhằm hạn chế rủi ro các khoản cho vay của ngân
hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng.
Pháp luật còn tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động