Báo cáo thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
1
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1
1.1.1. Khái niệm – Đặc điểm của Ngân hàng thương mại 1
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 2
1.1.3. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 5
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại
6
1.2.1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại 6
1.2.2. Phân loại sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại 8
1.2.3. Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 11
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương
mại
14
1.3.1. Môi trường kinh doanh 14
1.3.2. Các yếu tố nội tại 15
CHƯƠNG 2
HÀ NỘI
36
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng của Agribank Bắc Hà Nội
36
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Agribank Bắc Hà Nội
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
37
3.2.1. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh tín dụng 37
3.2.4. Về Kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế 43
3.2.5. Về công tác thu nợ 43
3.3. Một số kiến nghị
44
3.3.1. Đối với Nhà nước 44
3.3.2. Đối với NHNo&PTNT Bắc Hà Nội 46
3.3.3. Đối với Agribank Bắc Hà Nội 46
3.3.4. Đối với các doanh nghiệp vay vốn 48
KẾT LUẬN
48
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
Bảng 2.4: Huy động vốn và sử dụng vốn tại NHNo&PTNT Bắc Hà Nội 24
qua 3 năm 2010 – 2012 24
Bảng 2.5: cơ cấu đầu tư tín dụng của NHNo&PTNT Bắc Hà Nội theo thành phần kinh
tế 27
Bảng 2.6: Tình hình nợ quá hạn tại NHNoPTNT Bắc Hà Nội 29
BẢNG 3.1: KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2013 - 1016 36
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm – Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Ngay
nửa đầu thế kỳ 16, ở Châu Âu đã ra đời một số ngân hàng đầu tiên mà tiền thân là những
tổ chức cho vay nặng lãi. Vào thời điểm này, ngân hàng phát triển ở trình độ thấp, hoạt
động của ngân hàng chỉ gói gọi trong lĩnh vực giữ hộ tiền và cho vay. Cùng với sự phát
triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng thương mại cũng được từng
bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hóa dần theo hướng đa năng. Tuy nhiên đến
nay chưa có một khái niệm thông nhất về ngân hàng thương mại do các nhà kinh tế nhận
thấy có những khó khăn trong việc định nghĩa “ngân hàng”, bởi quan niệm về ngân hàng
thay đôi trong không gian (tập quán và phong tục mỗi nước) và trong thời gian (theo đà
phát triển kinh tế - xã hội). Theo một số chuyên gia về ngân hàng trên thế giới thì ngân
hàng trong nền kinh tế thị trường được quan niệm là “Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc
biệt hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, tuân thủ theo pháp luật theo đuổi mục tiêu
lợi nhuận”. Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 “Ngân
thương mại. Rủi ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền, rủi ro đến từ những
yếu tố khách quan. Bởi vây, ngân hàng thương mại phải đối mặt với rủi ro cao, kéo
theo là rủi ro đối với những người gửi tiền ở ngân hàng thương mại cũng như đối với
nền kinh tế. Để tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát, làm giảm nhẹ những tổn
hại do ngân hàng vỡ nợ gây ra, chính phủ các quốc gia đặt ra những đạo luật riêng,
nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế
thị trường.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Tầm quan trọng của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức năng
của nó. Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thương mại là trái tim của nên kinh tế.
Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi được khơi thông đưa
tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lưu chuyển tiền tệ một cách hiệu quả.
Các chức năng của ngân hàng thương mại có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh
khác nhau, nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức năng trung gian tín dụng,
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trung gian thanh toán, chắc năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Ngân hàng thương mại – Trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng thương mại và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức
năng trung gian tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế,
khơi nguồn vốn từ những người có vốn nhàn rỗi sang những người có nhu cầu về vốn.
Trong nền kinh tế, do các đơn vị kinh tế có nhu cầu về tiền, vốn vào thời điểm
khác nhau là khác nhau, gây ra những hiện tượng thừa, thiếu tạm thời. Ngân hàng
thương mại là nơi trung gian có vai trò chuyển đổi kỳ hạn nợ, thay đổi kỳ hạn đáo hạn
của các khoản nợ, món nợ.
Ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác,
toán ở trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống ngân
hàng thương mại. Với phương pháp công nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bước
trang bị đầy đủ các máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện, thanh
toán bù trừ được nhanh chóng giảm bớt chi phí và có độ chính xác cao. Quá trình lưu
thông chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán có một đặc điểm
phi vật chất. Bằng chứng là ở các nước công nghiệp phát triển sử dụng hình thức
chuyển tiền điện tử là chuyện bình thường. Họ thanh toán bằng nối mạng các máy vi
tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài
khoảng người mua sang tài khoản người bán một cách nhanh chóng tiện lợi.
Như vậy, ngân hàng đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩy
nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.
1.1.2.3. Chức năng tạo ra tiền của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp.
Vào thế kỷ 19, hệ thống ngân hàng hai cấp đã được hình thành, các ngân hàng
không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó ngân hàng trung
ương là cơ quan quản lý, về tiền tệ tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng còn các
ngân hàng thương mại, kinh doanh tiền tệ.
Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các ngân hàng thương mại đã tạo ra bút tệ.
Việc tạo ra bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động ngân hàng; chức
năng tạo ra bút tệ được thông qua hoạt động tín dụng và đầu tư của ngân hàng thương
mại trong mối quan hệ tùy thuộc vào ngân hàng Trung ương. Nhờ nhận tiền ký thác
của khách hàng, ngân hàng thương mại có khả năng đầu tư. Nhưng khi đầu tư, ngân
hàng tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi là tiền bút tệ, tiền chuyển khoản ngân hàng
thương mại trở thành người cung ứng tiền bút tệ quan trọng trong nền kinh tế.
Tóm lại, khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
hàng đầu tiên nhận tiền gửi thanh toán thành một tài khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần,
thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng nhiều ngân hàng. Khả
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
nhất bởi nó đem lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng.
*Các hoạt động trung gian của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động thanh
toán, hoạt động quản lý sản cho khách hàng, hoạt động phát hành chứng khoán, hoạt
động mua bán và bảo quản chứng khoán, hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn kinh
doanh và quản trị doanh nghiệp… Các hoạt động trung gian này không phải đem lại
nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thương mại nhưng nó có ý nghĩa quan trọng
trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn và sử dụng nguồn vốn, đồng thời đa dạng
hóa hoạt động, giảm bớt rủi ro và tăng thu nhập cho ngân hàng.
Trên đây là ba nhóm hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, mỗi hoạt
động có những đặc điểm khác nhau song có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và bổ
sung cho nhau. Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng, không được coi nhẹ hoạt
động nào mà phải luôn đặt mối quan hệ giữa chúng trong khi đề ra chiến lược cũng
như lập kế hoạch kinh doanh để đạt được hiệu quả trong hoạt động.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Nguồn vốn tiền gửi
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất chiếm bộ phận lớn trong tổng
số nguồn vốn của NHTM, thường chiếm khoảng 50 – 60% nhưng hiện nay tỷ lệ này
đang giảm dần.
Theo tính chất giao dịch việc huy động vốn chia làm 2 loại: Tiền gửi giao dịch
và tiền gửi tiết kiệm, nó có thể được chia thành dạng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Nguồn vốn nằm trên tài khoản thanh toán và tiết kiệm không kỳ hạn là khá lớn bởi nó
phục vụ cho nhu cầu thanh toán giao dịch trong nền kinh tế. Đặc điểm của nguồn vốn
này là ngắn hạn, không ổn bởi khách hàng có thể rút tiền tài khoản bất kỳ lúc nào họ
có nhu cầu. Ngân hàng sử dụng vốn phải đối phó với rủi ro thanh khoản hoặc sự ứ
đọng vốn nhưng ngược lại chi phí sử dụng nó rất thấp. Việc huy động nguồn vốn tiền
gửi phụ thuộc nhu cầu thanh toán của từng cá nhân. Ví dụ như những ngày giáp Tết
tệ thông qua phát hành các kỳ phiếu ngắn hạn, trái phiếu trung và dài hạn.
Đặc điểm của nguồn vốn đi vay là ổn định hơn nguồn vốn tiền gửi nhưng chi
phí vốn cao hơn. Tỷ lệ nguồn đi vay đang có xu hướng chiếm khoảng 15 – 20% tổng
nguồn vốn ngân hàng thương mại. Việc huy động vốn còn phụ thuộc chính sách tiền tệ
của NHNN, các hoạt động nói chung của ngân hàng thương mại và tính năng động của
thị trường chứng khoán.
1.2.1.3. Các nguồn vốn khác của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại còn có những nguồn vốn khác như nguồn vốn ủy thác,
nguồn vốn mà ngân hàng đứng ra quản lý hộ một tổ chức để đầu tư vào một dự án lớn
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
mang lại lợi nhuận cao, trong trường hợp này ngân hàng sẽ hưởng hoa hồng và dịch vụ
quản lý.
Nguồn vốn trong thanh toán hình thành từ đặc điểm thanh toán không dùng tiền
mặt khi mà sự vận động giữa hàng hóa và tiền tệ luôn có một khoảng thời gian nhất
định. Kế toán ngày càng hiện đại thì khoảng thời gian này ngày một rút ngắn, nguồn
vốn bị thu hẹp nhưng tăng tính cạnh tranh cho ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn hình thành từ các khoản nợ của ngân hàng chưa đến hạn phải trả.
1.2.1.4. Vốn chủ sở hữu và các quỹ
Trước khi bước vào hoạt động, mỗi ngân hàng đề có một khoản vốn nhất định
nhiều hơn hoặc bằng vốn pháp định do Nhà nước đặt ra, gọi là vốn điều lệ. Đối với
ngân hàng quốc doanh, vốn điều lệ thường do ngân sách Nhà nước cấp, các ngân hàng
cổ phần do các cổ đông đóng góp. Vốn điều lệ phục vụ cho việc mở rộng, khởi động
ngân hàng, tạo ra cơ sở vật chất ban đầu để ngân hàng đi vào hoạt động. Vốn điều lệ
thể hiện quy mô, uy tín của ngân hàng. Tỷ lệ vốn nhỏ chỉ chiếm 5 - 10% tổng nguồn
vốn. Thường các ngân hàng cổ phần sau một thời gian hoạt động muốn nâng vốn điều
lệ lên bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, các nguồn vốn bổ sung được trích trên cơ sở
lợi nhuận không chia, lợi nhuận sau thuế, hoặc tăng nguồn vốn này bằng cách phát
quan trọng trong quản lý lưu thông tiền tệ. Thứ hai, bản thân ngân hàng cũng thấy rõ
sự cần thiết phải giữ một ít tiền mặt mà không nên cho vay hết. Việc giữ tiền mặt này
để đảm bảo an toàn cho những hoạt động còn lại, do vậy dự trữ tiền mặt trong tài sản
còn gọi là “khoản đầu tư cho sự an toàn”. Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ gửi tiền vào các
ngân hàng lớn để đổi lấy các dịch vụ khác nhau như tập hợp séc, giao dịch ngoại tệ.
Các khoản này có tính lỏng nhất trong các loại tài sản của ngân hàng chiếm khoảng
7% tổng tài sản, phục vụ nhu cầu thanh khoản tại ngân hàng.
1.2.2.2. Đầu tư vào chứng khoán
Có thể thấy ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán
nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hóa các loại
hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro. Trong việc đầu tư vào chứng khoán, ngân hàng
thương mại chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái phiếu có tính thanh khoản
cao. Đây là những công cụ chính của thị trường tiền tệ tài chính. Việc mua và dự trữ
các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho ngân hàng, mặt khác chúng là
những công cụ tài chính dễ lưu động hóa, vì vậy khi cần tiền ngân hàng có thể bán
hoặc chiết khấu ở ngân hàng khác hoặc ở NHNN.
1.2.2.3. Tiền cho vay
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại để
tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phí dự trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các
chi phí rủi ro đầu tư.
Kinh tế ngày càng phát triển, hướng cho vay của các ngân hàng thương mại
càng tăng và loại hình cho vay cũng trở nên vô cùng đa dạng. Ở hầu hết các nước công
nghiệp trong nhóm 10 và 15 nước hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng
thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. Khu vực cho
vay ngắn hạn nhường chỗ cho thị trường tiền tệ tài chính cung ứng. Ngược lại hầu hết
1.2.3.1. Khái niệm chung về sử dụng vốn
Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được là lẽ sống của ngân hàng
thương mại. Cho vay hay đầu tư vào các loại tài sản nào cũng đều là hoạt động kiếm lợi
nhuận. Tài sản có là những khoản nợ mà thị trường nợ ngân hàng hoặc là những khoản
mà ngân hàng cho thị trường vay. Đứng trên góc độ tính chất, ngân hàng là chủ nợ và các
đội tượng vay tiền của nó là con nợ. Vì mục tiêu của ngân hàng là cho vay để kiếm lời,
nên tài sản có hay các khoản mà ngân hàng cho vay còn được gọi là đầu tư.
Như vậy sử dụng vốn là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại.
Sử dụng vốn bao gồm:
- Dự trữ tiền mặt: Tiền mặt tại kho của ngân hàng
Tiền mặt ký gửi của ngân hàng Trung ương.
- Đầu tư vào chứng khoán ( trái phiếu, hối phiếu…)
- Cho vay
- Đầu tư vào các loạt tài sản ( như bất động sản, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị…)
1.2.3.2. Chỉ tiêu xác định hiệu quả sử dụng vốn
*Tổng dư nợ cho vay / Tổng nguồn vốn kinh doanh
Phản ánh cứ một đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng được đem đi cho vay.
*Doanh số cho vay / Tổng nguồn vốn kinh doanh
Phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh thì bao nhiêu đồng được đem đi cho vay.
1.2.3.3. Các vấn đề liên quan đến sử dụng vốn an toàn và hiệu quả
*Quản lý nguồn vốn tại ngân hàng thương mại
Phân tích cơ cấu nguồn vốn và quản lý nguồn vốn hướng tới mục tiêu ổn định
hoạt động của ngân hàng và đặc biệt hướng tới lợi nhuận. Nghĩa là: Ngân hàng phải
đạt được chiến lược làm sao tạo nguồn vốn ổn định có thể ổn định sử dụng. Và xây
dựng cơ cấu vốn hợp lý và giảm chi phí vốn ở mức thấp nhất.
Quản lý nguồn vốn về quy mô nghĩa là xem xét ngân hàng thương mại có khả
năng huy động vốn cao nhất là bao nhiêu. Cơ cấu, qui mô từng loạt vốn ảnh hưởng tới
việc trả lãi ngân hàng và ảnh hưởng tới ổn định hoạt động ngân hàng như thế nào. Các
ngân hàng hiện đại thường lập ra những bài toán tối ưu về cơ cấu nguồn và quy mô
từng loại nguồn vốn.
gửi ngân hàng cũng có thể giảm theo. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ của ngân hàng
Trung ương có khuynh hướng bù đắp cho sự giảm sút tiền gửi ngân hàng trong toàn bộ
hệ thống ngân hàng suốt thời kỳ kinh tế trì trệ. Trong giai đoạn chấn hưng, nhu cầu tín
dụng tăng vượt mức tăng tiền gửi, khiến ngân hàng bán các tài sản lưu hoạt.
Kết quả của những biến động này trong nền kinh tế đã tác động đến mức tiền
gửi do đó ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản. Vấn đề đặt ra cho ngân hàng là
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phải quản lý thanh khoản.
Quản lý thanh khoản của ngân hàng xác định nhu cầu khả năng đáp ứng nhu
cầu thanh khoản tín dụng cho khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào, tránh tình trạng
khách hàng đến rút tiền ồ ạt dẫn đến tình trạng ngân hàng phá sản. Điều quan tâm hàng
đầu là ngân hàng phải tính toán các loại tài sản có khả năng chuyển thành tiền mặt.
Việc xác định một mức thanh khoản hợp lý trong từng thời kỳ là hết sức khó khăn.
Ngân hàng phải dự đoán được nhu cầu của nền kinh tế tại các thời điểm khác nhau.
Đồng thời dựa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng Trung ương ban hành để có
chính sách tín dụng phù hợp. Trong từng trường hợp thanh khoản có vấn đề, ngân
hàng thường dùng biện pháp bán đi các chứng khoán để chuyển đổi như tín phiếu kho
bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu của các công ty có chất lượng cao
được ưa chuộng trên thị trường. Tiếp theo ngân hàng rút các khoản tiền gửi tại các
ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. Trường hợp khẩn cấp, ngân hàng
phải tiến hành thương lượng với các ngân hàng thương mại khác để bán đi các khoản
tín dụng có chất lượng cao. Thông báo trì hoãn các khoản nợ sẽ là phương cách cuối
cùng của ngân hàng thương mại.
*Quản lý rủi ro
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là những biến cố sự kiện, hiện tượng
xảy ra trong quá trình hoạt động của Ngân hàng thương mại gây ra thất thoát lớn về tài
sản, ảnh hưởng đến uy tín, làm giảm lợi nhuận thậm chí thua lỗ, nguy hiểm hơn là dẫn
dân. Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng
mở rộng hoạt động kinh doanh của mình như các hoạt động tín dụng, kinh doanh
ngoại tệ, các dịch vụ thanh toán. Ngược lại, một nền kinh tế ì ạch sẽ tác động xấy đến
hoạt động kinh doanh của NHTM. Bên cạnh đó, các yếu tố khác của nền kinh tế cũng
ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn như lạm phát, chu kỳ kinh tế…
Không những chịu ảnh hưởng của thực trạng nền kinh tế, các yếu tố về chính trị
- xã hội cũng như tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của NHTM. Hoạt động kinh
doanh của ngân hàng là loại hình hoạt động kinh doanh đặc biệt, ảnh hưởng lớn đến
nền kinh tế nên hoạt động ngân hàng chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Nhà
nước. Chính trị, pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng chính là các chính sách tiền tệ tín
dụng của Chính phủ hoặc của Ngân hàng Trung ương. Vì vậy, tình hình chính trị ổn
định là nền tảng cơ sở cho ngân hàng thương mại hoạt động ổn định, từ đó đưa ra các
điều kiện vay hợp lý đồng thời đưa ra các hình thức dịch vụ ngân hàng ngày càng đa
dạng và phong phú. Ngược lại, khi tình hình chính trị không ổn định, các ngân hàng
phải lo đối phó với những biến động của thị trường cho vay, các hình thức đầu tư cũng
bị hạn chế, các điều kiện cho vay khó hơn…
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.3.2. Các yếu tố nội tại
Bên cạnh các yếu tố về môi trường kinh doanh, hoạt động sử dụng vốn của
ngân hàng thương mại còn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố nội tại bên trong của
chính ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn là một hoạt động trong tổng thể những hoạt
động thống nhất của NHTM bao gồm bao hoạt động cơ bản là hoạt động huy động
vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động cho vay. Hoạt động sử dụng vốn là các
hoạt động cho vay, các dịch vụ thanh toán… của ngân hàng nhằm thu lợi nhuận. Vì
vậy, hoạt động vốn phải gắn liền với hoạt động huy động vốn. Để có thể đầu tư, cho
vay các ngân hàng phải có vốn, như vậy muốn đáp ứng nhu cầu trên, các NHTM phải
đi huy động vốn từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức trung
5/9/2001 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam ban hành
Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đi vào hoạt động kinh doanh từ ngày
01/11/2001 với 42 cán bộ công nhân viên và Ban giám đốc.
Tên giao dịch : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi
nhánh Bắc Hà Nội. (Agribank Bắc hà Nội )
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam bank for Agriculture and Rural Development
Bac Hanoi Brach
Trụ sở chính hiện nay: 266 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội
* Chức năng và nhiệm vụ kinh doanh của NHNo&PTNT Bắc Hà Nội:
- NHNo&PTNT Bắc Hà Nội thực hiện các chức năng chính là huy động tiền
gửi: Huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các
tổ chức kinh tế trong và ngoài nước vốn vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo quy
định của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Cho vay ngắn trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: Cho vay thông
thường, cho vay tài trợ theo dự án, cho vay đồng tài trợ, cho vay tài trợ xuất nhập
khẩu, chiết khấu các giấy tờ có giá…
- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới nhiều hình thức khác nhau
trong và ngoài nước.
- Thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ như: thanh toán chuyển tiền điện
tử trong cả nước, thanh toán biên giới, thanh toán quốc tế qua mạng…
- Đầu tư dưới hình thức hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần, mua tài sản và các
hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng tài chính.
- Thực hiện làm đại lý và dịch vụ uỷ thác cho các tổ chức tài chính tín dụng và cá
Nguyễn Tài Việt
NHA - 05
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
nhân trong và ngoài nước như tiếp nhận và triển khai các dự án uỷ thác vốn, dịch vụ
giải ngân cho dự án đầu tư, dự án uỷ nhiệm, thanh toán thẻ tín dụng…
- cung cấp các dịch vụ như: cho thuê két sắt, cất trữ, chi trả lương tại doanh
50
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
định được nguồn vốn ổn định có thời hạn dài phục vụ nhu cầy vay trung và dài hạn.
Ngoài ra, ngân hàng có thể chủ động đi vay các tổ chức kinh tế khác, huy động từ dân
cư thông qua cách thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng để đảm bảo nguồn vay cho vay
trung và dài hạn.
Trên thực tế bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh đều phải
có vốn. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt (hoạt động kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ) do vậy nhu cầu vốn đối với ngân hàng là hết sức cần thiết để thực hiện
hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác, nguồn vốn chủ yếu
của một ngân hàng là vốn huy động. Do vậy để mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng
cần phải mở rộng hoạt động huy động vốn nhằm đảm bảo tính cạnh tranh của ngân
hàng mình với các ngân hàng khác.
Bảng 2.1: Biến động nguồn vốn huy động qua các năm 2010 - 2012
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 So với 2010 2012 So với 2011
+/- % +/- %
Tổng
nguồn vốn
huy động
(Gồm cả
ngoại tệ
quy đổi
VND)
2.264.034 3.379.000 1.114.966 149,2% 6.117.000 2.738.000 181%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT năm 2010 – 2012)
Qua bảng 2.1 ta thấy: Nguồn vốn huy động của Agribank Bắc Hà Nội
. Năm 2010 khi nguồn vốn huy động thấp 2.264.034 triệu đồng nhưng sang đến
năm 2011 đã là 3.379.000 triệu đồng, tăng 1.114.966 triệu đồng so với 2010, tăng
149,2% và đạt 124% kế hoạch. Năm 2012 tổng nguồn vốn là 6117 tỷ, tăng 2.738.000