Gía và phương pháp tính giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông - Pdf 23

Lời mở đầu
Từ khi kinh tế Việt Nam chuyển mình sang nền kinh tế thị trờng đã có rất
nhiều sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của mỗi doanh nghiệp nói riêng và
nền kinh tế nói chung. Giờ đây, doanh nghiệp phải tự mình vật lộn để tồn tại, phát
triển trong một môi trờng cạnh tranh đầy gay go không kém phần quyết liệt. Để
tồn tại và phát triển một cách bền vững, không còn cách nào khác là doanh nghiệp
phải tự hoàn thiện mình, hoàn thiện cách thức và phơng pháp sản xuất kinh doanh
sao cho đạt hiệu quả nhất. Muốn đạt đợc nh vậy, doanh nghiệp phải không ngừng
lập và thay đổi các chiến lợc sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với từng thời kỳ
khác nhau của nền kinh tế. Tuy nhiên có một chiến lợc mà bất biến, xuyên suốt
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó chính là chiến lợc về giá.
Định giá bán sao cho hợp lý, tối u là một điều vô cùng quan trọng, nó quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chính vì tầm quan trọng đó, sau một
thời gian thực tập tại công ty bóng đèn phích nớc Rạng Đông, tôi đã chọn đề tài:
Giá và phơng pháp tính giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nớc
Rạng Đông làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình.
Chuyên đề đợc chia làm 3 chơng
Chơng 1: Lý luận chung về giá và phơng pháp tính giá bán sản phẩm
Chơng 2: Thực trạng giá bán sản phẩm của công ty Bóng đèn phích nớc
Rạng Đông
Chơng 3: Phơng hớng và biện pháp hoàn thiện giá và phơng pháp tính
giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nớc Rạng Đông
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn và
các cô chú, anh chị em trong công ty Bóng đèn phích nớc Rạng Đông đặc biệt
phòng thị trờng đã giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này.
Chơng i
Lí luận chung về giá và phơng pháp
tính giá bán sản phẩm
I. Lí luận chung về giá
1. Tầm quan trọng của giá trong nền kinh tế nói chung và đối với mỗi một
doanh nghiệp nói riêng

Trong thực tế, cạnh tranh bằng chiến lợc sử dụng giá cả là biện pháp cạnh
tranh nghèo nàn nhất, vì khi gặp phải đối thủ có tiềm lực lớn, cạnh tranh bằng giá
cả sẽ không phát huy tác dụng. Trong nhiều trờng hợp, sự cạnh tranh này chỉ dẫn
tới việc giảm bớt lợi nhuận của những ngời bánvà đem lại lợi ích cho phía ngời
mua.Tuy nhiên cạnh tranh bằng giá cả có thể áp dụng thành công và có u thế trong
xâm nhập vào thị trờng mới. Đối với thị trờng Việt Nam, thu nhập của dân c cha
cao, yêu cầu về chất lợng và chủng loại lại thấp nên cạnh tranh bằng chiến lợc giá
cả vẫn đợc coi là vũ khí lợi hại.
3. Các nhân tố có ảnh hởng tới giá bán sản phẩm
3.1. Nguyên vật liệu đầu vào
Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ,
nhiên liệu cho hoạt động của máy móc, có thể là điện nớc. Giả sử cá yếu tố khác
ván giữ nguyên nhng giá nguyên vật liệu đàu vào tăng thì giá bán sản phẩm sẽ
tăng, nh vậy quan hệ biến đổi giữa giá của nguyên vật liệu đầu vào và giá bán sản
phẩm là quan hệ tỷ lệ thuận.
3.2. Chi phí sản xuất
Sự hiểu biết chính xác về chi phí bỏ ra để sản xuất ra hàng hooặc dịch vụ là
rất quan trọng đối với công ty vì ba lí do sau:
Giá thành là yếu tố quyết định giới hạn thấp nhất của giá bán. Các công ty
đều mong muốn tính một nức giá để đủ trang trảI mọi chi phí bỏ ra trong sản xuất,
phân phối, có lợi nhuận chính đáng cho những nỗ lực kd và gánh chịu rủi ro. Vì
vậy, khi ấn định mức giá bán, giá thành đợc coi là cơ sở quan trọng.
Khi xác định đợc chính xác và quản lí đợc chi phí, các nhà quản lí có thể
tìm ra các giảI pháp thay đổi, hạ thấp chúng để gia tăng lợi nhuận, điều chỉnh giá
một cách chủ động, tránh mạo hiểm.
3.3. Các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp trong từng giai đoạn kinh doanh khác của mình thì
có giá bán sản phẩm khác nhau. Nếu nh mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là
dẫn đầu thị phần thì giá bán sản phẩm của doanh nghiệp sẽ hạ hơn so với giá bán
của đối thủ cạnh tranh, nếu nh mục tiêu dẫn đầu về chất lợng ( hoặc đôi khi là tối

sản phẩm dựa trên các yếu tố nh chi phí, pháp luật, mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp, đảm bảo mức lợi nhuận
2. Một số yếu tố có ảnh hởng tới việc tính giá bán sản phẩm
Nhìn chung có một số yếu tố sau đây ảnh hởng tới quá trình định giá bán
hàng hoá của doanh nghiệp:
Nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu là yếu tố đầu tiên mà ngời định giá phải xem xét đến. Mức giá đặt
ra khác nhau thì có ảnh hởng khác nhau lên mức cầu khác nhau của khách hàng,
đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Nhìn chung giá càng thấp thì cầu càng cao và
ngợc lại. Để danhg giá mối quan hệ giữa nhu cầu và giá cả hàng hoá, ngời ta có
thể tính đến hệ số co gián của cầu về giá. Nhiều khi, sự tác động của giá lên nhu
cầu là không đáng kể do tác động của nhiều yếu tố nh: tính độc đáo của sản phẩm,
khả năng thay thế của sản phẩm không cao; giá mua quá thấp so với tổng thu
nhập; do tính đồng bộ trong tiêu dùng; không có khả năng dự trữ.
Chi phí sản xuất sản phẩm
Chi phí là một yếu tố đặc biệt quan trọng cần đợc xem xét khi định mức giá.
Trong các điều kiện bình thờng mức giá dù tính theo cách nào cũng phải đảm bảo
lớn hơn chi phí để có lợi nhuận.
Để tổ chức quản lý chi phí và có cơ sở định giá ngời ta phân loại chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo nhiều tiêu thức khác nhau. Song có những
loại chi phí rất quan trọng cần phải tính đến khi định giá nh: tổng chi phí cố định,
tổng chi phí biến đổi, tổng chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bình quân của một
đơn vị sản phẩm.v.v
Đối thủ, trạng thái cạnh tranh và quan hệ cung cầu trên thị tr-
ờng
Ngoài thị trờng độc quyền, các doanh nghiệp khi định giá bán sản phẩm
không thể không nghiên cứu giá bán trên thị trờng và những đối thủ cạnh tranh
của mình. Nghiên cứu thị trờng giúp cho doanh nghiệp nắm bắt đợc cung cầu trên
thị trờng, mức giá mà thị trờng có thể cháp nhận đợc. Mặt khác ngời làm giá phải
phân tích giá thành, giá cả và hàng hoá của đối thủ cạnh tranh, để từ đó có hớng co

phát triển sản phẩm mới). Trong nhiếu trờng hợp, mục tiêu làm giá này xuất hiện
với t cách là mong muốn có tính chủ quan của ngời định giá.
3.2. Định giá nhằm đảm bảo tối đa hoá lợi nhuận
Mục tiêu này yêu cầu xác định mớc giá sao cho có thể đạt đợc lợi nhuận
cao nhất khi bán hàng. Để đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận có thể có các con
đờng khác nhau. Ngời ta có thể đặt giá ở mức cao nhất cho sản phẩm dịch vụ khi
có điều kiện (giá hớt váng đối với sản phẩm mới thành công, giá đàu cơ đối với
sản phẩm khan hiếm khi ccàu lớn hơn cung mà khong cóa sản phẩm tốt thay
thế).Thị trờng tối đa hoá lợi nhuận bằng cách này có thể phải trả giá bởi phản ứng
của xã hội, qui định của pháp luật và làm xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp. Tối
đa hóa lợi nhuận không phải cũng thực hiện đợc trên cơ sở giá đắt. Trong nhiều tr-
ờng hợp, giá cao khong đồng nghĩa với việc tổng số lợi nhuận cao. Có thể tìm lợi
nhuận tối đa (lãi tối u) trên cơ sở ghái tối u.Giá tối u đợc xác định trên cơ sở mối
quan hệ tơng thích giữa giá với số lợng sản phẩm bán đợc- tổng thu nhập tổng
chi phí và lợi nhuận tơng ứng với nó. Để có lợi nhuận tối đa, ngời ta không lựa
chọn mức giá đa đến doanh số bán lớn nhất mà chọn mức giá mang lại lợi nhuận
tối u cho doanh nghiệp.
3.3. Định giá nhằm mục tiêu doanh số bán hàng
Theo mục tiêu này, mức giá đợc xác định sao cho có thể đạt đến một mức
bán hàng nào đó (thờng là cao nhất) mà doanh nghiệp mong muốn. Trong trờng
hợp này, trọng tâm cần đáp ứng là số lợng (doanh số) bán hàng đợc hoặc tăng khả
năng bán hàng còn lợi nhuận ít dợc quan tâm. Theo đuổi mục tiêu này, ngời ta th-
ờng dựa trên ý tởng: doanh số cao sẽ có lợi nhuận cao. Nhng không phải lúc nào
cũng có sự trùng khớp giữa doanh số và lợi nhuận. Tăng doanh số không có nghĩa
là tăng lợi nhuận. Thậm chí tăng doanh số kèm theo sự giảm sút về lợi nhuận bởi
sự vận động không tơng thích giữa việc giảm giá bán để tăng khối lợng bán và chi
phí
3.4. Định giá nhằm phát triển các phân đoạn thị trờng
Trọng tâm cần đáp ứng của giá theo mục tiêu này là giúp cho doanh nghiệp
có khả năng đứng vững, mở rộng hoặc kiểm soát tốt các thị trờng trọng điểm. Mức

4. Các chính sách định giá
Nhằm đạt đợc mục tiêu đã xác định cho giá, doanh nghiệp cần đa ra các
quyết định rõ ràng về chính sách giá của mình. Các chính sách giá đúng cho phép
doanh nghiệp có thể định giá và quản lý giá có hiệu quả trong kinh doanh. Chính
sách định giá thể hiện sự lựa chọn đúng đắn các tình huống cần giải quyết khi đặt
mức giá và ra quyết định mua sắm của khách hàng đợc dễ dàng hơn. Các chính
sách giá chính thờng đợc áp dụng là:
4.1. Chính sách về sự linh hoạt giá
Chính sách sự linh hoạt của giá phản ánh cách thức sử dụng mức giá nh thế
nào đối với các đối tợng khách hàng. Doanh nghiệp phải lựa chọn giữa chính sách
một giá hay chính sách giá linh hoạt
Chính sách một giá: Đa ra một mức giá đối với tất cả các khách hàng mua
hàng trong cùng các điều kiện cơ bản và cùng khối lợng.
Chính sách này yêu cầu hàng đợc bán ra theo giá niêm yết, không có mặc
cả giá, cho phép có thể đảm bảo đợc thu nhập dự tính, duy trì uy tín trong khách
hàng, rút ngắn thời gian bán, định giá và quản lý giá khá dễ dàng. Tuy nhiên, có
thể dẫn đến trạng thái cứng nhắc về giá, kém linh hoạt và cạnh tranh khi đặt giá
cao hơn đối thủ cạnh tranh mà không kịp thời điều chỉnh.
Chính sách giá linh hoạt: Đa ra cho khách hàng khác nhau các mức giá
khác nhau trong cùng điều kiện cơ bản và cùng khối lợng.
Chính sách giá này cho phép bán hàng ở các mức khác nhau xoay quanh giá
niêm yết. Khách hàng đợc mặc cả giá. Ngời bán đợc quyền tự quyết định về mức
giá cụ thể trong khung giá trần sàn nên có khả năng hỗ trợ tốt hơn trong việc
bán hàng trong các tình huống cụ thể một cách linh hoạt và đáp ứng nhu cầu mong
muốn mặc cả giá của khách hàng. Chính sách này thông dụng trong kinh doanh
nhỏ, sản phẩm không đợc tiêu chuẩn hoá, trong các kênh lu thông, bán trực tiếp
hàng công nghiệp và bán lẻ hàng đắt tiền. Nhợc điểm chính của chính sách giá này
là việc quản lý giá trở nên khó khăn, công sức và thời gian bán hàng lớn, tạo tâm
lý không hài lòng với một số khách hàng nếu cảm thấy bị mua hớ.
4.2. Chính sách giá theo chu kì sống của sản phẩm

giao của hàng hoá. Điều này yêu cầu cần tính đến một cách nghiêm túc và sáng
tạo chi phí vận chuyển khi xác định mức giá: giá công bố bao hàm cả chi phí vận
chuyển không? nên tính nh thế nào? ai trả chi phí vận chuyển?.
Việc tính toán chi phí vận chuyển vào giá công bố một cách linh hoạt và
đúng đắn có thể tạo ra cơ hội tốt hơn cho bán hàng và cạnh tranh của doanh
nghiệp trên một số khu vực thị trờng. Cần có chính sách đúng đắn để lựa chọn ph-
ơng án đặt giá hợp lý bởi trong thực tế kinh doanh có rất nhiều khả năng lựa chọn
các biến thái khác nhau về chi phí vận chuyển khi hình thành nên các mức giá.
Các mức giá dựa trên chính sách về chi phí vận chuyển thờng đợc xác định
dựa trên ba loại chính sách chính:
Giá giao hàng theo địa điểm
Điểm giao hàng và chi phí vận chuyển liên quan đến nó là cơ sở để xem xét
giá. Loại giá này lấy địa điểm giao hàng cụ thể giữa bên mua và bên bán làm căn
cứ để xác định mức giá hàng hoá.
Trong quá trình bán hàng có các điểm (mốc) cơ bản liên quan đến chi phí
vận chuyển và xác định ngời trả tiền:
Sơ đồ 1: Chi phí vận chuyển trong quá trình bán hàng
(1)
Chi phí vận chuyển(A)
(2) (3)
Chi phí vận
chuyển (B)
Chi phí vận chuyển (C)
(4)
Để xác định mức giá có tính đến chi phí vận chuyển, có hai trờng hợp cơ
bản:
+) Địa điểm giao hàng đợc xác định bởi bên bán
Thông thờng, doanh nghiệp (bán) đa ra giá công bố theo địa điểm giao hàng
đã đợc xác định trớc của mình. Địa điểm này có thể là ở (1) nơi sản xuất hoặc
kho trung tâm, hoặc ở (2) các điểm bán hàng của doanh nghiệp trong mạng lới

Các mức giá đợc xác định không theo địa điểm cụ thể hàng đến mà theo
vùng địa lý đã đợc xác định trớc. Toàn bộ thị trờng đợc chia thành các vùng cụ
thể. Trong cùng một vùng khách hàng sẽ trả giá nh nhau cho một sản phẩm. Chi
phí vận chuyển đợc tính bình quân và san đều đối với ngời mua trong vùng địa lý.
Ngời bán trả chi phí vận chuyển bình quân thực tế và phải chịu tiền vận chuyển
trung bình đối với mỗi khách hàng.
Chính sách gía này làm giảm sự chênh lệch lớn trong giá giao hàng do giá
địa điểm gây ra. Nó thờng đợc sử dụng để tạo nên sự hấp dẫn đối với khách hàng ở
xa địa điểm bán hàng của doanh nghiệp.
Giá giao hàng đồng loạt
Các mức giá đợc xác định theo chi phí vận chuyển bình quân cho tất cả mọi
ngời mua trên một thị trờng. Tất cả các khách hàng trên thị trờng xác định trả
cùng một khoản tiền cho việc vận chuyển. Với giá này, ngời bán có thể bán ở tất
cả mọi nơi theo cùng một giá.
Giá vận chuyển hấp dẫn
Đợc sử dụng khi lựa chọn chính sách giá theo địa điểm nhng lại muốn có đ-
ợc vị thế cạnh tranh tốt ở các khu vực thị trờng xa và nhằn thu hút khu vực thị tr-
ờng mới.
Trong trờng hợp này, doanh nghiệp có thể bug đắp một phần chi phí vấn tải
cho hành khách ở xa bằng cách cắt giảm giá công bố. Lợi nhuận ròng của mỗi một
lần bán giảm nhng bù lại doanh nghiệp có thể có đợc khách hàng (thị trờng) mới
và tổng số lợi nhuận có thể tăng.
4.4. Chính sách hạ giá và chiếu cố giá
Các mức giá trờng đợc hình thành theo các điều kiện (tiêu chuẩn) xác định
trớc. Trong kinh doanh, có thể các điều kiện này thay đổi theo các trờng hợp cụ
thể, không kể luôn luôn bán hàng theo các điều kiện đã tính trớc. Bởi vậy, xuất
hiện các yêu cầu điều chỉnh giá. Nế điều kiện ban đầu thay đổi một cách cơ bản có
thể dẫn đẽn việc phải tính toán lại mức giá. Nhng trong các trờng hợp chỉ có sự
thay đổi ở một số khía cạnh nào đó (khối lợng mua, điều kiện thanh toán, chất l-
ợng hàng ) thì giá ssẽ đ ợc điều chỉnh lại theo mức chiếu cố giá và hại giá.

Hạ giá theo thời hạn thanh toán
Trong thơng mại, về nguyên tắc ngời mua phải thanh toán ngay cho ngời
bán khi nhận hàng. Tuy nhiên, thời điểm thanh toán thực tế thờng đợc xác định
theo hợp đồng bởi điều khoản về thời hạn thanh toán. Thời hạn thanh toán có thể
lập tức khi mua hàng (trả ngay) hoặc sau khi nhận hàng ở một khoảng thời gian
nhất định (mua trả chậm). Mức giá ccông bố cũng đợc xác định theo điều kiện
này. Trong cả hai trờng hợp trên, việc khuyến khích đúng thời hạn hoặc sớm hơn
thời hạn cũng phải đợc xem xét.
+ Bán hàng trả chậm: Đa ra các mức thanh toán nhằm khuyến khích thị
thanh toán trớc thời hạn qui định trong hợp đồng.

+ Bán hàng trả ngay: Thời hạn qui định là phải trả ngay lập tức, nhng theo
yêu cầu của khách hàng thời hạn thanh toán có thể xác định lại sau 10, 20 hoặc 30
ngày. Trong điều kiện này, giá ghi trên hoá đơn là giá gốc. Nếu trả trớc 10 ngày có
thể giảm 2%, nếu trớc 20 ngày có thể giảm 1% và phải trả đủ nếu trả trớc 30 ngày.
Hạ giá theo đơn đặt hàng trớc
Việc hạ gía này nhằm khuyến khích ngời mua đặt hàng trớc để tạo điều
kiện thuận lợi và tránh rủi ro, khó khăn khi bán hàng. Các hợp đồng đặt hàng trớc
giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát hoạt động của mình tốt hơn. Nếu khách
hàng ứng trớc một khoản tiền nào đó để thực hiện đơn hàng có thể giúp cho doanh
nghiệp tăng đợc vốn kinh doanh.
Hạ giá u đãi
Khoản hạ giá này nhằm vào củng cố mối quan hệ truyền thống, lâu dài với
các khách hàng trọng điểm cần giữ vững hoặc lôi kéo của doanh nghiệp.
Hạ giá hàng tiêu thụ tồn kho
Là khoản hạ gía ngoài mong muốn của doanh nghiệp. Mục tiêu chính của
khoản hạ giá này là nhằm giảm bớt các thiệt hại do không bán đợc hàng, chi phí
dự trữ và thu hồi vốn.
Hạ giá theo truyền thống
Khoản hạ giá này còn đợc gọi là khoản bớt giá trong kinh doanh dành cho

Nh chúng ta đã biết, chính sách giá cả của ngời bán phụ thuộc vào hình thái
thị trờng. Theo các nhà kinh tế thì có 4 kiểu hình thái thị trờng, mỗi kiểu có những
vấn đề riêng về vấn đề hình thành giá cả.
+ Cạnh tranh hoàn hảo
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo bao gồm nhiều ngời mua, ngời bán cùng một
loại sản phẩm giống nhau. Không một ngời mua hay ngời bán nào có ảnh hởng lớn
đến mức giá thị trờng hiện hành của hàng hoá. Ngời bán cũng không đòi hỏi giá
cao hơn giá của thị trờng vì ngời mua có thể tự do mua một khối lợng bất kì những
hàng hoá đó theo giá thị trờng. Ngời bán cũng không chào giá bán thấp hơn giá thị
trờng vì họ có thể bán tất cả hàng hoá đó theo giá thị trờng. Trong loại thị trờng
này, doanh nghiệp là ngời chấp nhận giá và các doanh nghiệp đều phải hoạt động
theo sự dẫn dắt của bàn tay vô hình của thị trờng.
+ Cạnh tranh độc quyền
Thị trờng cạnh tranh độc quyền gồm rất nhiều ngời mua và ngời bán không
tuân theo giá thị trờng thống nhấtmà dao động trong khoảng rộng. Sở dĩ họ làm đ-
ợc nh vậy là vì doanh nghiệp có thể có những phơng án hàng hoá khác nhau, sản
phẩm hiện thực có thể khác nhau chất lợng, tính chất, dịch vụ Ng ời mua có thể
thấy sự chênh lệch về gía chào bán và sẵn sàng mua ở các giá khác nhau. Chính
sách gía trong thị trờng này đặc biệt phát huy tác dụng, ngoài ra doanh nghiệp có
thể sử dụng các biện pháp yểm trợ bán hàng khác.
+ Cạnh tranh độc quyền tập đoàn
Là thị trờng bao gồm một số ít ngời bán rất nhạy cảm với chính sách hình
thành giá cả và chiến lợc tiêu thụ của nhau, hàng hoá có thể giống hoặc không
giống nhau. Sở dĩ có ít ngời bán vì điều kiện gia nhập thị trờng rất khó khăn.
Mmỗi ngời bán đều rất nhạy bén với chiến lợc và hoạt động của đối thủ cạnh
tranh. Trong thị trờng này, các doanh nghiệp đều có xu hớng chấp nhận mức giá
của ngành và của các tập đoàn thờng có xu hớng liên kết để xác định mức gía phù
hợp cho sự phát triển của toàn ngành.
+ Độc quyền tuyệt đối
Là thị trờng chỉ có một ngời bán một loại sản phẩm. Đó có thể là một tổ

Chọn giá cuối cùng của mặt hàng
giá đợc thể hiện qua độ co giãn của đờng cầu theo giá của mặt hàng doanh nghiệp.
Hệ số co giãn của cầu theo giá là tỉ lệ phần trăm thay đổi của cầu khi có một phần
trăm thay đổi về giá:
E
d
= Q
1
- Q
0
: P
1
- P
0
= P
ì
Q
Q
0
P
0
Q
P
Nhìn chung, cầu thị trờng và giá cả có mối quan hệ tỷ lệ nghịch, do vậy
Ed 0. Có ba trờng hợp:
+ Ed <1: Cầu ít co giãn, đờng cầu hơi dốc. Trong trờng hợp này, ngời bán
dễ tăng giá vì một tỷ lệ phần trăm tăng lên của giá dẫn tới một tỷ lệ giảm đi trong
cầu ít hơn. Nhu cấu ít co giãn trong những trờng hợp nh:
- Có ít hay không có những sản phẩm thay thế hoặc đối thủ cạnh tranh.
- Ngời mua không để ý tới giá cao.

Với doanh nghiệp sản xuất giản đơn: đối tợng tính giá thành sẽ là sản phẩm
cuối cùng.
Với doanh nghiệp sản xuất phức tạp: đối tợng tính giá thành có thể là bán
thành phẩm ở từngbớc chế tạo hoặc thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng.
Loại hình sản xuất
Với loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tợng tính giá thành là từng thành
phẩm.
Với sản xuất hàng loạt thì đối tợng tính giá là nhóm thành phẩm hay nhóm
sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng.
Yêu cầu và trình độ quản lí
Với trình độ quản lí cao có thể chi tiết đối tợng tính giá thành ở cá giác độ
khác nhau.
Với trình độ quản lí thấp, đối tợngtính giá thành có thể là các nhóm sản
phẩm cùng loại có kích cỡ khác nhau hoặc có thể qui đổi về sản phẩm gốc
6.2. Kì tính giá
Kỳ tính giá là thời ký mà bộ phận kế toán gia thành cần để tiến hành công
việc tính giá thành cho các đối tợgn tính giá.
Trên cơ sở đối tợng tính giá thành đã xác định, căn cứ vào chu kì sản xuất
của sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất, tính chất của sản phẩm mà xác định kì
tính giá thành sản phẩm cho thích hợp. Thông thờng, doanh nghiệp sản xuất với
khối lợng lớn, chu kĩ sản xuất gắn và xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá thành thích
hợp là hàng tháng vào thời điểm cuối tháng. Nếu doanh nghiệp tính sản xuất đơn
chiếc hoặc hàng loạt theo từng đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm hoặc
loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kì sản xuất của sản xuất hoặc loạt
sản phẩm đã hoàn thành. Nh vậy trong trờng hợp này, kì báo cáo không trùng với
kì tính giá.
Xác định kì tính giá thành cho từng đối tợng tính giá thành thích hợp sẽ
giúp cho tổ chức công việc tính giá thành đợc khoa học, hợp lí, đảm bảo cung cấp
thông tin về giá thành thực tế của sản phẩm kịp thời, trung thực , phát huy đợc vai
trò kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế hoạch.

Số tiền cộng thêm: Bao gồm một phàn bù đắp chi phí lu thông, chi
phí quản lí và 1 phần để đảm bảo mức lãi hợp lí theo nhu cầu hoàn vốn cần
thiết. Đó chính là chi phí nền nhân với tỷ lệ phần tiền cộng thêm của phơng
pháp định giá sản phẩm sản xuất hàng loạt theo chi phí toàn bộ đợc tính nh
sau:
Tỷ lệ
phần tiền
cộng
thêm
=
Tổng chi phí
bán hàng
+
Tổng chi phí quản
lí doanh nghiệp
+
Mức lãi hoàn vốn
mong muốn
Tổng chi phí sản xuất
Ngoài phơng pháp tính cơ bản trên của chi phí nền và phần tiền cộng thêm,
một số nhà quản trị có thể phân tích chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh
nghiệp để phân bổ vào chi phí nền; tỷ lệ phần tiền cộng thêm chi phí chỉ tính cho
mức lãi để hàon vốn mong muốn. Tuy nhiên, phơng pháp rất phức tạp và khó
khăn, bởi lẽ chi phí bán hàng và chi phí quản lí doanh nghiệp rất khó phân bổ vào
Giá bán= Chi phí nền + Số tiền cộng thêm
Giá bán = Chi phí nền + Số tiền cộng thêm
chi phí sản xuất của từng sản phẩm. Dođó, phơng pháp tính đợc sử dụng khả thi và
phổ biến cũng thờng tập trung vào phơng pháp tính cơ bản ban đầu.
Với kỹ thuật tính giá bán sản phẩm sản xuất hàng loạt theo chi phí toàn bộ,
chúng ta nhận thấy điểm nổi bật của phơng pháp này kết cấu thông tin của dữ kiện

hợp lí theo nhu cầu hoàn vốn mong muốn. Tỷ lệ phần tiền cộng thêm đ-
ợc tính theo công thức nh sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status