Chương 10 TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC PHÂN TỬ
HOÁ ĐẠI CƯƠNG 1
78
CHƯƠNG 10 TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC PHÂN TỬ
Giữa nguyên tử này và nguyên tử khác trong một phân tử có lực liên kết mạnh để hình
thành phân tử là liên kết cộng hoá trị hay liên kết ion - Năng lượng của các liên kết này lớn
hơn 200kJ/mol. Giữa các phân tử vẫn có liên kết, nhưng yếu hơn nhiều thường nhỏ hơn
10kJ/mol, đó là lực Vander Walls, liên kết H.
10.1.LỰC VANDER WALLS :
Lực giữa các phân tử cũng là lực tĩnh điện Coulomb. Vì các electron của một phân tử
nào đó ngoài việc có liên kết mạnh mẽ bởi các nhân trong phân tử, nó vẫn bị hút yếu bởi các
hạt nhân của các phân tử bên cạnh, đồng thời các electron cũng như các hạt nhân của các phân
tử cạnh nhau thì đẩy nhau.
Người ta gọi tương tác giữa các phân tử là lực Vander Walls để nhớ đến nhà Bác học Hà
Lan, người đầu tiên tìm cách giải thích lực giữa các phân tử một cách định lượng phụ thuộc
vào tương tác ban đầu mà người ta gọi 3 loại lực Vander Walls.
10.1.1.Lực định hướng :
Lực này gây ra bởi các phân tử có momen lưỡng cực
µ
0
≠
. Phân t
ử
t
ồ
n t
ạ
i d
t h
ướ
ng nh
ấ
t
đị
nh (
để
n
ă
ng l
ưỡ
ng c
ự
c ti
ể
u) và n
ă
ng l
ượ
ng c
ủ
a nó :
6
4
3
2
kTr
E
; T : Nhi
ệ
t
độ
Kelvin ; r : Kho
ả
ng cách gi
ữ
a 2 phân t
ử
.
Nhìn vào bi
ể
u th
ứ
c ta th
ấ
y rõ là : L
ự
c
đị
nh h
ướ
ng t
ỷ
l
ệ
v
ớ
i momen l
v
ậ
y l
ự
c
đị
nh h
ướ
ng có tác d
ụ
ng trong kho
ả
ng cách ng
ắ
n.
10.1.2.Lực cảm ứng :
L
ự
c này
để
gi
ả
i thích t
ươ
ng tác gi
ữ
a phân t
ử
có c
ng c
ủ
a phân
t
ử
có c
ự
c, phân t
ử
không c
ự
c s
ẽ
b
ị
phân c
ự
c, t
ứ
c là phân t
ử
không c
ự
c s
ẽ
xu
ấ
t hi
ệ
n momen
ướ
i tác d
ụ
ng c
ủ
a
đ
i
ệ
n tr
ườ
ng ngoài g
ọ
i là
độ
phân
c
ự
c
α
- là b
ằ
ng
độ
bi
ế
n d
ạ
ng t
ươ
h
ơ
n l
ự
c
đị
nh h
ướ
ng.
10.1.3.Lực khuyếch tán :
Các phân t
ử
không phân c
ự
c, nh
ư
ng do các electron chuy
ể
n
độ
ng không ng
ừ
ng, trong
m
ộ
t th
ờ
i
đ
i
ư
v
ậ
y
đ
ã tr
ở
thành l
ưỡ
ng c
ự
c t
ứ
c th
ờ
i. L
ưỡ
ng c
ự
c t
ứ
c th
ờ
i này s
ẽ
c
ả
m
ứ
ng phân
đư
a ra vào n
ă
m 1930 b
ằ
ng h
ệ
th
ứ
c :
6
2
4
3
r
h
E
o
kt
να
−=
V
ớ
i
2
o
h
ν
là n
HOÁ ĐẠI CƯƠNG 1
79
Lực khuyếch tán này rất yếu, nó dễ bị phá vỡ dưới tác dụng của chuyển động nhiệt. Nếu
giữa các phân tử chỉ có lực khuyếch tán thì nhiệt độ hoá lỏng và nhiệt độ đông đặc sẽ rất thấp.
Như ta thấy trên cả 3 biểu thức của lực Vander
Walls, năng lượng hút E
h
đều tỷ lệ nghịch với luỹ thừa sáu
khoảng cách giữa các phân tử, nên lực Vander Walls chỉ
có tác dụng khi các phân tử nằm gần nhau - Khi khoảng
cách tăng lên gấp 2 lần thì năng lượng tương tác giảm đi
64 lần.
Nếu chỉ tồn tại các lực hút Vander Walls thì không
thể giải thích sự tồn tại khoảng cách cân bằng giữa các
phân tử. Như vậy phải có lực đẩy giữa các phân tử. Lực
đẩy chỉ xuất hiện giữa các phân tử khi chúng tiếp xúc với
nhau - Khi đó lớp vỏ electron của các phân tử bắt đầu đẩy
nhau. Năng lượng đẩy E
đ
được tính theo hàm số mũ :
ar
đ
beE
−
= (trong đó a, b là các hằng số, phụ thuộc vào bản
chất của mỗi phân tử) và khoảng cách cân bằng giữa lực
Vander Walls và lực đẩy vào khoảng 4-7
o
A
Độ sôi của H
2
O, H
2
S, H
2
Se, H
2
Te lần lượt là 100, -61, -42, -2
o
C
Độ sôi của NH
3
, PH
3
, AsH
3
, SbH
3
lần lượt là -33, -87,5, -55, -18
o
C
Điều này mâu thuẩn với lực Vander Walls. Vì theo Vander Walls sự phân cực từ HF
đến HI tăng dần (do khối lượng mol) dẫn đến lực Vander Walls càng tăng và làm cho độ sôi
tăng, điều này đúng cho các hidrua của nguyên tố từ chu kỳ 3 trở đi trong cùng phân nhóm.
Như vậy ở NH
3
, H
2
O, HF có sự bất thường ta đã thấy, để giải thích điều này, ngườì ta nói đến
Chương 10 TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC PHÂN TỬ
HOÁ ĐẠI CƯƠNG 1
80
δ+δ−
C
O
H
H
O
O H
CH
O H
H
2
5
O H
H
Cl H
Cl + H O
-
3
+
C
O
H
Độ sôi, độ nóng chảy của chất :
Khi có liên kết H liên phân tử sẽ làm cho khối lượng mol phân tử tăng lên nên độ sôi, độ
nóng chảy của chất tăng cao như độ sôi của H
2
O so với H
2
S, H
2
Se, H
2
Te ta đã xét từ trước.
Nhưng khi có liên kết H nội phân tử như phân tử o hidroxi benzaldehid thì
phân tử trở nên "gọn" hơn. Vì vậy làm giảm độ sôi, độ nóng chảy.
Độ tan trong H
2
O :
Nhờ có liên kết H giữa phân tử nào đó (như C
2
H
5
-OH) với H
2
O nên
chất đó sẽ tan trong H
2
O.
Hoặc :
Tập hợp phân tử :
Người ta nhận thấy các axit hữu cơ khi ở trong dung môi không phân cực, thì các axit