Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : Ban Chủ nhiệm Khoa Kế hoạch và Phát triển
Tên em là : Vũ Thị Thoa
Lớp : Kinh tế phát triển 47B
Sau một thời gian thực tập tại Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và
Môi trường – Bô Kế hoạch và Đầu tư dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - Thạc
sỹ, Phạm Thanh Hưng và Chú Đào Đình Tân, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học,
Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường. Em đã hoàn thành bản chuyên đề tốt
nghiệp với nội dung “Tăng cường công tác huy động các nguồn lực tài chính
tại Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - TKV”.
Đây là đề tài Em chọn lựa sau một thời gian nghiên cứu tại Vụ Khoa
học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường - Bộ Kế hoạch và Đầu tư và quá
trình thực hiện nghiên cứu đề tài có sự huớng dẫn của giáo viên hướng dẫn và
các cán bộ nghiên cứu tại Vụ.
Về Bố cục cũng như nội dung bài viết tuy có sự tham khảo nhưng em xin
cam đoan không có sự sao chép tài liệu nghiên cứu của Vụ hoặc bất kỳ đề tài
nào trước đây.
Em xin chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan trên.
Sinh viên
Vũ Thị Thoa
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, Em còn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của các
thầy cô giáo trong khoa Kế hoạch và Phát triển, tập thể các cán bộ của Vụ
Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường - Bộ Kế hoạch và Đầu tư và
sự đóng góp chân thành của các bạn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sỹ: Phạm Thanh
Hưng và tập thể thầy cô giáo trong khoa Kế hoạch và Phát triển, trường Đại
1. Nhu cầu tài chính đặc biệt cho doanh nghiệp KH&CN......................22
2. Các nguồn tài chính cho doanh nghiệp KH&CN của Việt Nam hiện
nay...........................................................................................................23
2.1. Nguồn tài chính từ nguồn quỹ của Chính Phủ............................23
2.2. Các nguồn tài chính ngoài ngân quỹ của Chính Phủ..................26
III. KINH NGHIỆM QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN - TRƯỜNG
HỢP TRUNG QUỐC................................................................................32
1. Sự phát triển doanh nghiệp KH&CN của Trung Quốc.......................32
2. Các thể chế hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp KH&CN ở Trung
Quốc........................................................................................................34
3. Vai trò của vốn mạo hiểm đối với doanh nghiệp KH&CN ở Trung
Quốc........................................................................................................36
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
4. Quỹ đổi mới cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Trung Quốc
.................................................................................................................37
5. Nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài.............................38
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TĂNG CƯỜNG HUY
ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MỎ -
TKV................................................................................................................40
I. GIỚI THIỆU VỀ DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHIỆP - VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHIỆP MỎ - TKV..............40
1.Qúa trình hình thành và phát triển của Viện KHCN Mỏ - TKV.........40
2. Hình thức pháp lý và tư cách pháp nhân của Viện..............................41
3. Tổ chức và hoạt động của Viện KHCN Mỏ - TKV............................43
2.1. Tình hình cơ cấu tổ chức và nhân sự của Viện KHCN Mỏ - TKV.
...........................................................................................................43
2.2. Lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh của Viện KHCN Mỏ.
...........................................................................................................47
3.Quan điểm phát triển của Viện. ...........................................................72
II. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI
CHÍNH CHO VIỆN KHCN MỎ - TKV.................................................73
1. Các giải pháp thu hút nguồn lực tài chính cho Viện KHCN Mỏ - TKV.
.................................................................................................................73
1.1. Các giải pháp từ phía Chính phủ, cấp Bộ ngành có liên quan....73
1.2. Các giải pháp tăng cường huy động nguồn lực tài chính của Viện
Khoa học Công nghệ Mỏ - TKV.........................................................79
2. Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính trong Viện KHCN Mỏ -
TKV.........................................................................................................83
2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Viện..........................83
2.2. Nâng cao cơ chế quản lý tài chính của Viện...............................84
KẾT LUẬN....................................................................................................86
DANH MỤCTÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................87
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Tiếp thu và chuyển giao tri thức bởi các doanh nghiệp khoa học
và công nghệ (Theo Laranji, M. and Fontes, M. 1998)..............................17
Sơ đồ 2: Các giai đoạn phát triển trong vòng đời của doanh nghiệp.......22
Bảng 1. Phân biệt doanh nghiệp dựa trên khoa học và dựa trên công
nghệ (theo Autio, E. 1997)............................................................................10
Bảng 2. Các giai đoạn phát triển doanh nghiệp và nhu cầu tài chính......22
Bảng 3. Phân biệt giữa vốn mạo hiểm và vốn vay......................................30
Bảng 4: Tổng quát về các loại công ty mạo hiểm Trung Quốc.................37
Bảng 5: Số liệu về chất lượng lao động của Viện tính đến hết ngày
30/06/2008 như sau:.......................................................................................44
Bảng 6: Nguồn vốn từ NSNN cấp cho Viện Khoa học và công nghiệp
Mỏ - KTV trong những năm sau:................................................................52
Bảng 7: Một số thông tin về 4 Quỹ ĐTMH hoạt động tại Việt Nam........55
định số 115/2005/NĐ – CP “quy định cơ chế tự chủ, tự chịu tránh nhiệm của
tổ chức KH&CN công lập” do Chính phủ ban hành ngày 05/09/2005.
Trong những năm qua, nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN của nước ta
không ngừng được cải thiện, Nhà nước ta quan tâm nhiều hơn nguồn lực tài
chính cho KH&CN, không chỉ là nguồn NSNN mà còn có một phần không
nhỏ nguồn ngoài NSNN. Chính điều này đã giúp Viện Khoa học Công nghệ
Mỏ - TKV - một doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã và đang đạt được
những kết quả đáng khích lệ góp phần vào quá trình phát triển đất nước.
Mặc dù chi NSNN cho KH&CN đã tăng qua các năm nhưng vẫn chưa
theo kịp và đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết. Nguồn NSNN chưa thực
sự trở thành đòn bẩy khuyến khích phát triển tối ưu Viện Khoa học Công
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
nghệ Mỏ - TKV.Nguyên nhân của tình trạng trên là do cơ chế quản lý của
Viện chưa thực sự phát huy được vai trò công tác huy động tài chính chưa
thực sự được quan tâm và hỗ trợ tốt, chưa khai thác hết khả năng các nguồn
lưc tài chính. Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn đó đề tài: “Tăng cường công tác
huy động các nguồn lực tài chính tại Viện Khoa học Công nghệ Mỏ -
TKV” được em lựa chọn và nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề án
- Tìm hiểu các nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp KH&CN hiện
nay.
- Đánh giá thực trạng huy động các nguồn lực tài chính của Viện Khoa
học Công nghệ Mỏ - TKV trong thời gian qua và đưa ra vấn đề tồn tại cần
phải tiếp tục hoàn thiên
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động các nguồn lực
tài chính tại Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - TKV.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu công tác huy động các nguồn lực tài
Chỉ riêng bản than tên doanh nghiệp dựa trên tri thức, dựa trên khoa học
và công nghệ đã ngụ ý, đó là những doanh nghiệp mà việc sản xuất những
hang hoá và dịch vụ đặc biệt chủ yếu dựa vào sự phát triển, sở hữu tri thức và
áp dụng tri thức. Không có ngành công nghiệp nào tri thức là không quan
trọng nhưng có một số lĩnh vực tri thức được áp dụng nhiều hơn trong quá
trình sản xuất. Tương tự như vậy có những ngành công nghiệp sử dụng nhiều
đất đai như nông nghiệp hoặc những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng
lượng như luyện kim. Không giống như đất đai, năng lượng vốn và lao động,
tri thức không thể đánh giá một cách dễ dàng bằng các phương pháp kinh tế
chuẩn.
Nếu không có những đánh giá này thì chúng ta hoặc là không thể xem
xét bao nhiêu tri thức cần thiết bởi một ngành công nghiệp so sánh với ngành
khác hoặc tri thức quan trọng như thế nào khi so sánh với các nhân tố khác
của việc sản xuất, kinh doanh thong thường.
Tuy nhiên, đa số các quốc gia và các học giả trên thế giới sử dụng hai
hình thức sau để chỉ doanh nghiệp khoa học và công nghiệp:
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Doanh nghiệp vệ tinh hàn lâm:
Đây là những doanh nghiệp được hình thành do một (nhóm) sang lập
viên có tinh thần kinh thương rời khỏi tổ chức “mẹ” (trường đại học; viện
nghiên cứu; phòng thí nghiệm quốc gia hay thậm chí doanh nghiệp) để bắt
đầu một sự kinh doanh độc lập, mới. Sự thành lập doanh nghiệp trên cơ sở kỹ
năng và tri thức đặc biệt được hình thành trong tổ chức mẹ. Tổ chức mẹ hỗ trợ
cho doanh nghiệp bằng cách cho phép chuyển giao tri thức, năng lực và/ hoặc
các phương tiện trực tiếp.
Thorburn, L.(2000), Y. và cộng sự (2000) định nghĩa doanh nghiệp vệ
tinh hàn lâm là những doanh nghiệp được tạo ra để thương mại hoá bí quyết
kỹ thuật do tổ chức nghiên cứu và phát triển sở hữu ( nơi mà cán bộ khoa học
marketing các sản phẩm cuối cùng và trong đa số trường hợp cũng không
tiến hành chế tạo các sản phẩm đó. Các doanh nghiệp loại này chú trọng phát
triển những công nghệ để rồi thương mại hoá tiếp theo và có thể hình thành
doanh nghiệp mới trên cơ sở cấp giấy phép, liên doanh hay các loại liên kết
khác.
Doanh nghiệp dựa trên công nghệ ( mới hoặc cao)
Doanh nghiệp dựa trên công nghệ là một doanh nghiệp tập trung nhiều
vào nghiên cứu và phát triển hoặc chú trọng vào việc khai thác tri thức kỹ
thuật mới.
Storey, D.J. and Tether, B.S. (1998) xác định doanh nghiệp dựa trên
công nghệ như một doanh nghiệp độc lập, có thời gian từ khi thành lập dưới 5
năm và dựa trên sự khai thác sáng chế hoặc đổi mới công nghệ với độ rủi ro
về mặt công nghệ rất lớn. Những tác giả khác như Shearman and Burrell
(1998), Delapierre và cộng sự (1998) thì cho rằng doanh nghiệp dựa trên công
nghệ mới được xác định như các doanh nghiệp độc lập với mục tiêu khai thác
một sang chế hoặc một công nghệ mới.
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Tuy nhiên, các tác giả cũng nhận thấy rằng định nghĩa này rất khó để
thống kê các doanh nghiệp dựa trên công nghệ. Điều này giải thích rằng rất
khó để xác định liệu có hay không một doanh nghiệp đổi mới. Thật vậy, trong
một số trường hợp liệu rằng từ “mới” có hàm ý là doanh nghiệp hoặc công
nghệ mới hoặc cả hai. Ngay cả khái niệm “doanh nghiệp mới” cũng gây ra
những bất cập bởi vì cần phân biệt giữa doanh nghiệp thực sự là doanh nghiệp
mới với doanh nghiệp là kết quả của sự sáp nhập nhiều doanh nghiệp đang
tồn tại hay thậm chí việc thay đổi sở hữu cũng dẫn đến khái niệm mới. Thêm
nữa, khái niệm “độc lập” cũng chỉ là tương đối bởi khi một doanh nghiệp phụ
thuộc nhiều vào khách hang thì nó bị chi phối bởi các khách hang đó và khái
niệm độc lập ở đây là không thích hợp.
- Do một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân thành lập; và
- Tiến hành các hoạt động như những công việc trong tổ chức ươm tạo
hoặc chuyên chuyển giao công nghệ nguồn từ các tổ chức ươm tạo
Theo McGee and Dowling (Canada) doanh nghiệp được gọi là dựa trên
công nghệ mới nếu đáp ứng các điều kiện sau:
- “Mới thành lập” tức là không quá 8 năm, độc lập;
- Hoạt động trong khu vực công nghiệp CNC do Quỹ Khoa học Quốc gia
xác định.
Trong nghiên cứu của mình, Bozkaya, A. và cộng sự (2003) đưa ra định
nghĩa về doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp mà sản phẩm
hoặc dịch vụ của nó phụ thuộc chủ yếu vào việc áp dụng tri thức khoa học
hoặc tri thức công nghệ, hoặc một doanh nghiệp mà các hoạt động của nó
theo đuổi một thành phần công nghệ có ý nghĩa như là một nguồn lợi thế cạnh
tranh. Các doanh nghiệp này nói chung tập trung vào các ngành công nghiệp
như hang không, truyền thông, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, điện
tử và khoa học sự sống/ y dược
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Phòng thương mại và công nghệ Anh thì xác định doanh nghiệp khoa
học và công nghệ là doanh nghiệp:
- (mới) thành lập chưa quá 3 năm;
- Bản chất đổi mới, tham gia vào nghiên cứu và phát triển có hướng tiếp
cận đến bí quyết kỹ thuật hoặc là thông qua những nỗ lực của chính doanh
nghiệp hoặc bên thứ ba hoặc là hợp đồng nghiên cứu và phát triển;
- Sử dụng nhiều vốn hơn (xét tương đối ) so với doanh nghiệp khởi
nghiệp thông thường.
Ngoài ra, Autio, E. (1997) còn phân biệt doanh nghiệp dựa trên khoa
học và doanh nghiệp dựa trên công nghệ. Theo ông doanh nghiệp dựa trên
khoa học là các doanh nghiệp sử dụng các kết quả nghiên cứu cơ bản bằng
2. Sản phẩm/ dịch vụ của doanh
nghiệp xác định theo yêu cầu của
khách hang.
3. Sản phẩm/ dịch vụ của doanh
nghiệp mạnh về khai thác những đột
phá của khoa học.
3. Sản phẩm/dịch vụ của doanh
nghiệp mạnh về khai thác cơ hội thị
trường.
4. Phạm vi ứng dụng của sản phẩm/
dịch vụ khá rộng.
4. Phạm vi ứng dụng của sản phẩm/
dịch vụ khá hẹp.
5. Khi mô tả kinh doanh của doanh
nghiệp thì nhấn mạnh vào các đặc
trưng công nghệ của sản phẩm/ dịch
vụ.
5. Khi mô tả kinh doanh của doanh
nghiệp thì nhấn mạnh vào nhu cầu và
các đặc trưng thị trường.
6. Khi mô tả kinh doanh của doanh
nghiệp thì nhấn mạnh vào mô hình
sức đẩy của công nghệ.
6. Khi mô tả kinh doanh của doanh
nghiệp thì nhấn mạnh vào mô hình
sức kéo của thị trường.
Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Trung Quốc
Trung Quốc hiểu loại hình doanh nghiệp này theo 2 cách ( Gao, J. and
Zhang, W. 2002).
Thứ nhất, một số lượng lớn các doanh nghiệp khoa học và công nghệ là
cứu tư nhân hoặc bởi một cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ và
sang chế.
Theo Trương Hữu Chí: doanh nghiệp khoa học và công nghệ là loại
doanh nghiệp chuyên sâu, vừa có chức năng nghiên cứu, vứa có chức năng
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm KH&CN có nhu cầu của thị
trường, đồng thời thương mại hóa các sản phẩm này thông qua sản xuất, dịch
vụ và chuyển giao công nghệ.
Nhận xét:
Phần lớn các quốc gia và các học giả sử dụng định nghĩa doanh nghiệp
khoa học và công nghệ như là các doanh nghiệp vệ tinh hàn lâm, các doanh
nghiệp dựa trên tri thức, dựa trên khoa học, dựa trên công nghệ (cao, mới, vừa
và nhỏ, độc lập);
Người sáng lập của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ là các nhà
khoa học hoặc nhóm nhà khoa học có tinh thần kinh thương, nắm giữ bí quyết
công nghệ có khả năng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới có tiềm năng tăng
trưởng nhanh;
Có tác giả đưa ra định nghĩa doanh nghiệp khoa học và công nghệ là
doanh nghiệp hình thành trên cơ sở áp dụng kết quả nghiên cứu tạo ra ở
trường đại học/ viện nghiên cứu. Như vậy có thể nói rằng bất kỳ doanh nghiệp
nào cũng là doanh nghiệp khoa học và công nghệ miễn sao áp dụng kết quả
nghiên cứu KH&CN và theo logic này thì không cần định nghĩa riêng cho loại
hình doanh nghiệp KH&CN nữa;
Một số tác giả đề cập đến doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh
vực công nghệ cao, điều này dẫn đến câu hỏi là nếu có một doanh nghiệp hoạt
động trong ngành công nghiệp truyền thông bỗng nhiên tạo ra sự đổi mới có
tính đột phá, tiềm năng tăng trưởng thì có thể nói đó là doanh nghiệp khoa
học và công nghệ được không?
Thứ nhất, chuyển giao kết quả nghiên cứu từ khu vực nghiên cứu hàn
lâm hoặc sử dụng tri thức mà các sáng lập viên nhận được trong môi trường
hàn lâm đến thị trường. Do đó, chuyển giao công nghệ (CGCN) giữa khu vực
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
nghiên cứu và công nghiệp được tiến hành ở các mức độ khác nhau, thông
qua:
- Các doanh nghiệp vệ tinh từ nghiên cứu – đây là hình thức doanh
nghiệp chuyển giao tiếp tri thức và/ hoặc công nghệ xuất phát từ khu vực
nghiên cứu; quan hệ “cộng sinh” chặt chẽ với tổ chức mẹ trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp;
- Các mối quan thường xuyên với một tổ chức nghiên cứu đặc biệt –
quan hệ được thiết lập giữa các tổ chức cho phép sự truyền bá thông tin, tri
thức và di chuyển cán bộ;
- Các quan hệ không thường xuyên với một hoặc nhiều tổ chức, bao gồm
các nghiên cứu hợp tác và nghiên cứư theo hợp đồng cũng như các quan hệ
không chính thức khác - dẫn đến việc sử dụng ngày càng nhiều các kết quả
của các tổ chức nghiên cứu bởi khu vực công nghiệp và sự nhận thức rộng
hơn của các tổ chức nghiên cứu về nhu cầu công nghiệp và những đòi hỏi của
thị trường.
- Như vậy, với việc tạo ra cầu nối giữa hai môi trường hàn lâm và công
nghiệp cho phép thúc đẩy hơn nữa sự truyền bá thông tin hoặc tri thức công
nghệ, đồng thời cho phép sự điều chỉnh nhất định: các công ty công nghiệp có
thể xác định tốt hơn nhu cầu của họ và do đó đầu vào của các công ty thoả
đáng hơn; bên cạnh đó các tổ chức nghiên cứu cũng thu được cách nhìn tổng
quát hơn về những đòi hỏi của thị trường, giúp các tổ chức này xác định các
hướng nghiên cứu thích hợp hơn đối với nhu cầu của khu vực công nghiệp.
Thứ hai, Tiếp nhận tri thức công nghệ nước ngoài, kết hợp với kỹ năng
và tri thức bản địa để chuyển chúng thành năng lực của quốc gia.
nghiệp nước ngoài; các doanh nghiệp địa phương hoặc các công ty con của
các công ty đa quốc gia).
Các sang lập viên đưa đến doanh nghiệp mới thông tin và lan toả
nghiên cứu mà họ thu được qua quá trình “tự học hỏi”.
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Các sáng lập viên áp dụng tri thức công nghệ đã phát triển ở bên ngoài
và hoạt động như những người tiên phong thực sự, giới thiệu các công nghệ
hoàn toàn mới trong phạm vi quốc gia. Quá trình này là một quá trình phức
tạp đòi hỏi các sang lập viên thu nhận và phát triển tri thức và kỹ năng có thể
hoàn toàn khác với tri thức kỹ năng đã giành được trong các công việc trước
đây của họ và để thiết lập các quan hệ chặt chẽ với các tổ chức nước ngoài.
Mức độ tiếp nhận tri thức tuỳ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp để
xây dựng các kênh chuyển giao tri thức. Các hình thức tiếp cận tri thức của
doanh nghiệp bao gồm:
Các mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp kể cả trong và ngoài
nước;
Các đối tác hoặc các quan hệ làm ăn với các công ty nước ngoài tầm
quốc gia;
Sự tham gia trong các dự án nghiên cứu và phát triển;
Hội nhập vào mạng lưới quốc tế trong lĩnh vực hoạt động của họ;
Sử dụng các tổ chức nghiên cứu của bản địa như những nhà trung gian
đối với nguồn lực nước ngoài;
Sử dụng mạnh mẽ một loạt các cơ chế “quét” để tiếp nhận sự lan toả tri
thức và công nghệ.
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Sơ đồ 1: Tiếp thu và chuyển giao tri thức bởi các doanh nghiệp khoa học
phương
d/n nhỏ
Hợp tác
R&D
Hợp tác
marketing
phân phối
Bán trực
tiếp
Hợp tác R&
D
Thông tin
k/ thuật
Tuyển
dụng
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
khoa học và công nghệ ; việc thiết lập các mối quan hệ cung - cầu chặt chẽ
với các khách hàng.
Tuy nhiên, cơ hội để thành lập mối quan hệ - công nghiệp bị hạn chế do
số lượng tương đối nhỏ của các doanh nghiệp tiên tiến về công nghệ và nói
chung các cơ hội cho việc hợp tác chính thức là không mạnh mẽ. Một số
doanh nghiệp hoạt động độc lập thường phải đối mặt với sự thiếu hụt một
cộng đồng công nghiệp mạnh về mặt công nghệ trong lĩnh vực của họ. Trái
lại, trong một số lĩnh vực (ví dụ như hệ thống điện tử, công cụ và ngôn ngữ
phần mềm, các hệ thống viễn thông), môi trường hoạt động là rất tốt cho việc
trao đổi tri thức. Sự trao đổi không chính thức trong số các bộ nghiên cứu và
phát triển và cán bộ kỹ thuật từ các doanh nghiệp khác nhau thường xuyên
được đề cập.
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho
trong lĩnh vực này)
• Thị trường: Việc đem các công nghệ này đến thị trường gia tăng sự
nhận thức về việc sử dụng các công nghệ và tạo ra việc áp dụng các
công nghệ hiện hữu đối với ít nhất một nhóm người sử dụng.
Hộp 2. Cải tiến công nghệ (mức độ 2)
Cải tiến công nghệ
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ thành lập một quan hệ cung - cầu
tốt đối với một hoặc một nhóm khách hang – thông thường là người sử dụng
đã được báo trước - vẫn tiếp tục nhu cầu sử dụng.
Tác động:
• Công nghệ: Một nhu cầu ổn định đem đến những khuyến khích cho các
doanh nghiệp để cải tiến và mở rộng công nghệ đầu tiên của họ, xây
dựng năng lực chuyên môn của doanh nghiệp với những lợi ích đối với
khách hang của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhiều khả năng thành
lập các liên kết với các tổ chức khác, đóng góp để tăng cường mạng
lưới công nghệ trong lĩnh vực của mình.
Vũ Thị Thoa Kinh tế phát triển 47B
19