thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn qua tiền gửi thanh toán tại sở giao dịch ngân hàng hàng hải - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam ta hiện nay đang tiếp tục trong tiến trình thực hiện công cuộc
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Trong đó, ngành Ngân hàng là kênh
huy động vốn cho nền kinh tế, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế đất nước. Hiện nay hệ thống các ngân hàng thương mại ngày
càng lớn mạnh kéo theo sự cạnh tranh trong ngành diễn ra ngày càng gay gắt
hơn. Để phát triển đòi hỏi các ngân hàng phải đa dạng hóa và nâng cao chất
lượng dịch vụ, huy động nguồn vốn hiệu quả phục vụ nhu cầu phát triển của nền
kinh tế. Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn được xem
như là một trong những giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội
của hệ thống tín dụng.
Mặt khác, để đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu của nền kinh tế, ngày
nay các ngân hàng hiện đại đang ngày một gia tăng dịch vụ trên những sản phẩm
huy động vốn truyền thống. Tiền gửi thanh toán là một loại sản phẩm nền tảng
nổi bật. Thông qua loại hình sản phẩm này cùng với những giá trị gia tăng của
nó, rất nhiều nhu cầu của các thành phần kinh tế khác nhau được đáp ứng. Là
một mảng huy động vốn quan trọng, các NHTM đều đang có những biện pháp
cạnh tranh tích cực để duy trì và phát triển thị trường này.
Trên cơ sở đó cùng với việc thực tiễn nghiên cứu được tại Ngân hàng
Hàng hải Việt Nam (MSB), em lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn qua tiền gửi thanh toán tại Sở giao
dịch Ngân hàng Hàng Hải” với hy vọng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tài
khoản thanh toán trong lĩnh vực huy động vốn nói chung của ngân hàng, từ đó
đưa ra những đánh giá về hiệu quả huy động, đồng thời xây dựng một hệ thống
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Luận giải những vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn qua tiền gửi
thanh toán, thấy được vị trí và vai trò của bộ phận vốn huy động này.

2
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
QUA TIỀN GỬI THANH TOÁN CỦA NHTM
1.1. Hoạt động huy động vốn của NHTM
1.1.1. Khái niệm nguồn vốn huy động
1.1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn
Nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được thông
qua việc đi vạy để cho vạy, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Nguồn vốn của NHTM bao gồm:
 Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sử hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho
phép hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn
hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ
có khả năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ.
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng, do đặc trưng trong ngân hàng là huy động để cho vay. Tuy nhiên, vốn chủ
sở hữu có vai trò rất quan trọng: là “chiếc đệm” chống đỡ ngân hàng khỏi các
nguy cơ thanh khoản và vỡ nợ; là nguồn tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì
hoạt động cho ngân hàng; là cơ sở để điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng.
 Vốn huy động:
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn huy động của NHTM
chiếm tỉ trọng lớn hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu và đây là loại vốn cơ bản để
tài trợ cho các danh mục tài sản của NHTM. Vốn huy động là những giá trị tiền
tệ mà ngân hàng huy động được trên thị trường từ vốn tiền gửi, vốn vay, vốn tiếp
nhận, vốn ủy thác đầu tư. Trên cơ sở tạo lập vốn huy động, ngân hàng sử dụng
để cho vay, đầu tư, mua sắm tài sản cố định, kinh doanh, dự trữ…từ đó tạo lập

nòng cốt: huy động vốn và lựa chọn các tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn vốn
huy động được. Các ngân hàng luôn nỗ lực để tạo ra lợi nhuận từ hai lĩnh vực
kinh doanh này.
Huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
thông qua các hình thức tiết kiệm định kỳ, phát hành giấy tờ có giá và các hình
thức khác để tạo nguồn vốn cho vay của NHTM.
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động cơ bản nhằm tạo ra tiền đề cho
các hoạt động còn lại khác của Ngân hàng. Nó quyết định quy mô, phạm vi hoạt
động và quy mô mở rộng tín dụng của ngân hàng; quyết định đến khả năng thanh
toán, chi trả và đảm bảo hoạt động cho ngân hàng trên thị trường; và đặc biệt
quyết định đến năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế mở như hiện
nay. Ngiệp vụ huy động vốn được phản ánh trên phần tài sản nợ của Bảng cân
đối tài sản của NHTM, nên còn được gọi là nghiệp vụ tài sản nợ.
 Các đối tượng huy động vốn của NHTM:
• Dân cư:
Đây là đối tượng có nhiều tiềm năng nhất,cung cấp cho ngân hàng một
nguồn vốn có quy mô lớn và tính ổn định cao. Người dân có thu nhập nhưng lại
không có nhu cầu đầu tư trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh,nhưng
vẫn muốn sinh lời,vì vậy họ đã đầu tư gián tiếp bằng cách gửi tiền vào ngân
hàng,uỷ thác vốn cho ngân hàng.
• Các tổ chức kinh tế:
Ngày nay hầu hết các tổ chức kinh tế đều mở tài khoản tại ngân hàng
nhằm phục vụ cho các hoạt động của mình. Nhìn chung các tài khoản này đem
lại cho các ngân hàng một lượng vốn khá ổn định.Phát triển và quản lý tốt các tài
khoản này sẽ cho phép ngân hàng có một nguồn vốn đáng kể với chi phí thấp.
• Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác:

thiết cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Huy động được
vốn, ngân hàng sẽ có khả năng cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế, từ đó thúc
đẩy sự tăng trưởng, cũng như gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Mặt khác, thông
qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng có thể đo lường uy tín cũng như sự tín
nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó có những biện pháp không
ngừng cải thiện để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có thể nói,
nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ giải quyết “đầu vào” cho NHTM.
Đối với khách hàng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng
một giải pháp tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội
gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
của ngân hàng, khách hàng còn có được một nơi tương đối an toàn để cất giữ và
tích trữ vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối cùng, là giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp
cận các dịch vụ hiện đại khác, làm thông suốt quá trình sử dụng tiền, tiêu dùng
hay sản xuất kinh doanh.
Đối với nhà nước, huy động vốn là một công cụ để NHNH thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia, thông qua các quy đinh về lãi suất, tỷ giá… qua các
thời kỳ. Vì vậy, hoàn thiện công tác huy động vốn ở NHTM có ý nghĩa to lớn
đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.3. Các hình thức huy động vốn.
Để đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả, cùng với đáp
ứng nhu cầu của thị trường, NHTM phải mở rộng các hình thức huy động để
tăng nguồn vốn này. Theo nghị định 59/2010/NĐ-CP ngày 16/7/2010 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM nhằm cụ thể hóa việc thi hành luật các
TCTD, NHTM được huy động vốn bằng các hình thức dưới đây:
• Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.

gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng
phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vây, các NHTM luôn tìm cách đa
dạng hóa loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác
nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng.
 Tiền gửi tiết kiệm:
Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành theo quyết định số 1160/2004/QĐ-
NHNN của thống đốc ngân hàng Nhà nước đã quy định rõ “Tiền gửi tiết kiệm là
khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận
trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.
Đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho tiêu
dùng. Do đó, họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và
hưởng lãi. Vì thế, tài khoản tiền gửi không thể phát séc hay thực hiện các khoản
thanh toán khác ngoại trừ người gửi tiền đề nghị trích tài khoản tiền gửi tiết kiệm để
trả nợ vay hay chuyển sang một tài khoản khác của chính chủ tài khoản.
Trong nền kinh tế thị trường, tiền gửi tiết kiệm được phát triển thành hai
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền
có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc
nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể
rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi
tiết kiệm.
Nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng
nguồn vốn huy động, nhất là đối với các ngân hàng bán lẻ. Do đó, việc tăng cường
huy động nguồn tiền này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của

hạn ngắn,khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng
thời kì. Trong điều kiện chưa có thương phiếu,NHNN cho NHTM vay dưới hình
thức tái cấp vốn theo hạn mức tin dụng nhất định.
 Phát hành giấy tờ có giá:
Thương phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng. Trong
huy động vốn dưới hình thức này, NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất
huy động. Do vậy, vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định.
Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng
cách phát hành các giấy nợ trên thị trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu nguồn
tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay trung và
dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn
tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây
là khoản vay không có bảo đảm. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao
sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực
tiếp bằng cách này, họ thường phải thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được
bảo lãnh của Ngân hàng Đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ
phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ
dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần
nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định quy mô,mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay
mượn thích hợp. Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ…
cũng được ngân hàng quan tâm.
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
1.2. Huy động vốn qua tiền gửi thanh toán
1.2.1. Khái niệm và vai trò của Tiền gửi thanh toán
1.2.1.1. Khái niệm
Tiền gửi thanh toán (TGTT) là loại hình tiền gửi không kỳ hạn được sử
dụng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng

kí thác hay Ngân hàng tiền gửi. Trong đó, tiền gửi thanh toán lại là một bộ phận
không thể thiếu và đóng góp phần quan trọng vào tổng số nguồn vốn ngắn hạn
huy động được.
Đối với NHTM, thì TGTT là một khoản vốn huy động với mức chi phí
thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác. Ngân hàng chỉ phải bỏ
ra những khoản chi phí nhỏ về quản lý tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì cũng rất
nhỏ) bù lại là được sử dụng một phần lớn làm vốn kinh doanh.
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, TGTT càng đóng vai trò quan trọng
đối với các NHTM bởi nhiều lý do. Một mặt bởi nền kinh tế không ngừng phát
triển, các hoạt động thanh toán, luân chuyển tiền ngày một sôi động hơn. Mặt
khác, tiền mặt trong lưu thông đang được hạn chế dần, những tiện ích ngân hàng
ngày càng trở nên phổ biến và hữu ích. Khi đó, TGTT cùng với những dịch vụ đi
kèm như: thanh toán, chuyển tiền, thấu chi… trở nên hết sức có tiềm năng phát
triển, đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung ứng dịch vụ và tạo lợi
nhuận, cũng như danh tiếng cho ngân hàng.
1.2.2. Những đặc trưng Tiền gửi thanh toán
 Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu
là thanh toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ
phát sinh một cách thường xuyên. Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng
thanh toán được xem là yếu tố rất quan trọng, còn việc hưởng lãi với khoản tiền
gửi này chỉ là thứ yếu. Do đó, loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu
cầu, nó không đem lại lợi tức cao cho người gửi.
 Vốn tiền gửi không kỳ hạn là khoản vốn có sự biến động nhiều nhất, số dư
của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của
người gửi tiền. Do vậy, NHTM chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này khi
và chỉ khi đưa ra được các dự đoán về sự biến động số dư trên tài khoản tiền gửi
này một cách chính xác.
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
12
Chuyên đề tốt nghiệp

hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, các NHTM đang tập trung đầu tư cho kênh
phân phối này nhằm tăng vị thế cạnh tranh trên thị trường của mình.
 Đối tượng khách hàng của tài khoản TGTT khá rộng, và thủ tục để mở
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
một tài khoản cũng hết sức đơn giản. Tất cả cá nhân người Việt nam và người
nước ngoài đang cư trú và hoạt động tại Việt Nam có nhu cầu đều có thể mở và
sử dụng tài khoản thanh toán. Thủ tục mở tài khoản nhanh gọn (chỉ trong vòng 5
phút) và hoàn toàn miễn phí. Khách hàng chỉ cần có CMND hoặc Hộ chiếu và
Đơn đề nghị mở tài khoản cá nhân theo mẫu của ngân hàng.
1.2.3. Những nhân tố tác động đến huy động Tiền gửi thanh toán
Là một bộ phận của nguồn vốn huy động, tiền gửi thanh toán cũng chịu
tác động của nhiều nhân tố khách quan cũng như chủ quan chung. Mặt khác, do
có những đặc trưng riêng như: phục vụ mục đích thanh toán, thường xuyên biến
động, chịu lãi suất thấp…, các nhân tố tác động đến loại vốn huy động này cũng
có điểm riêng biệt.
1.2.3.1. Các nhân tố khách quan
 Môi trường kinh tế - xã hội:
Môi trường kinh tế - xã hội cũng như luật pháp là những nhân tố vĩ mô có
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói chung của ngân hàng. Nền kinh tế có
ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người cao, trình độ dân trí
của dân cư cao, thì khả năng huy động vốn của ngân hàng mới có thể điều kiện
phát triển tốt. Ngược lại, nếu một nền kinh tế mà không ổn định, thu nhập, cũng
như dân trí thấp thì tất yếu là tiết kiệm của xã hội cũng sẽ thấp, thêm vào đó là
tâm lý ưa dùng tiền mặt, người dân chưa thấy hết được các tiện ích mà ngân
hàng cung cấp, và điều này sẽ gây rất nhiều những khó khăn cho hoạt động huy
động vốn của ngân hàng. Mặt khác, đối với một nền kinh tế phát triển ở trình độ
cao, các dịch vụ ngân hàng hiện đại liên quan đến TGTT càng có cơ hội mở rộng

Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chịu tác động mạnh mẽ của
sự thay đổi của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của ngân hàng. Công
nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, cách thức phân phối
sản phẩm, phát triển sản phẩm mới. Nhờ có công nghệ mà hoạt động huy động
TGTT được cải tiến, phát triển, rút ngắn thời gian giao dịch và thực hiện nghiệp
vụ chính xác… giúp ngân hàng có khả năng huy động được nguồn vốn một cách
nhanh nhất, chính xác và hiệu quả, tăng uy tín của ngân hàng.
 Thu nhập dân cư:
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
Khi thu nhập của người dân tăng lên, tiêu dùng tăng, tức nhu cầu thanh
toán ngân hàng cũng tăng lên. Ngược lại khi thu nhập của dân cư giảm thì tiền
gửi ngân hàng cũng giảm đi. Như vậy thu nhập của dân cư là yếu tố hết sức quan
trọng ảnh hưởng tới quy mô vốn tiền gửi huy động của ngân hàng thương mại.
Thêm vào đó, tập quán dân cư cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn
của ngân hàng. Tâm lý tập quán dân cư thường rất khác nhau giữa các vùng địa
lý. Đó là thói quen chi tiêu, thói quen thanh toán, mức độ tiếp cận hiểu biết về
các dịch vụ ngân hàng. Thông thường ở các nước phát triển, người dân thường
sử dụng các dịch vụ tiện ích của ngân hàng hơn là dùng tiền mặt, do vậy lượng
tiền mặt trong lưu thông sẽ giảm xuống, điều này tạo thuận lợi cho hoạt động
huy động vốn của ngân hàng thương mại. Nhưng ở các nước đang phát triển thì
lại khác, người dân vẫn giữ thói quen tiêu dùng tiền mặt trong thanh toán, vì vậy
hoạt động huy động TGTT sẽ gặp khó khăn.
1.2.3.2. Các nhân tố chủ quan
 Uy tín, thương hiệu của ngân hàng:
Các yếu tố này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động
TGTT nói riêng, và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung, bởi vì nó

Đây cũng là một yếu tố có ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động huy động
vốn của ngân hàng. Chỉ với nền tảng TGTT, nhưng hình thức huy động của ngân
hàng càng đa dạng, phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ
nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu
và tâm lý của các tầng lớp dân cư. Mức độ đa dạng của các sản phẩm càng cao
thì càng đáp ứng được nhiều nhất nhu cầu của dân cư, để họ tìm thấy cho mình
một hình thức gửi tiền phù hợp và an toàn. Do vậy các ngân hàng thường cân
nhắc rất kỹ trước khi đưa vào các sản phầm huy động mới.
 Chiến lược marketing:
Trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ như ngày nay khó có thể duy trì sự
khác biệt về sản phẩm, giá cả nên chiến lược phục vụ và quảng cáo trở thành yếu tố
vô cùng quan trọng để thu hút khách hàng. Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo là
điều kiện để giữ chân khách hàng, còn chiến lược marketing phù hợp sẽ giúp ngân
hàng thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Chiến lược marketing hiểu rộng còn bao
gồm cả chiến lược về lãi suất và sản phẩm huy động, cộng thêm các chương trình
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
quảng bá cho các chính sách, hình ảnh của ngân hàng. Trong điều kiện hiện nay,
marketing ngân hàng đã trở thành một môn khoa học, được nghiên cứu và phát triển
nhanh chóng trong hệ thống NHTM.
 Công nghệ ngân hàng:
Việc hiện đại hóa ngân hàng sẽ giúp cho việc giao dịch của khách hàng
trở nên tiện lợi, nhanh chóng hơn. Từ đó sẽ tạo được sự tin cậy của khách hàng
đối với ngân hàng. Mặt khác, công nghệ hiện đại cho phép ngân hàng có thể phát
triển thêm các loại dịch vụ thanh toán, tăng cường huy động tiền gửi thanh toán.
Bên cạnh đó, công nghệ còn đóng vai trò then chốt trong năng lực cạnh tranh của
các ngân hàng thương mại hiện nay.
 Đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng:

Nam (MSB) chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày
08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 12/07/1991,
MSB chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố Cảng Hải
Phòng, ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng
và Công ty Tài chính có hiệu lực. Khi đó, những cuộc tranh luận về mô hình
ngân hàng cổ phần còn chưa ngã ngũ và MSB đã trở thành một trong những
ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam. Đó là kết quả có được từ
sức mạnh tập thể và ý thức đổi mới của các cổ đông sáng lập: Cục Hàng Hải Việt
Nam, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dân
dụng Việt Nam… Ban đầu, MSB chỉ có 24 cổ đông, vốn điều lệ 40 tỷ đồng và
một vài chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh,
TP HCM. Có thể nói, sự ra đời của MSB tại thời điểm đầu thập niên 90 của thế
kỷ XX đã góp phần tạo nên bước đột phá quan trọng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường phát triển thì năm 1997 - 2000 là giai đoạn thử
thách, cam go nhất của MSB. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ châu Á, Ngân hàng đã gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy, bằng nội lực và bản
lĩnh của mình, MSB đã dần lấy lại trạng thái cân bằng và phát triển mạnh mẽ từ
năm 2005.
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
Đến nay, MSB đã trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần phát triển
mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách hàng. Đến cuối năm 2012,
vốn điều lệ của MSB ở mức 8.000 tỷ đồng và tổng tài sản đạt hơn 114.000 tỷ
đồng. Mạng lưới hoạt động không ngừng được mở rộng từ 16 điểm giao dịch
năm 2005, hiện nay là gần 150 điểm và trong tương lai gần, con số này sẽ nâng
lên 200 điểm vào cuối năm 2012 tại những đầu mối kinh tế quan trọng của cả
nước như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Vũng Tàu, TP HCM,

 Giá trị cốt lõi:
• Chú trọng đáp ứng khách hàng bằng chất lượng dịch vụ.
• Hiệu quả là mục tiêu của mọi công việc.
• Học hỏi, sáng tạo để vươn tới sự hoàn thiện.
• Hợp tác, tin cậy là động lực của thành công.
 Cam kết hành động:
Hướng tới mục tiêu trở thành một trong những ngân hàng cổ phần lớn
nhất Việt Nam, MSB luôn kiên trì thực hiện theo những tiêu chí mà Ngân hàng
đã cam kết.
- Với khách hàng: Cung cấp các dịch vụ chất lượng cao, linh hoạt và nhanh
chóng. Không ngừng đa dạng hóa nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất
với các đối tượng khách hàng. Đảm bảo tuyệt đối an toàn và bảo mật.
- Với nhân viên: Thiết lập môi trường làm việc tin tưởng và tôn trọng lẫn
nhau. Phát triển văn hoá hiệu quả tương xứng với quyền lợi. Tạo cơ hội cho sự
phát triển của mọi thành viên MSB.
- Với cổ đông: Giá trị đầu tư tăng trưởng ngày càng cao cho các cổ đông.
Đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của Ngân hàng.
- Với toàn xã hội: Bằng việc đảm bảo sự tăng trưởng không ngừng của
Ngân hàng đồng thời thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa, từ thiện,
MSB cam kết đóng góp các giá trị văn hóa, kinh tế cho cộng đồng và sự phát
triển chung của toàn xã hội.
2.1.2. Khái quát chung về Sở giao dịch MSB
2.1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Năm 2005, do hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có nhu cầu cần mở
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
rộng và cần có một trụ sở chính tại Hà Nội để thuận tiện hơn cho hoạt động của
Ngân hàng, MSB đã trình hồ sơ lên Giám đốc NHNN xin chuyển trụ sở chính từ

22
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
nhằm phục vụ tốt hơn những khách hàng sẵn có của SGD.
- Quy mô hoạt động tăng mạnh qua các năm.
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức.
Sở Giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam có cơ
cấu tổ chức bộ máy, nhân sự như sau:
 Ban giám đốc: Gồm có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc.
Cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng chức vụ, vị trí như sau:
Giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước cấp trên cơ
quan chủ quản là Hội sở Ngân hàng TMCP Hàng Hải về mọi hoạt động kinh
doanh của sở theo luật doanh nghiệp mà nhà nước đã ban hành. Đồng thời giám
đốc sở giao dịch cũng là người được giao trách nhiệm quản trị sở giao dịch, chịu
trách nhiệm về mọi mặt hoạt động kinh doanh, kỹ thuật của SGD.
Phó giám đốc: là người hỗ trợ giám đốc trong quá trình quản lý sở, giúp
cho giám đốc sở có thể tập trung vào các vấn đề lớn, có tính chất chiến lược. Bên
cạnh đó, phó giám đốc còn chịu trách nhiệm về mảng sản xuất kinh doanh hàng
ngày và về mảng đối ngoại của doanh nghiệp. Ngoài ra phó giám đốc còn có
nhiệm vụ làm thay công việc của Giám đốc trong trường hợp được ủy quyền.
Hiện tại ở Sở giao dịch đang có 2 phó giám đốc.
 Các phòng nghiệp vụ: Hiện nay Sở giao dịch MSB gồm có 4 phòng
nghiệp vụ:
Phòng tín dụng: được chia làm 2 phòng là phòng khách hàng doanh
nghiệp và phòng khách hàng cá nhân. Mỗi phòng gồm trưởng phòng, phó trưởng
phòng và các nhân viên nghiệp vụ.
+ Phòng Khách hàng doanh nghiệp: gồm 1 trưởng phòng, 2 nhân viên tín
dụng, 7 nhân viên hỗ trợ và kiểm soát tín dụng, 3 nhân viên tín dụng mới tuyển dụng.
+ Phòng khách hàng cá nhân: gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 9
chuyên viên tín dụng và hỗ trợ tín dụng.

Tổ chức tín dụng, các tổ chức có hoạt động ngân hàng.
• Phòng kế toán- tài chính: Thực hiện các công tác hạch toán, kế toán, theo
dõi và phản ánh tình hình hoạt động các loại vốn, quỹ và tài sản bảo quản tại Sở;
Lập và tổ chức chấp hành kế hoạch thu, chi tài chính của Sở; Thực hiện việc mở
tài khoản, giao dịch thanh toán cho Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng
trên địa bàn.
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
• Phòng giao dịch khách hàng: thực hiện trực tiếp hoạt động giao dịch với
khách hàng.
Cơ cấu tổ chức của sở giao dịch được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Hàng Hải.
(Nguồn: Phòng dịch vụ khách hàng, SGD MSB)
2.1.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh tại Sở giao dịch MSB.
a. Nguyên tắc hoạt động: Sở giao dịch Ngân Hàng Hàng Hải là một đơn vị nằm
trong toàn hệ thống Ngân Hàng Hàng Hải, hạch toán độc lập với Hội Sở Ngân
Hàng Hàng Hải. Tuy nhiên mọi hoạt động của SGD vẫn phải dưới sự chỉ đạo
giám sát của Hội Sở.
- Trong hoạt động tín dụng: SGD và ban giám đốc Sở chỉ có quyền thẩm
định, định giá tài sản, ký kết hợp đồng giải ngân với những hợp đồng vay có giá
trị dưới 800 triệu VND, còn những hợp đồng vay có giá trị trên 800 triệu VND
SGD phải chuyển hồ sơ lên Hội Sở, Hội Sở sẽ tiến hành thẩm định và đưa ra
quyết định cho vay hay không.
- Hoạt động thu nợ: SGD có quyền gửi đơn yêu cầu thu hồi nợ với những
khách hàng vay tiền tại SGD đã quá thời hạn cho vay, trong trường hợp khách
Nguyên Thị Phương Thảo Lớp: 35D2
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status