1
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP TỈNH AN GIANG
Cố vấn đề tài:
TS. NGUYỄN TRI KHIÊM
Thực hiện đề tài:
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG (Chủ nhiệm)
2.2. Quan hệ tài chính giữa hợp tác xã với thị trường tài chính ………………. 3
2.3. Quan hệ tài chính giữa hợp tác xã với các thị trường khác………………...4
2.4. Quan hệ tài chính trong nội bộ hợp tác xã ………………………………...4
2.5. Các mối quan hệ tài chính khác …………………………………………...4
3. Chức năng tài chính hợp tác xã ………………………………………………..5
3.1. Chức năng phân phối……………………………………………………... 5
3.2. Chức năng giám đốc ……………………………………………………... 5
II. Vai trò tài chính của hợp tác xã……………………………………….………….. 7
III. Cơ chế quản lý tài chính đối với hợp tác xã ……………………….……………. 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP TỈNH AN GIANG
I. Cơ chế tổ chức quản lý hợp tác xã………………………………………………..10
1. Về xã viên và đại hội xã viên………………………………………………11
1.1 Xã viên………………………………………………………………...11
1.2. Đại hội xã viên……………………………… ……………………….12
2. Ban quản trị ………………………………………………………………...13
3. Chủ nhiệm hợp tác xã ……………………………………………………...14
4. Ban kiểm soát ………………………………………………………………14
II. Cơ chế tạo lập và huy động vốn đối với hợp tác xã…………….………………..17
III. Chính sách phân phối lợi nhuận trong hợp tác xã…………………………….…22
IV. Cơ chế bảo toàn và phát triển vốn ……………………………………………...24
1. Sự cần thiết phải bảo toàn và phát triển vốn………………………………….24
2. Nội dung bảo toàn và phát triển vốn………………………………………… 25
2.1. Bảo toàn và phát triển vốn cố định …………………………………….25
2.2. Bảo toàn và phát triển vốn lưu động…………………………………... 26
V. Cơ chế kế hoạch hoá tài chính đối với hợp tác xã……………………….. 27
3
1. Tầm quan trọng của công tác kế hoạch hóa tài chính…………………..…… 27
I. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
1. Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của công tác quản lý tài chính trong hợp tác xã nông nghiệp
và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý tài chính hợp tác xã nông nghiệp trong điều kiện kinh
tế hiện nay.
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý tài chính ở một số hợp tác xã ( dưới góc độ cơ chế)
trên cơ sở đó tìm ra những mặt được và những tồn tại, tìm hiểu nguyên nhân.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính hợp tác xã nông nghiệp.
2. Nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tổ chức và quản lý hợp tác xã.
- Tạo lập và huy động vốn.
- Phân phối lợi nhuận.
- Bảo toàn và phát triển vốn.
- Kế hoạch hoá tài chính trong hợp tác xã.
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Do thực trạng số liệu của các hợp tác xã hiện nay không đầy đủ và không thống nhất nên đề
tài được nghiên cứu dưới góc độ cơ chế quản lý tài chính trong hợp tác xã nông nghiệp.
- Hợp tác xã nông nghiệp là hợp tác xã hoạt động kinh doanh dịch vụ phục vụ cho nông
nghiệp (không bao gồm hợp tác xã thuỷ sản và chăn nuôi).
- Địa bàn nghiên cứu: An giang
III. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
1. Cơ sở lý luận:
An Giang là một tỉnh có cơ cấu nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng. Quá trình phát triển nền
nông nghiệp của tỉnh cũng là quá trình phát triển và đổi mới các hình thức kinh tế hợp tác trong đó
chủ yếu là hợp tác trong nông nghiệp. Kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp thực tế đã đạt
được những thành tựu nhất định và có vai trò khá quan trọng đối với việc ổn định sản xuất, cải thiện
đời sống nông dân, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế của tỉnh.
Mặc dù Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh đã ban hành hàng loạt các Chỉ Thị, Quyết Định, Công văn
cứu, chúng tôi chỉ chọn ra 8 hợp tác xã để nghiên cứu. Cách thức chọn theo phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên phân tầng. Để phân tầng chúng tôi dựa vào cơ sở phân loại và đánh giá hợp tác xã của
Sở Nông nghiệp & PTNT (Mạnh, khá, trung bình và yếu) - phụ lục 1 - từ đó chúng tôi chọn ngẫu
nhiên mỗi tiêu chí đánh giá và phân loại ra 02 hợp tác xã, cụ thể:
Nhóm hợp tác xã mạnh: chọn 02 hợp tác xã
Nhóm hợp tác xã khá: Chọn 02 hợp tác xã
Nhóm hợp tác xã trung bình: Chọn 02 hợp tác xã
Nhóm hợp tác xã yếu: Chọn 02 hợp tác xã. 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Một số vấn đề cơ bản về tài chính trong hợp tác xã
1. Khái niệm về hợp tác xã nông nghiệp
Hợp tác xã: Theo Điều 1 Luật hợp tác xã sửa đổi (26/11/2003), hợp tác xã được định nghĩa
như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi
chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của
Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng nhau thực hiện
có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Hợp tác xã nông nghiệp: Theo Nghị định 43/CP của Chính phủ (29.4.1997) về việc ban
hành Điều lệ mẫu Hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp được định nghĩa: “Hợp tác xã
nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh
tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho
kinh tế hộ gia đình của các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản
phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn, phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp”. [2]
2. Những mối quan hệ tài chính của hợp tác xã
Trong nền kinh tế thị trường thì sự vận động của vốn tiền tệ không chỉ bó hẹp, đóng khung
Trên cơ sở đó, hợp tác xã xác định được số vốn đầu tư cho kế hoạch sản xuất – kinh doanh, dịch vụ
nhằm thoả mãn các nhu cầu thị trường và nhằm tạo ra lợi nhuận tối đa với lượng chi phí chi ra thấp
nhất; mặt khác nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của hợp tác xã trong môi trường cạnh
tranh.
2.4. Quan hệ tài chính trong nội bộ hợp tác xã
Biểu hiện của quan hệ này là sự luân chuyển vốn trong hợp tác xã. Đây là quan hệ tài chính
giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, dịch vụ với nhau, giữa các đơn vị thành viên với nhau, giữa
quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn,….Các mối quan hệ này được biểu hiện thông qua chính
sách tài chính của hợp tác xã, như: Chính sách phân phối thu nhập, chia lãi cho xã viên, các chính
sách về cơ cấu nguồn vốn, chính sách về đầu tư và cơ cấu đầu tư.
2.5. Các mối quan hệ tài chính khác
Bên cạnh các quan hệ tài chính nhà nước, các thị trường và nội bộ hợp tác xã, còn có các quan
hệ tài chính giữa hợp tác xã với các nhà đầu tư, các nhà quản lý,…
Thông qua việc giải quyết các mối quan hệ tài chính của hợp tác xã với môi trường xung
quanh giúp hợp tác xã xác định nhu cầu các yếu tố đầu vào, khả năng cung ứng hàng hoá, dịch vụ
cho thị trường, tạo điều kiện phục vụ cho mọi nhu cầu của hoạt động sản xuất – kinh doanh, sử
dụng linh hoạt các công cụ huy động vốn.
Qua những phân tích trên, cho phép rút ra khái niệm về tài chính hợp tác xã như sau: Tài
chính hợp tác xã là hệ thống các quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình phân phối của cải xã
hội gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của hợp tác xã nhằm phục vụ cho yêu cầu
sản xuất - kinh doanh của hợp tác xã và các nhu cầu chung của xã hội.
Như vậy, có thể nói: không có nền kinh tế nào vận hành được nếu không có tiền. Điều đó là vì
tiền tệ là nền tảng cho tất cả các hoạt động tài chính và là công cụ căn bản của các hoạt động kinh tế
của mọi tổ chức kinh tế và hợp tác xã. Bởi vậy, hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ
bản của hoạt động sản xuất – kinh doanh, dịch vụ của hơp tác xã nhằm giải quyết các mối quan hệ
tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất – kinh doanh và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.
Hoạt động tài chính của hợp tác xã là những quan hệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động,
phân phối, sử dụng và quản lý vốn một cách có hiệu quả.
Như vậy, hoạt động tài chính của hợp tác xã có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động sản
xuất - kinh doanh của hợp tác xã.
kinh doanh. Nghĩa là chức năng phân phối phản ánh ngay cả việc sử dụng vốn của hợp tác xã trong
quá trình đầu tư vào các loại tài sản, cũng như tìm kiếm các nguồn tài trợ về tài chính nhằm đáp ứng
nhu cầu vốn của hợp tác xã và xây dựng một cơ cấu tài sản cũng như cơ cấu vốn hợp lý ...
Như vậy, nhờ chức năng phân phối mà các quỹ tiền tệ của hợp tác xã được tạo lập và sử dụng,
đồng vốn sản xuất kinh doanh được chu chuyển một cách tuần hoàn.
3.2. Chức năng giám đốc
Cũng như chức năng phân phối, chức năng giám đốc là một thuộc tính vốn có khách quan của phạm
trù tài chính hợp tác xã. Nó thể hiện khả năng tài chính trong việc giám sát tính mục đích, tính hiệu
quả của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của hợp tác xã.
Tính khách quan của chức năng giám đốc tài chính được xuất phát từ một nguyên lý cơ bản:
mục đích của mọi nhà đầu tư khi bỏ vốn và sử dụng vốn trong kinh doanh đều có một mong muốn
là đưa lại hiệu quả cao, vốn phải sinh lời và do đó cần thiết phải giám sát tính tiết kiệm và hiệu quả
của đồng vốn được đầu tư.
Đặc trưng cơ bản của giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài
chính. Bởi vì các chỉ tiêu tài chính là tấm gương phản ánh trung thực và toàn diện tình hình sản xuất
của mỗi hợp tác xã. Nhờ đó mà nhà quản lý có khả năng điều chỉnh hoạt động tài chính để tác động
một cách tích cực đến quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Biển hiện tập trung nhất của bộ phận quản lý tài chính là giám đốc quá trình hình thành và sử
dụng các quỹ tiền tệ của hợp tác xã.
Thông qua quá trình phân phối, hàng loạt quỹ tiền tệ của hợp tác xã được hình thành. Song
việc hình thành các quỹ không phải là ngẫu nhiên, tùy tiện mà với khả năng giám đốc của tài chính
các quỹ tiền tệ sẽ được hình thành từ các nguồn tài chính hợp lý, hiệu quả. Điều đó cho phép nhà
quản lý tìm thấy những quyết định tài chính đúng đắn trong việc hình thành các nguồn tài trợ và các
quỹ của hợp tác xã. Tương tự như vậy cũng nhờ khả năng giám đốc tài chính, việc phân phối để
hình thành các quỹ trong hợp tác xã sẽ trở nên hợp lý và quy mô: về quan hệ tỷ lệ phù hợp với
phương hướng sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất được tiến hành liên tục.
Thông qua phân phối tài chính, các quỹ tiền tệ của hợp tác xã sẽ được sử dụng cho các mục
đích khác nhau. Song hiệu quả của việc sử dụng vốn lại phụ thuộc vào việc phát huy chức năng
giám đốc của tài chính, qua phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép các hợp tác xã có căn cứ đầu tư
đúng mục đích, có hiệu quả cao. Những cứ liệu của giám đốc tài chính sẽ là những cơ sở quan trọng
Để đạt được các mục tiêu của sản xuất kinh doanh, yếu tố hàng đầu của hợp tác xã là phải có
vốn. Trong cơ chế tài chính của hợp tác xã, bước đầu khi thành lập đã đảm bảo yêu cầu vốn điều lệ
cho hợp tác xã hoạt động. Trong bối cảnh đó, các hợp tác xã có khả năng phát huy cao độ các chức
năng của tài chính để đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh. Vấn đề là ở chỗ nhà quản lý tài chính
phải xác định đúng nhu cầu vốn, cân nhắc lựa chọn các nguồn tài trợ có hiệu quả và thích hợp, sử
dụng các đòn bẩy kinh tế như lãi suất tiền vay, thời hạn vay, lợi tức của mỗi vốn góp... để kích thích
thu hút vốn, linh hoạt trong sử dụng nguồn vốn và cân đối để trang trải nguồn tài trợ đúng kỳ hạn
v.v... Đó chính là những biện pháp để nâng cao vai trò của tài chính trong việc tạo lập và đảm bảo
vốn cho sản xuất kinh doanh của hợp tác xã.
- Hai là, tài chính hợp tác xã có vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm
và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi hợp tác xã. Để thực hiện vai trò này,
người quản lý phải có nghệ thuật trong việc sử dụng vốn, để vốn không bị ứ đọng, quay vòng
nhanh, phải xác định được những trọng điểm trong việc sử dụng vốn nhằm đảm bảo tiết kiệm nhưng
đem lại hiệu quả cao, đồng thời phải tìm các biện pháp bảo toàn vốn và nâng cao hiệu suất sử dụng
vốn.
Để thực hiện được những yêu cầu trên đây, đòi hỏi nhà quản lý phải sử dụng tổng hợp cả hai
chức năng phân phối và giám đốc tài chính. Có như vậy thì tài chính mới có những tác động tích
cực đến sản xuất kinh doanh.
11
Biện pháp để thực hiện được vai trò này, thì yêu cầu phải thực hiện hoạch định và kiểm soát
tài chính trong hợp tác xã, mà trước tiên là phải xác định đúng đắn phương án sản xuất - kinh
doanh; nhà quản lý tài chính cần chuẩn bị luận cứ để tham gia và từ đó có cơ sở tính toán nhu cầu
về vốn, có kế hoạch tạo nguồn tài trợ cho các nhu cầu đó.
Bên cạnh việc sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, phương án kinh doanh của
hợp tác xã cũng phải tính đến việc đầu tư vốn vào các hợp tác xã khác qua việc mua cổ phiếu, trái
phiếu, qua hoạt động liên doanh liên kết hoặc đầu tư vào thị trường tài chính. Những việc đầu tư đó
đòi hỏi phải nắm chắc thông tin, phân tích và hoạch định kỹ lưỡng.
- Ba là, tài chính hợp tác xã có vai trò đòn bẩy kích thích sản xuất - kinh doanh và đầu tư.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ của tài chính hợp tác xã được mở ra trên một
cụ kiểm soát tài chính, có thể giúp cho việc phát hiện nhanh chóng và khai thác các tiềm năng của
hợp tác xã.
Để có thể sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra, kiểm soát của tài chính đòi hỏi hợp tác xã
phải xây dựng một cơ chế tổ chức và quản lý tài chính thích hợp trên nền tảng pháp lý và điều lệ
hoạt động của hợp tác xã. Đồng thời phải xây dựng được các chỉ tiêu kế hoạch tài chính chính xác,
và tổ chức tốt hệ thống thông tin tài chính kịp thời v.v....
12
III. Cơ chế quản lý tài chính đối với hợp tác xã
Cơ chế quản lý là tổng thể các hình thức kinh tế và tổ chức nhằm đảm bảo sự tác động có ý
thức tới những đơn vị sản xuất kinh doanh và những người lao động để đạt được những nhiệm vụ,
mục tiêu kinh tế nhất định.
Cơ chế quản lý được hình thành một cách có ý thức, nó luôn luôn được xây dựng dựa trên một
cơ chế kinh tế, tồn tại một cách khách quan trong một hình thái xã hội nhất định. Mọi hoạt động sản
xuất, kinh doanh của các tổ chức kinh tế đều tiến hành có kế hoạch và dưới góc độ vi mô, ban quản
lý – điều hành chủ động đề ra các chính sách, chế độ quản lý phù hợp với giai đoạn phát triển nhất
định của hợp tác xã. Dưới góc độ tài chính, bao gồm các chế độ, chính sách quản lý như sau:
- Cơ chế tổ chức quản lý hợp tác xã.
- Cơ chế tạo lập và huy động vốn hợp tác xã.
- Cơ chế bảo toàn vốn.
- Cơ chế phân phối lợi nhuận.
- Cơ chế kế hoạch hóa.
Tất cả các bộ phận trên hợp thành một thể thống nhất là cơ chế quản lý tài chính. Nếu các bộ
phận đó được sắp xếp, bố trí hợp lý và được phân định rõ ràng thì sẽ tạo ra động lực thúc đẩy cơ chế
hoạt động tốt và mang lại hiệu quả cao. Ngược lại nếu chúng được bố trí không hợp lý, không rõ
ràng thì hiệu quả của toàn bộ cơ chế sẽ thấp và sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của hợp tác xã.
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TỈNH AN
Dù là ở quy mô nào, dạng cơ cấu tổ chức nào thì cơ cấu tổ chức quản lý hợp tác xã đòi hỏi
phải chặt chẽ, và cơ cấu tổ chức này vừa có nét cơ bản của một doanh nghiệp nói chung, lại vừa có
nét riêng biệt của loại hình hợp tác xã.
Về cơ cấu tổ chức các hợp tác xã trên địa bàn An Giang hiện nay được tổ chức theo hai kiểu:
(1) Một số hợp tác xã cơ cấu tổ chức gồm có Ban quản trị, tuy nhiên Chủ nhiệm hợp tác xã
cũng đồng thời là người đứng đầu Ban quản trị. Do vậy, cơ cấu tổ chức được thành lập theo kiểu
một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành. Hợp tác xã nông nghiệp Thọ Mỹ Hưng, Phú An là một điển
hình của cơ cấu tổ chức theo kiểu này.
(2) Đa số khác lại không có Ban quản trị và Chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
Ban quản trị. Chẳng hạn như Hợp tác xã nông nghiệp Hoà Thuận. Đức Thành. Bình Mỹ,….
Hai hình thức trên đều đòi hỏi Chủ nhiệm hợp tác xã phải là người có năng lực thật sự để vừa
quản lý và vừa điều hành hợp tác xã. Quản lý hợp tác xã là quản lý có tính chất hiệp hội, còn quản
lý sản xuất – kinh doanh, dịch vụ trong hợp tác xã là quản lý có tính chất doanh nghiệp. Quản lý
hợp tác xã nhằm đảm bảo quyền dân chủ của xã viên đối với hợp tác xã, đảm bảo mục tiêu của hợp
tác xã là phục vụ xã viên. Còn quản lý sản xuất – kinh doanh, dịch vụ trong hợp tác xã là nhằm đảm
14
bảo các hoạt động kinh tế của hợp tác xã phải có lãi, có hiệu quả. Do vậy, một số hợp tác xã sau
một quá trình hoạt động không đảm bảo được tính hiệu quả trong các hoạt động của hợp tác xã,
chẳng hạn Hợp tác xã Thành Công, Hợp tác xã Vĩnh Hòa lỗ nhiều vụ liên tục và hiện nay đang
trong tình trạng ngưng hoạt động, chủ yếu là do năng lực quản lý sản xuất – kinh doanh, dịch vụ có
giới hạn.
5. Về xã viên và đại hội xã viên
1.1 Xã viên
Các xã viên hiện nay của hợp tác xã chủ yếu là xã viên thường, tức không có trường hợp ưu
đãi nào, thể hiện: mỗi xã viên là một phiếu bầu, bình đẳng như nhau, không phụ thuộc vốn nhiều
hay ít và chức vụ xã viên trong hợp tác xã. Cổ tức được nhận (nếu có) với tỷ lệ như nhau trên phần
vốn góp.
- Về trách nhiệm, các xã viên phải nộp đầy đủ vốn góp đúng thời hạn quy định; phải
thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi quy định ghi trong điều lệ hợp tác xã. Đặc biệt, các xã viên
5 BÌNH THÀNH 107 77 30
6 BÌNH MỸ 114 114
7 VĨNH HÒA 17
8 9
8 PHƯỜNG B 316 284 32
Nguồn: tổng hợp và tính toán
1.2. Đại hội xã viên
Đại hội xã viên được xem là cơ quan quyền lực cao nhất của các hợp tác xã. Thông thường
Đại hội xã viên ở các hợp tác xã gồm:
- Đại hội đồng thành lập (Sáng lập viên): Đây là Đại hội xã viên lần đầu tiên của hợp tác
xã, do đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nhiệm vụ cơ bản của Đại hội đồng thành lập là:
+ Vận động thành lập hợp tác xã
+ Tổ chức Hội nghị thành lập hợp tác xã.
+ Thảo luận và thông qua điều lệ hợp tác xã.
Điều lệ hợp tác xã là một bản cam kết của tất cả các xã viên về thành lập và hoạt động của
hợp tác xã. Do đó điều lệ hợp tác xã là văn bản pháp lý để xử lý mọi vấn đề liên quan đến việc tổ
chức quản lý hoạt động của hợp tác xã nên vô cùng quan trọng. Trong quá trình hoạt động, điều lệ
hợp tác xã có thể được tu chỉnh, bổ sung nhưng phải đưa ra thảo luận ở Đại hội xã viên và được
biểu quyết.
- Đại hội xã viên thường kỳ: Họp mỗi năm một lần do Ban quản trị triệu tập trong thời
hạn ba tháng, kể từ ngày khoá sổ quyết toán năm.
Đại hội xã viên thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến:
+ Xem xét, thảo luận báo cáo tình hình sản xuất – kinh doanh trong năm của hợp tác xã,
báo cáo hoạt động của Ban quản trị và của Ban kiểm soát.
+ Phương hướng, nhiệm vụ phát triển hợp tác xã và kế hoạch kinh doanh.
+ Vốn tối thiểu; tăng, giảm vốn điều lệ; thẩm quyền và phương thức huy động vốn.
+ Báo cáo công khai tài chính, dự kiến phân phối thu nhập và xử lý các khoản lỗ, các
khoản nợ.
+ Bầu, bãi miễn Ban quản trị, Trưởng Ban quản trị, Ban kiểm soát, Trưởng Ban kiểm
trị là người đại diện chính thức của hợp tác xã.
Trong luật hợp tác xã của nước ta quy định các thành viên trong Ban quản trị, phải là xã viên
hợp tác xã và đồng thời không là thành viên của Ban kiểm soát, Kế toán trưởng, Thủ quỹ của hợp
tác xã. Ngoài ra còn quy định về mặt nhân thân: không là cha, mẹ, vợ, chồng, anh, em của những vị
trí trên.
Nhiệm kỳ của Ban quản trị do điều lệ hợp tác xã quy định nhưng tối thiểu là hai năm, tối đa
không quá năm năm. Trưởng Ban quản trị là người chịu trách nhiệm chuẩn bị các chương trình nghị
sự, tổ chức xây dựng và dự thảo nội dung các văn bản, Nghị quyết của Đại hội xã viên và Ban quản
trị, triệu tập và điều hành hoạt động của Đại hội xã viên và các cuộc họp của Ban quản trị, phân
công các thành viên của Ban quản trị chuẩn bị những nội dung có liên quan đến lĩnh vực họ phụ
trách. Chỉ đạo. Ban chủ nhiệm chuẩn bị báo cáo về tình hình và kết quả kinh doanh, báo cáo về tài
chính, phương hướng hoạt động kinh doanh của hợp tác xã để trình Đại hội xã viên. Đồng thời
Trưởng Ban quản trị là người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức và điều hành thực hiện
những Nghị quyết của xã viên.
7. Chủ nhiệm hợp tác xã
Ban quản trị là bộ máy quản lý cao nhất đại diện cho quyền sở hữu của các xã viên, nhưng
Ban quản trị có thể hoặc không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã.
Như vậy, Ban quản trị có thể hoặc cử ra 1 người trong số thành viên Ban quản trị hoặc có thể thuê
một người khác làm chủ nhiệm hoặc giám đốc hợp tác xã. Luật hợp tác xã (năm 2003) – theo mô
hình vừa quản lý vừa điều hành - Trưởng Ban quản trị có thể kiêm chủ nhiệm hoặc giám đốc hợp
tác xã.