LUẬN VĂN:
Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển
hoạt động cho thuê tại Công ty Cho thuê Tài
chính I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam Lời nói đầu Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về chính trị cũng như về kinh
tế. Đặc biệt trong những năm 90, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển vượt
bậc, tốc độ tăng trưởng hàng năm cao duy trì ở mức 8%, tỷ lệ lạm phát được kiềm chế
dưới 10%, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam diễn ra vào
tháng 4/2001 có ý nghĩa rất to lớn, mở ra một thời kì mới phát triển đất nước trong
những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.
Đường lối kinh tế của Đảng ta trong thời gian tới là: đẩy mạnh Công nghiệp hóa-
Hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công
nghiệp. Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (2001- 2005) là nhịp độ tăng trưởng
GDP bình quân hàng năm là 7,5%. Tổng GDP năm 2005 gấp hai lần năm 1995, tăng tỷ
trọng nông lâm- ngư nghiệp là 20- 21%, công nghiệp và xây dựng 38- 39%, các ngành
Chương I:
Hoạt động cho thuê tại các công ty cho thuê tài chính
1.1. Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ cho thuê tài sản.
Hình thức tài trợ thông qua cho thuê tài sản đã có lịch sử khá lâu đời và diễn ra
trong hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, thuộc nhiều lĩnh vực trên thế giới.
Theo các thư tịch cổ, các giao dịch cho thuê tài sản đã xuất hiện từ năm 2800 trước
Công nguyên tại thành phố Sumerian. Các thầy tu giữ vai trò người cho thuê, người
thuê là những nông dân tự do. Tài sản được đem ra giao dịch bao gồm: công cụ sản xuất
nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, đất ruộng
Vào khoảng năm 1700 tr.C.N, vua Babilon là Hamnurabi đã ban hành nhiều văn
bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có đưa ra những quy định về hoạt
động cho thuê tài sản.
khoảng 20% vốn tài trợ cho các hoạt động thuê mua và năm 1993 tổng giá trị ngành
công nghiệp thuê mua đạt 49 tỷ USD.
Tín dụng thuê mua cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ ở Châu á và
nhiều khu vực khác kể từ đầu thập niên 70. Theo một thống kê gần đây cho thấy, ngành
công nghiệp thuê mua thế giới có giá trị trao đổi chiếm khoảng350 tỷ USD vào năm
1994 và đến năm 1998 con số này đã là 450 tỷ USD.
ở Việt Nam, trong điều kiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường, nhu cầu vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh là rất lớn và mang tính cấp bách hơn bao giờ hết, thì sự
ra đời của các công ty cho thuê tài chính- một kênh dẫn vốn trung gian- đã bước đầu tạo
được chỗ đứng của mình trên thị trường. Cho đến nay, Việt Nam đã có 9 công ty cho
thuê tài chính, với lượng vốn đầu tư khoảng 850 tỷ VNĐ/ năm. Tuy lượng vốn đầu tư
này còn khá khiêm tốn so với nhu cầu vốn của nền kinh tế song phần nào đã đáp ứng
cho việc cung cấp và cải thiện các loại máy móc thiết bị cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ
Như vậy, hoạt động cho thuê tài sản được thể hiện trước hết ở thoả thuận thuê tài
sản là thoả thuận mà theo đó, người cho thuê chuyển quyền sử dụng tài sản sang người
thuê trong một thời gian nhất định, được thoả thuận trước để nhận được những khoản
tiền thuê.
Một thoả thuận thuê tài sản phải có những đặc điểm sau:
* Thời gian cho thuê là trung hoặc dài hạn, chiếm phần lớn đời sống hữu ích của
tài sảnvà không thể huỷ ngang theo ý muốn của một bên.
* Trong suốt thời gian diễn ra hoạt động cho thuê tài sản, quyền sở hữu pháp lý
đối với tài sản thuộc về người cho thuê, và quyền sử dụng tài sản thuộc về người thuê.
Phần lớn các chi phí bảo trì, bảo hiểm, rủi ro, thuế và các lợi ích phát sinh trong quá
trình sử dụng tài sản được chuyển từ người cho thuê sang người thuê.
* Trong khoản tiền thuê mà người thuê trả cho người cho thuê theo định kỳ bao
gồm tiền vốn gốc, tiền lãi tín dụng, phần lợi nhuận hợp lý và các chi phí quản lý khác.
Do đó, giống như hình thức tín dụng Ngân hàng, hoạt động cho thuê tài sản cũng mang
tính hoàn trả, tính thời hạn và lãi suất. Như vậy về thực chất, hoạt động cho thuê tài sản
g- Mục đích
h- Quyền sở hữu i- Tính toán để khấu trừ
Các pháp nhân
Có thời hạn khá dài: từ 1 đến
20 thậm chí 30 năm.
Không được huỷ ngang hợp
đồng.
Có thể chuyển giao cho người
thuê khi hợp đồng hết hạn.
Do người thuê thực hiện.
Đảm bảo cho người thuê đổi
mới công nghệ kịp thời.
Thuộc quyền người cho thuê
và có thể được chuyển giao
cho người thuê.
Tổng số tiền thuê.
không có th
ế chấp.
Các pháp nhân và thể nhân.
Có thòi hạn trung bình từ 1
đến 5 năm.
Không được huỷ ngang hợp
đồng.
Chuyển giao cho người thuê
Tuỳ theo quy định của _ong quốc gia, nghiệp vụ này được coi là cho thuê tài sản khi
thời hạn thuê mua thường chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản và giá trị hiện tại
ròng của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại
thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Thông thường một giao dịch cho thuê thường được chia thành ba phần như sau:
+ Thời hạn thuê cơ bản (Basic lease period): là thời hạn mà người thuê trả những khoản
tiền thuê cho người cho thuê để được quyền sử dụng tài sản. Trong _ong giai đoạn này,
người cho thuê thường kỳ vọng thu hồi đủ số tiền đã bỏ ra ban đầu cộng với tiền lãi trên
số vốn đã tài trợ. Đây là thời hạn mà tất cả các bên không được quyền huỷ ngang hợp
đồng nếu không có sự chấp thuận của bên kia.
+ Thời hạn gia hạn tuỳ chọn (Optional renewal Period): Trong giai đoạn gia hạn thứ hai
này, người thuê có thể tiếp tục thuê thiết bị tuỳ theo ý muốn của họ. Tiền thuê trong giai
đoạn này thường rất thấp so với tiền thuê trong thời hạn cơ bản, thường chiếm tỷ lệ 1- 2
% tổng số vốn đầu tư ban đầu và thường phải trả trước vào đầu mỗi kỳ thanh toán.
+ Phần giá trị còn lại (Residual Value Share): Theo thông lệ, tại thời điểm kết thúc giao
dịch cho thuê người cho thuê thường uỷ quyền cho người thuê làm đại lý bán tài sản.
Người thuê được phép hưởng phần tiền bán tài sản lớn hơn so với giá mà người cho
thuê đưa ra, hoặc được khấu trừ vào tiền thuê hay được coi như một khoản hoa hồng
bán hàng.
Khi thời hạn cho thuê căn bản đáo hạn, người thuê có quyền lựa chọn một trong
những hình thức mua lại tài sản với giá trị hợp lý hay giá tượng trưng tuỳ theo sự thoả
thuận đã được dự liệu trước trong hợp đồng – hoặc người thuê cũng có thể tiếp tục thuê
tài sản hoặc nhận làm đại lý bán tài sản đó tuỳ theo sự uỷ quyền của người cho thuê.
Phương thức cho thuê được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1 Phương thức cho thuê
d
ụng TS
Trả tiền
thuê TS
Người
thuê
HĐ
mu
a
bá
n
tà
i
Quyền
sở
hữu
pháp
lý
đối
v
ới
Tr
ả
ti
ền
mu
a
4
5 6
7
8 9 10
Quyền sở hữu
Thời hạn thuê
Quyền huỷ ngang
hợp đồng
Rủi ro
Chi phí bảo trì, dịch
vụ và mua bảo hiểm
Ưu đãi về thuế
Người cho thuê hưởng
Tài sản thuê mướn thường do
người cho thuê cung cấp.
Toàn bộ tiền thu được do bán
tài sản thuê thuộc quyền sử
dụng của người cho thuê.
Máy photocopy, máy vi tính, xe
ôtô, đồ đạc trong nhà, văn
phòng….
Như thuê vận hành
Thường dài hơn một nửa cho
tới bằng đời sống hữu ích của
tài sản.
Không được quyền huỷ ngang
hợp đồng
Người thuê chịu mọi rủi ro thiệt
hại.
Người thuê chịu mọi chi phí
vận hành, bảo trì, dịch vụ, phí
bảo hiểm.
Tương tự như thuê vận hành.
Người cho thuê hưởng
Tài sản cho thuê thường do
người thuê đặt hàng, giao nhận
Hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê tối thiểu do người thuê trả có
tương đương hoặc lớn hơn giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng
không ? Nếu có là giao dịch thuê tài chính, nếu không là thuê vận hành.
Tất cả mọi giao dịch thuê tài sản nếu thoả mãn một trong bốn tiêu chuẩn này đều
thuộc phương thức thuê tài chính. Những giao dịch còn lại thuộc thuê vận hành.
Sơ đồ 1.2 tóm tắt quy trình phân loại này
Trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại theo IAS 17 của IASC, mỗi quốc gia đều có
những quy định cụ thể trong luật thuê mua của họ dựa trên cơ sở những điều kiện của
Thuê tài
chính
Có
Không
Có
Có
Có
Không
Không
Khôngđể chế tạo ra các loại máy móc, thiết bị nên các nhà sản xuất có thể mua lại những thiết
bị đã lạc hậu về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp các loại máy móc mới ,hiện đại do
họ chế tạo ra.
Sơ đồ 1.3 – Hợp đồng tài trợ trực tiếp.
Người cho
thuê
hay
Nhà sản
xuất
Thiết bị (quyền
Các lo
ại d
ịch vụ bảo trì và
phụ tùng
Tr
ả tiền thuê và dịch vụ
phụ tùng
Bán lại các thiết
Người
thuê
Hay
Người
tiêu
thụ
thuần.
1.2.2.3. Hợp đồng cho thuê bắc cầu:
Hình thức này xuất hiện trong thời gian gần đây xuất phát từ thực tế các công ty
cho thuê có những hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tài trợ cho khách hàng .
Hình thức này cho phép người cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ một hay nhiều
người cho thuê nào đó ( Tuy nhiên,theo luật pháp của một số quốc gia khoản tiền vay
này không được vượt quá 80% tổng giá trị tài sản dược tài trợ) .Hình thức này được tóm
tắt trong bảng sau:
Sơ đồ 1.4 – Thoả thuận thuê mua bắc cầu.
Người cho vay Người cho thuê Người thuê
1/ Cung c
ấp tín dụng trung và
dài hạn chiếm phần lớn giá trị tài
sản cho thuê.
2/ Nhận tiền trả nợ vay bằng tiền
thuê do người thuê trả theo yêu
hỏi một lượng vốn đủ lớn, chẳng hạn thuê một máy bay thương mại hoặc là một tàu trở
hàng hoặc là một tổ hợp chuyên ngành lớn.
1.2.2.4. Hợp đồng bán và cho thuê lại:
Bán và cho thuê lại là một thoả thuận tài trợ tiêu _ong mà bên A (người thuê) bán
một tài sản của chính họ cho bên B (người cho thuê). Đồng thời, ngay lúc đó một hợp
Người cho vay
(Lender)
Tiề
n
trả
n
ợ
Tiề
n
cho
vay
Người cho
thuê
Tài sản
Tiền thuê
Ngư
ời thuê
(Lessee
đồng thuê mua được thảo ra với nội dung bên B đồng ý cho bên A thuê lại chính tài sản
mà họ vừa bán.Trường hợp này xuất hiện khi các doanh nghiệp- nhất là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ- gặp rất nhiều khó khăn về vốn lưu động. Mà vay vốn sẽ gặp nhiều
Tho
ả thuân mua bán tài sản
Quyền sở hữu pháp lý
Tiền mua tài sản
Quy
ền sử dụng tài sản
Ch
ủ sở hữu
ban đầu Người bán
Người thuê
Tr
ả tiền thuê
Hợp đồng thuê mua
1- Mua tài sản của người thuê và nắm
quyền sở hữu về mặt pháp lý.
2- Trả tiền cho người thuê theo giá tại
thời điểm thoả thuận mua tài sản.
3- Giao quyền sử dụng tài sản cho người
thuê.
với những tài sản trước đó được mua bằng nguồn tiền vay hay được _ong để giảm chi
phí huy động vốn nếu hình thức này có mức lãi _ong thấp hơn các chi phí sử dụng vốn
khác. Tại Hoa Kỳ, hình thức giao dịch này có sức cạnh tranh rất cao trong ngành kinh
doanh bất động sản, còn trong các ngành sản xuất thì tuỳ thuộc vào chủng loại thiết bị
mà chúng có sức cạnh tranh từ vừa đến cao. Tại Việt Nam hiện nay, hình thức này đang
được áp dụng tại một số công ty cho thuê.
1.2.2.5. Hợp đồng cho thuê giáp lưng
Đây là phương thức tài trợ mà trong đó được sự thoả thuận của người cho thuê,
người thuê thứ nhất cho người thuê thứ hai thuê lại tài sản mà người thuê thứ nhất đã
thuê từ người cho thuê.
Hình thức thoả thuận cho thuê này thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng
hoàn trả toàn bộ được ký kết giữa người cho thuê với người thứ nhất. Loại hợp đồng
này là loại thoả thuận không thể huỷ ngang . Nhưng do người cho thuê thứ nhất sau khi
thực hiện được một phần của hợp đồng không còn nhu cầu nữa hay vì một lý do nào đó
nên phải tìm người thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng. Bởi nếu không còn cho thuê
tiếp được thì dù không sử dụng tài sản vẫn phải trả tiền thuê. Sơ đồ 1.6. Thoả thuận thuê mua giáp lưng
Người cho thuê Người thuê thứ nhất Người thuê thứ hai
1
-
thứ nhất.
2- Trả tiền thuê cho người
thuê thứ nhất.
3- Các nghĩa vụ và quyền lợi
không khác so với nghĩa
vụ và quyền lợi của người
thuê trong thoả thuận thuê
thuần.
Nhìn chung, hợp đồng cho thuê diễn ra rất đa dạng và khó có thể phân biệt _ong
loại thoả thuận cho thuê một cách rạch ròi. Các hình thức này đan xen vào nhau, nên
việc xem xét, phân tích chúng đòi hỏi phải có sự đánh giá trên nhiều phương diện.
1.3. Điều kiện thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài sản
1.3.1 Về khía cạnh kinh tế:
a. Nhu cầu của doanh nghiệp:
Nghiệp vụ cho thuê ra đời và phát triển là do nhu cầu của các doanh nghiệp về
tài trợ cho các thiết bị trong khi họ không có hoặc không muốn bỏ vốn ra mua sắm để
tập trung nguồn vốn của họ vào các đối tượng thuộc vốn lưu động. Vì vậy, nếu doanh
nghiệp không có nhu cầu thuê tài sản thì nghiệp vụ cho thuê cũng không thực hiện
được.
Người
cho
thuê
(Less
or)
Quyền sử
dụng tài
Tiền
Người
Do hoạt động cho thuê làm gia tăng đáng kể đầu tư trong nước cho nên luật khuyến
khích đầu tư nên áp dụng cho hoạt động này. Sự liên quan của các luật thuế đối với
việc thúc đẩy nghiệp vụ cho thuê là ở chỗ: Liệu các luật này có phải là giải pháp trung
hoà lợi ích giữa người chủ sở hữu và người sử dụng thiết bị cho thuê hay không , tức
là pháp luật có công nhận rằng lợi ích kinh tế các thiết bị cho thuê cũng giống như lợi
ích kinh tế có được của cùng thiết bị ấy nếu được mua đứt bán đoạn và do vậy phải
được hưởng các khuyến khích bình đẳng như nhau hay không .
1.3.2.2. Pháp luật về bên cho thuê:
Sau khi xem xét các cơ sở pháp lý nêu trên thì còn cần phải xem xét nhiều vấn đề
liên quan tới các qui chế chi phối người cho thuê và nghĩa vụ cho thuê, kể cả việc các
công ty cho thuê có cần được Chính phủ cấp giấy phép và thanh tra đặc biệt không? Các
vấn đề khác về mặt quy chế có thể là : Nguồn vốn và thời hạn vốn, yêu cầu về khả năng
trả nợ, khả năng thanh toán, các quy định về thiết bị đủ tiêu chuẩn cho thuê và yêu cầu
về kế toán.
1.3.2.3. Pháp luật về hợp đồng kinh tế và sở hữu tài sản:
Cần phải định nghĩa rõ ràng về bản chất của giao dịch cho thuê để bảo vệ lợi ích
hợp pháp của người thuê và người cho thuê (đồng thời cũng buộc họ phải thực hiện các
nghĩa vụ). Đưa ra các phương thức cho thuê cần thiết , bởi có nhiều loại giao dịch cho
thuê khác nhau, bao gồm từ loại mua đứt bán đoạn thiết bị với điều kiện là người mua
hoàn thành các nghĩa vụ cụ thể (chủ yếu là thanh toán từng đợt theo thoả thuận) đến loại
nghiệp vụ thuê tài sản mà trong đó người thuê tạm thời sử dụng tài sản nào đó nhưng
không có ý định sẽ sở hữu nó sau này.
Nếu không phân biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ cho thuê với các giao dịch thương
mại hoặc tài chính khác thì hoạt động cho thuê sẽ phải tuân thủ các điều khoản bất lợi
trong các luật khác. Đồng thời các thủ tục pháp lý về chuyển nhượng tài sản và thoả
thuận hợp đồng nên để ở mức tối thiểu cần thiết để thực hiện giao dịch này.
1.3.2.4. Pháp luật về thuế:
Luật thuế của một nước phải có các điều khoản cụ thể về nghĩa vụ thuế và ưu đãi
thuế đối với các bên liên quan đến giao dịch cho thuê, kể cả phần khấu hao . Điều này
- Được tài trợ với tỷ lệ cao và đến mức tài trợ toàn bộ cho chi phí mua sắm máy
móc thiết bị.
Việc tài trợ cho thuê được bảo đảm bởi chính bản thân máy móc thiết bị cho thuê.
Nghĩa là, nó cho phép người cho thuê dễ dàng lấy lại máy móc, thiết bị trong trường
hợp hợp đồng bị vi phạm. Do vậy, doanh nghiệp thường không cần phải đặt tiền gửi
hoặc thanh toán trước đối với tài sản đi thuê. Tuy nhiên, trong những trường hợp có
mức độ rủi ro cao thì phải đặt cọc hoặc ký quỹ một khoản tiền. Nhưng những doanh
nghiệp như vậy sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi xin vay với các hình thức cho vay khác.
Nói chung, hình thức tài trợ thuê mua chiếm một tỷ lệ cao trong chi phí mua sắm thiết
bị hơn các hình thức tài trợ khác.
- Không hạn bị chế về hạn mức tín dụng:
Tài sản đi thuê được hạch toán ngoại bảng nên không làm tăng số nợ của doanh
nghiệp .Vì vậy không ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doang nghiệp .
- Không bị đọng vốn trong tài sản cố định:
Do không phải bỏ ngay ra một khoản tiền lớn để mua sắm máy móc thiết bị nhưng
doanh nghiệp vẫn có tài sản để sử dụng nên doanh nghiệp không bị đọng vốn trong tài
sản cố định, tập trung được vốn tự có và vốn vay của ngân hàng để đáp ứng những nhu
cầu về vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Thu hút vốn nước ngoài:
Thông qua tín dụng thuê mua, các doanh nghiệp Việt Nam có thể huy động được
vốn nước ngoài thông qua các công ty cho thuê quốc tế hoặc các công ty liên doanh
cho thuê hoạt động ở Việt Nam. Lợi thế chính là hiện nay mức lãi suất ngoại tệ trên thị
trường vốn quốc tế thấp hơn lãi suất vay ở Việt Nam, do đó thông qua thuê máy móc,
thiết bị của các công ty nước ngoài có thể nhận được vốn tài trợ có mức lãi suất thấp
hơn so với lãi suất trên thị trường vốn Việt Nam bằng VND.
- Đơn giản hơn các hình thức tài trợ khác trong khi xem xét uy tín doanh nghiệp
cần được tài trợ và tài trợ một cách nhanh chóng.
Đối với các công ty nhỏ hoặc ít uy tín trên thị trường vốn thì tài trợ cho thuê được
coi như là hình thức duy nhất để có thể sử dụng những thiết bị lớn trong thời gian dài.
- Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị cho thuê có lợi nhuận cao hơn sử dụng vốn
vay thông thường do doanh nghiệp sẽ:
+ Sử dụng được tối đa công suất thiết bị.
+ Tránh được rủi ro mất giá do lạm phát.
+ Giảm được chi phí quản lý và chi phí nghiệp vụ.
+ Luôn được sử dụng các máy móc thiết bị với công nghệ tiên tiến phối hợp với hoạt
động sản xuất kinh doanh, đáp ứng được thời cơ kinh tế.
Bất lợi:
- Chịu chi phí thuê tài sản cao hơn lãi suất vay vốn của các hình thức tài trợ vốn
khác trên cùng một thị trường vốn.
Do công ty cho thuê thu lợi nhuận trên các khoản tiền mà họ vay để tài trợ cho
giao dịch cho thuê cho nên chi phí và thuế thường cao hơn chi phí vay vốn đầu tư mà
doanh nghiệp phải trả.
- Doanh nghiệp không được hưởng khoản tiền chiết khấu như mua tài sản
bằng tiền mặt.
Vào giai đoạn cuối của hợp đồng cho thuê, dù đã trả gần đủ số tiền thuê nhưng
bên thuê vẫn không được quyền sử dụng tài sản vào mục đích khác.
- Nếu tài sản được hoàn trả cho bên cho thuê ở thời điểm kết thúc hợp đồng,
doanh nghiệp không được hưởng giá trị còn lại của tài sản, bởi trong phí thuê đã tính
gộp cả phần tiền trả cho quyền chọn mua.
- Doanh nghiệp không được hưởng những khoản miễn giảm thuế dành cho tài
sản cho thuê, thiết bị dùng vào việc cho thuê thường được miễn giảm thuế nhập khẩu
và bên cho thuê được hưởng khoản lợi này.
Là khách hàng đi thuê thiết bị, tài sản của người cho thuê hay là người nhận sự
tài trợ tín dụng của công ty cho thuê. Người thuê cũng là người có quyền sử dụng,
hưởng dụng những lợi ích mà thiết bị mang lại và có trách nhiệm trả những khoản tiền
thuê theo thoả thuận. Do đó, sự thành công của một giao dịch cho thuê phụ thuộc
nhiều vào năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và đạo đức của người thuê. Liên
quan đến người thuê (và các trung gian trong hoạt động cho thuê) có thể kể tới một số