LUẬN VĂN: Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động cho thuê tại Công ty Cho thuê Tài chính I Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt
động cho thuê tại Công ty Cho thuê Tài chính I -
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về chính trị cũng như về kinh tế. Đặc biệt
trong những năm 90, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, tốc độ tăng
trưởng hàng năm cao duy trì ở mức 8%, tỷ lệ lạm phát được kiềm chế dưới 10%, đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng
4/2001 có ý nghĩa rất to lớn, mở ra một thời kì mới phát triển đất nước trong những thập kỷ
đầu của thế kỷ XXI.
Đường lối kinh tế của Đảng ta trong thời gian tới là: đẩy mạnh Công nghiệp hóa- Hiện
đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp.
Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (2001- 2005) là nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân
hàng năm là 7,5%. Tổng GDP năm 2005 gấp hai lần năm 1995, tăng tỷ trọng nông lâm- ngư
nghiệp là 20- 21%, công nghiệp và xây dựng 38- 39%, các ngành dịch vụ 41- 42%. Về quan
hệ sản xuất, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều

Hình thức tài trợ thông qua cho thuê tài sản đã có lịch sử khá lâu đời và diễn ra trong
hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, thuộc nhiều lĩnh vực trên thế giới. Theo các thư
tịch cổ, các giao dịch cho thuê tài sản đã xuất hiện từ năm 2800 trước Công nguyên tại thành
phố Sumerian. Các thầy tu giữ vai trò người cho thuê, người thuê là những nông dân tự do.
Tài sản được đem ra giao dịch bao gồm: công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa,
đất ruộng
Vào khoảng năm 1700 tr.C.N, vua Babilon là Hamnurabi đã ban hành nhiều văn bản
quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có đưa ra những quy định về hoạt động cho
thuê tài sản.
Trong các nền văn minh cổ đại khác như Hy Lạp- La Mã hay Ai Cập cũng đã xuất
hiện các hình thức cho thuê để tài trợ cho việc sử dụng đất đai, gia súc, công cụ sản xuất. Có
thể nói rằng, rất nhiều vấn đề mà các giao dịch thuê mua ngày nay đã gặp phải đã được giải
quyết từ nhiều thế kỉ trước.

Tuy nhiên, các giao dịch thuê tài sản thời cổ thuộc hình thức thuê mua kiểu truyền
thống (Traditional Lease). Phương thức giao dịch của hình thức này tương tự như phương
thức thuê vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của nó, đã không có
sự thay đổi lớn về tính chất giao dịch.
Đầu thế kỉ XIX, hoạt động thuê mua đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chủng
loại thiết bị, tài sản cho thuê. Đến đầu thập niên 50 của thế kỉ XX, giao dịch thuê mua đã có
những bước phát triển nhảy vọt, nhất là tại Hoa Kì. Nguyên nhân của sự phát triển này là do
sự hoạt động thuê mua đã có những thay đổi về tính chất của giao dịch.
Nhằm đáp ứng những nhu cầu vốn trung dài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuê mua thuần
(Net lease) hay thuê tài chính (Finance lease), thuê tư bản (Capital lease) đã được sáng tạo ra
trước tiên ở Hoa Kì. Đó là sự ra đời của công ty tư nhân United States Leasing Corporation.
Sau đó nghiệp vụ leasing phát triển sang châu Âu và đã được ghi vào luật thuê mua
của Pháp (năm 1960) với tên gọi “credit bail”. Cũng năm 1960 hợp đồng thuê mua đầu tiên
đã được thảo ra ở Anh có trị giá 18000USD
Từ khi xuất hiện hình thức cho thuê tài sản, các hoạt động giao dịch thuê mua đã có
những bước phát triển hết sức mạnh mẽ cả về chủng loại tài sản, thiết bị và khối lượng giao

được chuyển từ người cho thuê sang người thuê.
* Trong khoản tiền thuê mà người thuê trả cho người cho thuê theo định kỳ bao gồm
tiền vốn gốc, tiền lãi tín dụng, phần lợi nhuận hợp lý và các chi phí quản lý khác. Do đó,
giống như hình thức tín dụng Ngân hàng, hoạt động cho thuê tài sản cũng mang tính hoàn trả,
tính thời hạn và lãi suất. Như vậy về thực chất, hoạt động cho thuê tài sản (leasing) là một
hình thức tài trợ nếu xét từ phương diện người cho thuê.
Như vậy, có thể định nghĩa hoạt động cho thuê tài sản dựa vào Nghị định số 16/2001/
NĐ- CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính là “ Cho thuê
tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết
bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên
cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận
chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với
các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời

hạn thuê đã được hai bên thoả thuận”. Có thể nhận rõ hình thức này qua việc so sánh giữa
cho thuê tài sản và thuê mua trả góp thông qua bảng so sánh sau:

Tiêu th
ức

Cho thuê tài
s
ản

Thuê mua tr
ả góp

a
-


thuê khi hợp đồng hết hạn.
Do người thuê thực hiện.
Đảm bảo cho người thuê đổi
mới công nghệ kịp thời.
Thuộc quyền người cho thuê
và có thể được chuyển giao
cho người thuê.
Tổng số tiền thuê.
Bao g
ồm tất cả các loại tài
sản và có thế chấp hoặc
không có thế chấp.
Các pháp nhân và thể nhân.
Có thòi hạn trung bình từ 1
đến 5 năm.
Không được huỷ ngang hợp
đồng.
Chuyển giao cho người thuê
khi kết thúc hợp đồng.
Do người thuê thực hiện.
Tài sản được khấu hao
nhanh và không dễ bị lạc
hậu.
Chuyển giao cho người thuê
vào thời điểm kết thúc hợp
đồng.
Tổng tiền lãi và khấu hao.

Nếu chỉ xem xét về mặt thuật ngữ thôi thì ta thấy rằng đã có rất nhiều vấn đề. Khái
niệm này được chính thức đưa ra đầu tiên trong pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và

+ Phần giá trị còn lại (Residual Value Share): Theo thông lệ, tại thời điểm kết thúc giao dịch
cho thuê người cho thuê thường uỷ quyền cho người thuê làm đại lý bán tài sản. Người thuê
được phép hưởng phần tiền bán tài sản lớn hơn so với giá mà người cho thuê đưa ra, hoặc
được khấu trừ vào tiền thuê hay được coi như một khoản hoa hồng bán hàng.
Khi thời hạn cho thuê căn bản đáo hạn, người thuê có quyền lựa chọn một trong
những hình thức mua lại tài sản với giá trị hợp lý hay giá tượng trưng tuỳ theo sự thoả thuận

đã được dự liệu trước trong hợp đồng – hoặc người thuê cũng có thể tiếp tục thuê tài sản hoặc
nhận làm đại lý bán tài sản đó tuỳ theo sự uỷ quyền của người cho thuê. Phương thức cho
thuê được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1 Phương thức cho thuê
1.2.1. Phân loại các phương thức cho thuê tài sản:
Nhằm so sánh những đặc điểm của các phương thức thuê tài sản với nhau để từ đó
giúp các bên có liên quan dễ dàng phân loại, nhận diện giao dịch thuộc phương thức thuê nào
để áp dụng các quy chế hạch toán, kế toán, hưởng các ưu đãi (nếu có) và quản lý chúng (đối
với các cơ quan Nhà nước) theo những quy chế đã được Nhà nước quy định. Trong hình thức
thuê tài sản có hai phương thức cho thuê vận hành và cho thuê tài chính hay còn gọi là thuê
ngắn hạn và thuê dài hạn. Bởi cho thuê vận hành là hình thức cho thuê kiểu truyền thống, có



mu
a

n

i
Quyền
sở
hữu
pháp

đối
v
ới
Tr

ti
ền
mu
a

Giao
tài
sản
Bảo
trì

phụ


7
8 9 10
Quy
ền sở hữuThời hạn thuê

Quyền huỷ ngang
hợp đồng
Rủi ro

Chi phí bảo trì, dịch
vụ và mua bảo hiểm

Ưu đãi về thuế

Bồi thường bảo
hiểm
Cung ứng tài sản


Toàn bộ tiền thu được do bán
tài sản thuê thuộc quyền sử
dụng của người cho thuê.
Máy photocopy, máy vi tính, xe
ôtô, đồ đạc trong nhà, văn
phòng….
Như thuê v
ận hànhThường dài hơn một nửa cho
tới bằng đời sống hữu ích của
tài sản.
Không được quyền huỷ ngang
hợp đồng
Người thuê chịu mọi rủi ro thiệt
hại.
Người thuê chịu mọi chi phí
vận hành, bảo trì, dịch vụ, phí
bảo hiểm.
Tương tự như thuê vận hành.

Người cho thuê hưởng
Tài sản cho thuê thường do
người thuê đặt hàng, giao nhận
và sử dụng.

Tất cả mọi giao dịch thuê tài sản nếu thoả mãn một trong bốn tiêu chuẩn này đều thuộc
phương thức thuê tài chính. Những giao dịch còn lại thuộc thuê vận hành.

Sơ đồ 1.2 tóm tắt quy trình phân loại này
Tài
Quyền sở hữu
được chuyển
giao khi th
ời
Hợp đồng thuê có
quy định quyền
ch
ọn mua theo



Không


Ngư
ời cho thuê

Ngư
ời thuê

1
-

S
ử dụng các máy móc,thi
ết bị của chính
họ để cho thuê.
2- Đảm nhiệm toàn bộ vốn tài trợ. 3- Cung cấp các phụ tùng và dịch vụ bảo trì
cùng với thiết bị theo hợp đồng phụ.
4- Nhận các khoản tiền thuê và những hoản
tiền dịch vụ theo hợp đồng phụ.
5- Nhận lại tài sản đã lỗi thời và cung cấp
thiết bị thay thế.
1
-

Các lo
ại dịch vụ bảo trì và
phụ tùng
Tr
ả tiền thuê và dịch vụ
phụ tùng

Bán lại các thiết

Người
thuê

Hay

Người
tiêu

thụ

nhánh của họ (dealers) thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hàng thì hình thành sự liên kết
theo chiều dọc ( Trust leases)
Các bước và đặc điểm trong giao dịch với người thuê của loại hợp đồng này không có
khác biệt lớn so với hình thức cho thuê thuần tuý hay điển hình.
Ngư
ời cho thuê

Ngư
ời thuê

1/ Có th


Sơ đồ 1.4 – Thoả thuận thuê mua bắc cầu.

Người cho vay
(Lender)
Tiề
n
trả
n


Tiề
n
cho
vay
Ngư
ời cho vay


thuê.

2/ Ngoài ra không có
sự khác biệt so với
hình thức thuê mua
thuần. Loại hình cho thuê này thường được sử dụng trong các giao dịch thuê mua đòi hỏi một
lượng vốn đủ lớn, chẳng hạn thuê một máy bay thương mại hoặc là một tàu trở hàng hoặc là
một tổ hợp chuyên ngành lớn.
1.2.2.4. Hợp đồng bán và cho thuê lại:
Bán và cho thuê lại là một thoả thuận tài trợ tiêu _ong mà bên A (người thuê) bán một tài
sản của chính họ cho bên B (người cho thuê). Đồng thời, ngay lúc đó một hợp đồng thuê mua
được thảo ra với nội dung bên B đồng ý cho bên A thuê lại chính tài sản mà họ vừa
bán.Trường hợp này xuất hiện khi các doanh nghiệp- nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ-
gặp rất nhiều khó khăn về vốn lưu động. Mà vay vốn sẽ gặp nhiều thủ tục, điều kiện đăng ký
khắt khe mà các doanh nghiệp này khó có thể thoả mãn. Đồng thời, trong trường hợp doanh

nghiệp có nhu cầu phải duy trì năng lực sản xuất nên không thể bán bớt tài sản cố định để
chuyển thành tài sản lưu động. Do đó, hình thức bán và tái thuê có thể đáp ứng được nhu cầu
này.
Sơ đồ 1.5. Thỏa thuận bán và tái thuê.


lý.
2- Nhận được tiền theo giá tại thời điểm
thỏa thuận bán tài sản.
3- Thuê lại tài sản vừa bán cho người cho
thuê - Giữ lại quyền sử dụng tài sản.
4- Trả tiền thuê cho người cho thuê và thực
hiện các điều kiện tuỳ theo phương thức
cho thuê

Công ty leasing

Người mua
Người cho thuê
Tho
ả thuân mua bán tài sản

Quyền sở hữu pháp lý
Tiền mua tài sản

Quy
ền sử dụng tài sản

Ch
ủ sở hữu

thuê thứ nhất cho người thuê thứ hai thuê lại tài sản mà người thuê thứ nhất đã thuê từ người
cho thuê.
Hình thức thoả thuận cho thuê này thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng hoàn
trả toàn bộ được ký kết giữa người cho thuê với người thứ nhất. Loại hợp đồng này là loại
thoả thuận không thể huỷ ngang . Nhưng do người cho thuê thứ nhất sau khi thực hiện được
một phần của hợp đồng không còn nhu cầu nữa hay vì một lý do nào đó nên phải tìm người
thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng. Bởi nếu không còn cho thuê tiếp được thì dù không sử
dụng tài sản vẫn phải trả tiền thuê.

Sơ đồ 1.6. Thoả thuận thuê mua giáp lưng
Người
cho
thuê
(Less
or)

Quyền sử
dụng tài
Ti
ền
Người
thuê
thứ
nhất
Lessee
Quy
ền sử

nghĩa vụ khác như
trong thoả thuận thuê
mua thuần.
1
-

Thuê tài s
ản từ ng
ư
ời cho
thuê.
2- Cho người thuê thứ hai thuê
lại tài sản.
3- Không chịu trách nhiệm trực
tiếp đối với các rủi ro, thiệt
hại đối với tài sản.
4- Nhận tiền thuê từ người thuê
thứ hai và trả tiền thuê cho
người cho thuê.
1
-

Thuê tài s
ản từ ng
ư
ời thuê
thứ nhất.
2- Trả tiền thuê cho người
thuê thứ nhất.
3- Các nghĩa vụ và quyền lợi

nên áp dụng cho hoạt động này. Sự liên quan của các luật thuế đối với việc thúc đẩy nghiệp
vụ cho thuê là ở chỗ: Liệu các luật này có phải là giải pháp trung hoà lợi ích giữa người chủ
sở hữu và người sử dụng thiết bị cho thuê hay không , tức là pháp luật có công nhận rằng
lợi ích kinh tế các thiết bị cho thuê cũng giống như lợi ích kinh tế có được của cùng thiết bị
ấy nếu được mua đứt bán đoạn và do vậy phải được hưởng các khuyến khích bình đẳng
như nhau hay không .
1.3.2.2. Pháp luật về bên cho thuê:
Sau khi xem xét các cơ sở pháp lý nêu trên thì còn cần phải xem xét nhiều vấn đề liên
quan tới các qui chế chi phối người cho thuê và nghĩa vụ cho thuê, kể cả việc các công ty cho
thuê có cần được Chính phủ cấp giấy phép và thanh tra đặc biệt không? Các vấn đề khác về
mặt quy chế có thể là : Nguồn vốn và thời hạn vốn, yêu cầu về khả năng trả nợ, khả năng
thanh toán, các quy định về thiết bị đủ tiêu chuẩn cho thuê và yêu cầu về kế toán.
1.3.2.3. Pháp luật về hợp đồng kinh tế và sở hữu tài sản:
Cần phải định nghĩa rõ ràng về bản chất của giao dịch cho thuê để bảo vệ lợi ích hợp
pháp của người thuê và người cho thuê (đồng thời cũng buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ).
Đưa ra các phương thức cho thuê cần thiết , bởi có nhiều loại giao dịch cho thuê khác nhau,
bao gồm từ loại mua đứt bán đoạn thiết bị với điều kiện là người mua hoàn thành các nghĩa
vụ cụ thể (chủ yếu là thanh toán từng đợt theo thoả thuận) đến loại nghiệp vụ thuê tài sản mà
trong đó người thuê tạm thời sử dụng tài sản nào đó nhưng không có ý định sẽ sở hữu nó sau
này.

Nếu không phân biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ cho thuê với các giao dịch thương mại
hoặc tài chính khác thì hoạt động cho thuê sẽ phải tuân thủ các điều khoản bất lợi trong các
luật khác. Đồng thời các thủ tục pháp lý về chuyển nhượng tài sản và thoả thuận hợp đồng
nên để ở mức tối thiểu cần thiết để thực hiện giao dịch này.
1.3.2.4. Pháp luật về thuế:
Luật thuế của một nước phải có các điều khoản cụ thể về nghĩa vụ thuế và ưu đãi thuế
đối với các bên liên quan đến giao dịch cho thuê, kể cả phần khấu hao . Điều này cho phép
bên thuê có thể đánh giá chi phí thuê so với các chi phí tài trợ thiết bị khác (như vay vốn ngân
hàng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu ). Về phía người cho thuê chi phí của họ phải được ưu

bị vi phạm. Do vậy, doanh nghiệp thường không cần phải đặt tiền gửi hoặc thanh toán trước
đối với tài sản đi thuê. Tuy nhiên, trong những trường hợp có mức độ rủi ro cao thì phải đặt
cọc hoặc ký quỹ một khoản tiền. Nhưng những doanh nghiệp như vậy sẽ gặp nhiều khó khăn
hơn khi xin vay với các hình thức cho vay khác. Nói chung, hình thức tài trợ thuê mua chiếm
một tỷ lệ cao trong chi phí mua sắm thiết bị hơn các hình thức tài trợ khác.
- Không hạn bị chế về hạn mức tín dụng:
Tài sản đi thuê được hạch toán ngoại bảng nên không làm tăng số nợ của doanh nghiệp
.Vì vậy không ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doang nghiệp .
- Không bị đọng vốn trong tài sản cố định:
Do không phải bỏ ngay ra một khoản tiền lớn để mua sắm máy móc thiết bị nhưng doanh
nghiệp vẫn có tài sản để sử dụng nên doanh nghiệp không bị đọng vốn trong tài sản cố định,
tập trung được vốn tự có và vốn vay của ngân hàng để đáp ứng những nhu cầu về vốn lưu
động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Thu hút vốn nước ngoài:
Thông qua tín dụng thuê mua, các doanh nghiệp Việt Nam có thể huy động được vốn
nước ngoài thông qua các công ty cho thuê quốc tế hoặc các công ty liên doanh cho thuê
hoạt động ở Việt Nam. Lợi thế chính là hiện nay mức lãi suất ngoại tệ trên thị trường vốn
quốc tế thấp hơn lãi suất vay ở Việt Nam, do đó thông qua thuê máy móc, thiết bị của các
công ty nước ngoài có thể nhận được vốn tài trợ có mức lãi suất thấp hơn so với lãi suất trên
thị trường vốn Việt Nam bằng VND.
- Đơn giản hơn các hình thức tài trợ khác trong khi xem xét uy tín doanh nghiệp cần
được tài trợ và tài trợ một cách nhanh chóng.

Đối với các công ty nhỏ hoặc ít uy tín trên thị trường vốn thì tài trợ cho thuê được coi
như là hình thức duy nhất để có thể sử dụng những thiết bị lớn trong thời gian dài. Do quyền
sở hữu pháp lý thuộc về người cho thuê nên các công ty cho thuê có thể chấp nhận những
người đi thuê không có uy tín lớn, hơn nữa các công ty nhỏ có thể không có mối quan hệ gần
gũi với ngân hàng và các ngân hàng có thể lưỡng lự khi cho các công ty này vay các khoản
vay có kỳ hạn.
- Cho phép người thuê hoãn thuế

sản xuất kinh doanh, đáp ứng được thời cơ kinh tế.
Bất lợi:
- Chịu chi phí thuê tài sản cao hơn lãi suất vay vốn của các hình thức tài trợ vốn khác
trên cùng một thị trường vốn.
Do công ty cho thuê thu lợi nhuận trên các khoản tiền mà họ vay để tài trợ cho giao
dịch cho thuê cho nên chi phí và thuế thường cao hơn chi phí vay vốn đầu tư mà doanh
nghiệp phải trả.
- Doanh nghiệp không được hưởng khoản tiền chiết khấu như mua tài sản
bằng tiền mặt.
Vào giai đoạn cuối của hợp đồng cho thuê, dù đã trả gần đủ số tiền thuê nhưng bên
thuê vẫn không được quyền sử dụng tài sản vào mục đích khác.
- Nếu tài sản được hoàn trả cho bên cho thuê ở thời điểm kết thúc hợp đồng, doanh
nghiệp không được hưởng giá trị còn lại của tài sản, bởi trong phí thuê đã tính gộp cả phần
tiền trả cho quyền chọn mua.
- Doanh nghiệp không được hưởng những khoản miễn giảm thuế dành cho tài sản cho
thuê, thiết bị dùng vào việc cho thuê thường được miễn giảm thuế nhập khẩu và bên cho
thuê được hưởng khoản lợi này.
Là khách hàng đi thuê thiết bị, tài sản của người cho thuê hay là người nhận sự tài trợ
tín dụng của công ty cho thuê. Người thuê cũng là người có quyền sử dụng, hưởng dụng
những lợi ích mà thiết bị mang lại và có trách nhiệm trả những khoản tiền thuê theo thoả
thuận. Do đó, sự thành công của một giao dịch cho thuê phụ thuộc nhiều vào năng lực hoạt
động sản xuất kinh doanh và đạo đức của người thuê. Liên quan đến người thuê (và các
trung gian trong hoạt động cho thuê) có thể kể tới một số rủi ro sau đây:

- Người thuê không đủ khả năng thanh toán tiền thuê do tình hình tài chính quá khó
khăn (do năng lực quản trị kém, nguồn nguyên liệu bị biến động hoặc nhu cầu thị trường
biến động quá nhanh, ngành kinh doanh hoặc sản phẩm đang bị suy thoái).
- Rủi ro do sự lừa đảo có chủ ý: Nhằm chiếm dụng vốn tài trợ thông qua các hình thức
như :
+ Hoá đơn khống : Kẻ lừa đảo dùng một hoá đơn xuất hàng khống để lừa đảo nhà tài trợ

Tài trợ qua nghiệp vụ cho thuê đảm bảo việc sử dụng vốn đúng đắn và hiệu quả do
người thuê tự chọn tài sản cần thuê để phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh của mình.
Mặt khác, người đi thuê trả tiền thuê bằng hiệu quả thu được từ việc sử dụng tài sản thuê.
Người cho thuê có nhiều khả năng thu hòi được khoản chênh lệch khi hết thời hạn hợp đồng
mà người đi thuê trả lại máy móc, thiết bị. Bởi vì, thông thường thì thiết bị thu về có giá trị
tái đầu tư cao hơn giá trị còn lại của thiết bị đã dự tính từ đầu.
Phương thức cho thuê giúp người cho thuê linh hoạt trong kinh doanh: Trong thời gian
tài trợ, vốn của người cho thuê bỏ ra để mua máy móc thiết bị cho thuê sẽ được thu hồi dần,
cho phép người cho thuê có thể sử dụng nguồn vốn này để tái đầu tư vào các hoạt động kinh
doanh sinh lợi và giữ vững nhịp độ hoạt động của mình.
- Hồ sơ, thủ tục cho thuê đơn giản hơn nhiều so với hồ sơ xin vay vốn ngân hàng hoặc
những thoả thuận tăng vốn cho doanh nghiệp .
Bất lợi:
Trong hoạt động cho thuê người cho thuê cũng có thể gặp phải một số rủi ro về:
- Rủi ro về tài chính: Loại rủi ro này thường xuất phát từ những nguyên nhân như:
+ Bên thuê không trả tiền thuê khi đến hạn.
+ Tiền thuê nhận được không đủ bù đắp vốn gốc.
- Rủi ro liên quan đến tài sản cho thuê:
+ Tài sản cho thuê được thu hồi về không thể cho thuê tiếp hoặc không bán được chúng.
+ Tài sản do nhà cung ứng giao cho bên thuê không đúng theo hợp đồng, tài sản không
được phép kinh doanh.
+ Rủi ro do sự lừa đảo có chủ ý.
- Rủi ro khách quan:
+ Rủi ro do môi trường kinh doanh đem lại : Do tình hình biến động xấu của nền kinh tế
dẫn tới đình trệ sản xuất và làm giảm nhu cầu thuê thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất.

+ Rủi ro do thay đổi tỷ giá: Loại rủi ro này thường xảy ra theo hướng bất lợi cho người
cho thuê đối với loại thiết bị nhập khẩu hay
+ Rủi ro do biến động lãi suất: Do sự biến động lãi suất trên thị trường vốn dẫn tới sự
chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất tài trợ, gây bất lợi cho người cho thuê.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status