Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
********** BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI :
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở
AN GIANG
1.4- PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 2
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 3
2.1-VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA HTXNN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 3
VÀ TỈNH AN GIANG.
2.1.1-Vị trí và vai trò của HTXNN trong Nhà nước về kinh tế quốc dân 3
2.1.2- Vị trí và vai trò của HTXNN đối với tỉnh An giang. 4
2.2- NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HTXNN: 5
2.2.1- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX 5
2.2.2-Đặc điểm - quyền và nghĩa vụ của HTX: 5
2.2.2.1- Các đặc điểm về hình thức: 5
2.2.2.2- Các đặc điểm về tài sản và tài chính: 6
2.2.2.3- Quyền của HTX: 6
2.2.2.4- Nghĩa vụ của HTX 7
2.3-TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HTXNN VIỆT NAM VÀ TỈNH AN GIANG 7
2.3.1-Tình hình phát triển HTXNN Việt nam. 7
2.3.2-Tình hình phát triển HTXNN ở An giang . 8
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM – TIỀM NĂNG –
THỰC TRẠNG HTXNN Ở AN GIANG 11
3.1-ĐẶC ĐIỂM 11
3.2-TIỀM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỰ
PHÁT TRIỂN HTXNN . 12
3.2.1-Tiềm năng thiên nhiên. 12
3.2.1.1-Vị trí địa lý: 12
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
3
4.3.2- BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: 31
4.3.3- TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 32
CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 35
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
4BẢNG BIỂU - SƠ ĐỒ Trang
* BẢNG BIỂU:
1-
Bảng 2.1- Tổng diện tích đất sử dụng ( Ha ) 12
2- Bảng 2.2- Số học sinh phổ thông giữa năm học 2001 - 2002, 2002 - 2003. 15
3- Bảng 2.3- Trình độ văn hoá - chuyên môn của cán bộ HTXNN 19
4- Bảng 2.4- Tình hình về lợi nhuận của HTXNN ở năm thành lập
và năm 2001 20
Luật HTX được Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 và có hiệu lực thi hành
kể từ 01/01/1997 sẽ tạo cơ sở pháp lý cho HTX hoạt động bình đẳng với các loại
hình doanh nghiệp khác trước cũng khẳng định rõ đường lối, quan điểm của Đảng,
nhà nước ta: Coi Hợp tác xã là một thành phần kinh tế quan trọng để cùng với kinh
tế Nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, tạo ra động lực mới
thu hút đông đảo quần chúng lao động tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế của đất nước. An giang là tỉnh phát triển mạnh về nông nghiệp; đặc biệt là cây lúa nước.
Trong đó HTX Nông nghiệp là tổ chức tập thể đóng vai trò rất quan trọng trong
phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Đề tài: “ Thực trạng và giải pháp về
Hợp tác xã nông nghiệp ở An giang ”
rất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh, cụ thể bằng chương trình hành động số 02/CT.TU ngày 27/7/1996
của tỉnh Uỷ về phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế và
Chỉ thị số 25/1998/CT.UB ngày 01/7/1998 của UBND tỉnh về tập trung đẩy mạnh
phát triển HTXNN gắn với công tác xoá đói giảm nghèo.
Hiện nay hoạt động HTXNN ở An giang rất nhiều bất cập, một số HTX
thành công; tuy nhiên có một số HTX hoạt động chưa theo quy mô nền kinh tế hội
nhập. Ở địa phương còn một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết như vấn đề chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề việc làm, vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà nước trong
nông nghiệp và HTX, một số cơ chế quản lý chưa đủ khuyến khích như nguồn lực
chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
8CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Sau khi có Luật Hợp tác xã được Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 có hiệu lực
thi hành kể từ 01/01/1997 sẽ tạo cơ sở pháp lý cho HTX hoạt động bình đẳng với các loại
hình doanh nghiệp khác trước pháp luật. Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương , chính
sách để khuyến khích phát triển HTX; Ban bí thư Trung ương Đảng đã có chỉ thị
68/CT.TW ngày 24/5/1996 về phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực
kinh tế. Tỉnh uỷ An giang có chương trình hành động số 02/CTr-TU ngày 27/7/1996 thực
hiện chỉ thị 68 của Ban bí thư Trung ương và uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị
25/1998/CT-UB ngày 01/7/1998 về tập trung đẩy mạnh phát triển NTXNN gắn liền với
công tác xoá đói giảm nghèo.
Hiện nay các HTXNN kiểu cũ đang đòi hỏi phải giải quyết cấp bách các vấn đề đặt
ra để chuyển đổi thành HTXNN kiểu mới theo Luật hay giải thể, chuyển sang các tổ chức
kinh tế hợp tác của nông dân theo Luật dân sự, còn những tổ chức kinh tế hợp tác của
nông dân đã hình thành và phát triển tốt, lại muốn phát triển thành HTXNN kiểu mới.
Luật HTX cũng khẳng định rõ đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta: Coi HTX là
một thành phần kinh tế quan trọng để cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng
của nền kinh tế quốc dân, tạo ra động lực mới thu hút đông đảo quần chúng lao động tích
cực tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Từ những lý do trên tác
giả quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển Hợp tác xã nông nghiệp ở
An giang”.
mạnh của phong trào HTX của tỉnh An giang.
- Đề xuất những biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của các HTX NN An giang để
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới.
1. 3- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Khảo sát thực tế khoảng 50 HTXNN của tỉnh ( loại tốt, khá, trung bình, yếu ) về tổ
chức - hoạt động.
- Tại mỗi HTXNNchúng tôi sẽ thu thập thông tin, số liệu hiện có và phỏng vấn bổ
sung Ban chủ nhiệm và ít nhất 5 xã viên HTX.
- Tổ chức tham khảo tài liệu và phân tích số liệu HTXNN từ các cơ quan như Sở
Nông nghiệp & phát triển nông thôn, Liên minh Hợp xã tỉnh An giang; đồng thời
tranh thủ sự đóng góp ý kiến của các cơ quan nầy trong việc thực hiện đề tài.
- Nghiên cứu Chủ trương, chính sách phát triển HTXNN, Luật Hợp tác xã.
1.4- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do trình độ khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn; nên đề tài chỉ giới hạn
tập trung nghiên một số nội dung như sau:
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
10- Nghiên cứu xác định hiện trạng một số loại hình HTXNN hiện có ở An giang. Chia
ra thành nhóm HTX: Tốt, khá, trung bình, yếu. Trao đổi nắm thông tin số liệu từ
lãnh đạo đến xã viên HTX về tổ chức, thực hiện quản lý HTX.
kinh doanh của HTX mà cải thiện đời sống của xã viên và góp phần phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước.
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
11
Hợp tác xã nông nghiệp có vị trí rất quan trọng trong việc làm tăng năng lực cạnh
tranh của các sản phẩm nông nghiệp, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
cơ cấu kinh tế nói chung, góp phần thực hiện công bằng xã hội ở nông thôn.
Vai trò của Hợp tác xã được chuyển từ tổ chức quản lý tập trung toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh sang tổ chức các hoạt động đa dạng, làm dịch vụ yểm trợ
cho xã viên hay tổ chức sản xuất tập trung, nếu xã viên nhất trí và thấy có hiệu quả.
Hợp tác xã giúp khắc phục được khuyết tật của kinh tế thị trường như sản xuất cá thể
nhỏ bé, phân tán, sự cạnh tranh và chèn ép của các doanh nghiệp lớn đối với kinh tế
hộ, giúp thực hiện “xoá đói giảm nghèo”, phát huy sức mạnh của từng xã viên và sức
mạnh tập thể, để góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
- “ HTXNN kiểu cũ dựa trên cơ sở tập thể hoá quyền sở hữu ruộng đất và các tư liệu
sản xuất khác của các nông hộ và do đó xoá bỏ tư cách chủ thể kinh doanh của mỗi
nông hộ, biến người lao động trong mỗi nông hộ trở thành người lao động bộ phận
của một đơn vị tổ chức lao động hợp tác duy nhất là HTXNN, giống như một xí
nghiệp công nghiệp, thậm chí còn biến mỗi xã viên thành người lao động làm thuê
cho HTX ”. ( Trích từ Luật HTX ).
- “ HTX NN kiểu mới, theo Luật HTX, dựa trên cơ sở quyền tự chủ kinh doanh của
Xã viên có quyền ra HTX theo quy định của điều lệ HTX.
- Quản lý dân chủ và bình đẳng: Xã viên HTX có quyền tham gia quản lý, kiểm tra,
giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết.
- Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm HTX
và xã viên cùng có lợi.
- Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên và sự phát triển của HTX: Sau khi làm
xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần
chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên
theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX do Đại hội xã viên quyết định.
- Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải phát huy tinh thần tập thể, nâng cao
ý thức hợp tác trong HTX và trong cộng đồng xã hội, hợp tác giữa các HTX với
nhau ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
2.2.2-Đặc điểm - quyền và nghĩa vụ của HTX:
2.2.2.1- Các đặc điểm về hình thức:
+ Hợp tác xã: là một loại hình doanh nghiệp bình đẳng như các thành phần
kinh tế khác: do các xã viên cùng góp vốn và góp sức, có chức năng kinh doanh
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
13và chức năng xã hội; hoạt động đa ngành theo điều lệ phù hợp với đặc điểm của
từng loại hình theo điều lệ mẫu do chính phủ ban hành.
- Thuê lao động trong trường hợp xã viên không đáp ứng được yêu cầu sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ của HTX theo quy định của pháp luật.
- Quyết định việc phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ của HTX.
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
14 - Quyết định khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc, thi hành kỷ luật
những xã viên vi phạm điều lệ HTX, buộc xã viên bồi thường thiệt hại do xã viên gây
ra cho HTX.
- Vay vốn ngân hàng và huy động các nguồn vốn khác, cho xã viên vay vốn theo
quy định của pháp luật.
- HTX còn các quyền khác có liên quan theo quy định pháp luật.
2.2.2.4- Nghĩa vụ của HTX:
- Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đúng ngành, nghề, mặt bằng đã đăng ký.
- Thực hiện đúng chế độ kế toán, thống kê do nhà nước quy định và chấp hành chế
độ kiểm tra của nhà nước.
- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
- Bảo toàn và phát triển vốn hoạt động của HTX.
- Chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ khác bằng toàn bộ vốn và
tài sản thuộc sở hữu của HTX.
- Chăm sóc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cung cấp thông tin, để
mọi xã viên tích cực tham gia xây dựng HTX.
2.3-TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HTXNN VIỆT NAM VÀ TỈNH AN GIANG
2.3.1-Tình hình phát triển HTXNN Việt nam.
Hợp tác xã ở nước ta được hình thành và phát triển từ những năm 50 đã
9.000 chiếm 80%. Các HTX NN cơ bản đã chuyển đổi theo Luật HTX, nhưng số
lượng HTX làm ăn có lãi chỉ đạt tỷ lệ 30 – 40 %, còn lại 60% - 70% là trung bình
và yếu. Điểm yếu của HTX nông nghiệp của nước ta là vẫn nặng về tổ chức sản
xuất. Trong khi đó, HTXNN muốn có hiệu quả, phải hướng vào dịch vụ nông
nghiệp. Cái quan trọng nhất là người nông dân, cũng như chủ trang trại cần là khâu
tổ chức, chế biến và tiêu thụ nông sản. Mà muốn vậy, đòi hỏi người điều hành
HTX phải là người có trình độ và kiến thức về quản trị ”. (Trích từ báo Sài gòn giải
phóng ngày 15/6/2003, trang số 7. Làm rõ hơn bản chất của HTX để hoạt động có
hiệu quả hơn )
2.3.2-Tình hình phát triển HTXNN ở An giang .
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tỉnh An giang cụ thể hóa đường lối
“ Đổi mới” trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, ra sức giải phóng năng lực sản xuất,
khắc phục hậu quả của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, hợp tác hoá, tập thể hoá tư
liệu sản xuất theo cơ chế cũ, tạo ra một bước đột phá trong phát triển kinh tế địa
phương, trước hết là trên lĩnh vực nông nghiệp. Trên cơ sở xác định kinh tế hộ là
đơn vị kinh tế cơ sở, từ năm 1987 – 1988 tỉnh đã thực hiện giao quyền sử dụng
ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân và có chủ trương cho các tập đoàn sản xuất
chuyển sang làm dịch vụ. Do vấn đề đặt ra quá mới, hầu hết các HTXNN kiểu cũ,
tập đoàn sản xuất đã có không thích ứng được và tan rã. Tương tự như lĩnh vực
nông nghiệp, hầu hết các HTX mua - bán, HTX tín dụng đều giải thể do không
thích ứng với cơ chế mới.
Khi kinh tế hộ phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, nhu cầu hợp
tác sản xuất và cung ứng dịch vụ để giảm giá thành sản xuất cho hộ nông dân được
đặt ra ngày càng bức bách. Trên cơ sở đó, ngày 21/11/1991 UBND tỉnh đã ra chỉ thị
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
16
Sau khi triển khai đề án phát triển HTX của UBND tỉnh ngày 18/9/2001 các
HTXN mới thành lập có chất lượng và tính bền vững cao hơn do công tác vận
động tốt, tính chất tự nguyện cao của nông dân khi tham gia vào HTX được nâng
lên, các HTX mới thành lập gần như 100% xã viên đều có đất, vốn điều lệ khi mới
thành lập đạt tỷ lệ khá cao trên 81%.
+ Về tốc độ phát triển HTX 06 tháng đầu năm 2002 là 12 HTX, tăng gấp 6
lần so với năm 2000 ( Năm 2000 chỉ thành lập 02 HTX mới ). Trong 12 HTXNN
Thực trạng và Giải pháp phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
17mới thành lập ở các huyện như: Châu phú: 07, Phú tân: 03, Tri tôn: 01, Tân châu:
01.
+ Đến cuối tháng 6/2002 tổng số HTX trong toàn tỉnh: 108 HTX ( trong
đó: 102 HTX NN, 05 HTX thuỷ sản, 01 HTX chăn nuôi) với 8.059 xã viên, 99.372
cổ phần ( mệnh giá cổ phần thấp nhất là 20.000 đồng và cao nhất là 500.000 đồng
), tổng vốn điều lệ huy động thực tế 10,2 tỷ đồng ( đạt 79,70% ) tổng diện tích sản
xuất 31.514 ha.
Trong 102 HTXNN nêu trên được phân bổ ở các Huyện - Thị - Tp như sau:
TP Long xuyên: 04, TX Châu đốc: 2, Chợ mới: 27, Phú tân: 18, Thoại sơn: 13, Tân
châu: 13, Châu phú: 12, Châu thành: 04, Tri tôn: 03, Tịnh biên: 05, An phú:1.
Trong 05 HTX Thuỷ sản ( Chợ mới: 01, Phú tân:01, Châu thành: 01, Long
xuyên: 01, An phú; 01).
Có 01 HTX chăn nuôi ở Xã An cư - Tịnh biên.
+ Đến tháng 7 năm 2003 toàn tỉnh có 120 HTX ( trong đó có 112 HTX
- Các HTXNN chỉ thực hiện chức năng chủ yếu của mình là làm dịch vụ cho sản
xuất của các hộ gia đình, tạo điều kiện cho các hộ gia đình nông dân sản xuất tốt
nhất. Còn việc sản xuất nông nghiệp là do từng gia đình sản xuất trên đất đai của
mình, HTXNN không trực tiếp can thiệp.
- Đa số HTX NN chọn bơm tưới, tiêu làm dịch vụ đột phá và hoạt động khá hiệu
quả, có lãi để tích luỹ và chia lãi cổ phần cho xã viên cao hơn lãi suất tiền gởi ngân
hàng. Có một HTXNN mở ra được các dịch vụ khác như kéo lúa, suốt, làm đất, sấy
lúa, cung ứng thức ăn gia súc…. Các HTX thuỷ sản làm dịch vụ cung ứng thức ăn,
con giống và làm đầu mối quan hệ tiêu thụ sản phẩm với giá có lợi cho xã viên….
Nhìn chung, các dịch vụ sản xuất nông nghiệp do HTX thực hiện đều làm hạ được
chi phí sản xuất cho nông dân so với tư nhân đảm nhận trước đây.
- Mục đích của HTX chủ yếu là phục vụ sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình
xã viên chứ không phải kinh doanh kiếm lãi.
- Các HTX NN còn tạo việc làm thường xuyên cho hơn một ngàn lao động nghèo có
tiền công bình quân từ 300 – 400 ngàn đồng/tháng. Thu nhập từ các việc làm dịch
vụ trong HTX đã góp phần giúp hộ nghèo ổn định cuộc sống, từng bước vượt lên
thoát nghèo.
- Mục đích người góp vốn cổ phần vào HTXNN chủ yếu là để tăng sức mạnh, tổ
chức được những dịch vụ tốt hơn để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của từng
hộ. Lợi ích chủ yếu để lôi kéo nông dân vào HTX chính là lợi ích được hưởng dịch
vụ chứ không phải là góp cổ phần vào HTXNN để được chia lãi theo cổ phần.
- Phần lớn cán bộ quản lý có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo về chuyên
môn, nghiệp vụ. Do đó, việc quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh còn lúng túng,
nhất là trong công tác thị trường.