Thực trạng và định hướng và giải pháp phát triển làng nghề Sóc Sơn - Pdf 81

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng danh mục các chữ viết tắt:
Viết tắt Chữ viết tắt
CNH Công nghiệp hoá
HĐH Hiện đại hoá
NN Nông nghiệp
CN Công nghiệp
DV Dịch vụ
XD Xây dựng
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
LNTT Làng nghề truyền thống
TCTT Thủ công truyền thống
KT-XH Kinh tế-xã hội
KH-KT&PTNT Kế hoạch-kinh tế và phát triển nông thôn
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở đầu
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, biểu hiện cụ thể đó là tốc độ tăng GDP liên tục tăng trong giai
đoạn 2001-2005 với tốc độ cao, trung bình là 7.5%. Và cơ cấu kinh tế Việt
Nam cũng chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tỷ trọng NN-LN-TS giảm từ
38.7% năm 1990 xuống còn 20.9% năm 2005; tỷ trọng ngành CN-XD tăng
mạnh từ 22.7% năm 1990 lên 41.0% năm 2005; tỷ trọng ngành DV năm 2005
đạt 38.1%. Tuy vậy, nhìn một cách tổng quát thì cơ cấu ngành kinh tế Việt
Nam năm 2005 cũng chỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của những nước
trong khu vực Đông Nam Á vào những năm 80 của thế kỷ trước, và hiện vẫn
lạc hậu hơn cơ cấu ngành kinh tế năm 2003 của những nước này. Bởi Vậy

nhằm mục đích bán ra thị trường để thu lời. Trong làng nghề, công nông
nghiệp kết hợp với nhau, vừa làm nông nghiệp, vừa làm nghề hoặc làm nghề
nhưng “ly nông bất ly hương”.
Nói đến làng nghề ta thường nghĩ ngay đến những làng làm nghề thủ
công truyền thống như làng nghề lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng
tranh Đông Hồ. Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ
giản đơn với con mắt và bộ óc của nghệ nhân và thợ kỹ thuật. Đối với mỗi
nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu
tố sau:
Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là
một nghề mới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi
cũ truyền đạt lại kinh nghiệm và kỹ sảo kinh nghiệm.
Hai là, sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
Ba là, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
Bốn là, kỹ thuật sản xuất tinh vi, chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm từ đời
sang đời khác và công nghệ khá ổn định.
Năm là, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ
yếu nhất. Nhìn chung nghề truyền thống được hình thành gắn liền với điều
kiện tự nhiên của vùng (đất đai, khí hậu, môi trường…) và như vậy nó gắn bó
với vùng nguyên liệu có tình đặc thù cho sản xuất.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sáu là, sản phẩm sản xuất ra mang tính chất độc đáo vừa là hàng hoá,
vừa là sản phẩm văn hoá văn nghệ kỹ thuật mỹ thuật mang bản sắc văn hoá
dân tộc, có giá trị chất lượng cao và có vị trí cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế.
Bảy là, là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng,
có đóng góp đáng kể về kinh tế và ngân sách nhà nước, đồng thời nó còn sử
dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn và lao dộng thành thị.
Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công, ở

tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận.
Thứ tư, làng nghề thường ở các làng quê gắn liền với sản xuất nông
nghiệp nông thôn nên nguồn vốn trong dân không nhiều. Hơn nữa, hệ thống
tín dụng ở các vùng này hầu như chưa phát triển nên vốn đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, hiện đại hoá trang thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị trường,
tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế.
Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính
nghệ thuật cao. Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt
mà có tính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao. Các sản phẩm của
làng nghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị
văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
1.1.2. Phân loại làng nghề.
Có rất nhiều tiêu chí có thể được sử dụng để phân loại làng nghề. Căn
cứ vào thời gian tồn tại và phát triển có thể chia làng nghề thành hai loại.
1.1.2.1. Làng nghề truyền thống (cổ truyền).
Làng nghề truyền thống (LNTT) hình thành do các nghệ nhân truyền
nghề. Những nghệ nhân này thường được suy tôn là tổ nghề. Các làng nghề
nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ đều được hình thành như vậy và có tuổi
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghề rất cao, từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm. Lụa Hà Đông, với
làng dệt lụa Vạn Phúc lừng danh đã từng xuất hiện từ thế kỷ thứ 3 sau công
nguyên, do bà Lã Thị Nga - tổ nghề - truyền dạy cho dân làng. Tính đến nay
đã tồn tại và phát triển khoảng 1700 năm. Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử
hình thành, phát triển đã 500 năm nay.
LNTT ra đời và phát triển nhằm đáp ứng một nhu cầu của xã hội. Ví dụ
như ở Thăng Long có làng nghề Nghĩa Đô chuyên làm giấy sắc rồng vì các
triều vua có nhu cầu viết giấy chiếu sắc, hay La Khê có nghề dệt the phục vụ
cho nhu cầu may mặc.
Ngày nay, sự biến động của thị trường có tác động mạnh mẽ tới các

Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản
xuất cho ai, đều do thị trường quyết định. Hay nói cách khác, là sản xuất và
bán cái mà người ta cần chứ không phải sản xuất và bán cái mà mình có.Vậy
cái chính ở đây là sản phẩm của làng nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thị
trường về kiểu dáng, chất lượng, giá cả thì mới có cơ hội phát triển được.
1.1.2.2. Làng nghê mới.
Làng nghề mới được hình thành bằng nhiều con đường, nhưng chủ yếu
do sức ép về kinh tế, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành làng
nghề mới ra đời. Các làng nghề mới thường có vị trí địa lý, nằm ở nơi có đất
chật, người đông, chất đất hoặc khí hậu không phù hợp nên nghề nông khó có
điều kiện phát triển, không đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Với tốc độ
đô thị hoá như hiện nay, các làng nghề ven đô, làng ven thị bị mất đất sản
xuất để xây dựng các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông và các
công trình khác. Cần phải tạo ra công ăn việc làm cho những người nông dân
bị thất nghiệp này để họ ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng cho
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xã hội. Nghề thủ công truyền thống (TCTT) là một trong những lựa chọn phù
hợp nhất vì nghề này có nhiều công đoạn cần sử dụng nhiều lao động, thời
gian đào tạo để biết làm nghề về cơ bản là ngắn và thích hợp với mọi đối
tượng, mọi lứa tuổi lao động. Mặt khác, đặc điểm của nghề nông là sau khi
trồng trọt, chăm bón cần một khoảng thời gian cho cây hấp thụ tăng trưởng,
đó chính là những lúc người nông dân rỗi rãi, nông nhàn. Tận dụng thời gian
này để làm nghề thủ công tăng thu nhập thì thật là thích hợp. Các con đường
hình thành nghề mới:
 Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số
LNTT, tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận LNTT.
 Một số làng nghề gần dây mới hình thành một cách có chủ ý do chủ
trương phát triển nghề phụ hay còn nói là cấy nghề mới. Các nghệ nhân, thợ
thủ công lành nghề ở địa phương khác về dạy nghề và phổ biến kinh nghiệm

Một là, biên độ dao động số hộ làm nghề TTCN các làng nghề trên
chiếm 60%-80% số hộ trong làng.
Hai là, biên độ dao động số hộ làm một nghề chính ở làng chiếm từ
65%-90% so với tổng số hộ làm nghề TTCN. Tên của làng nghề được gọi
bằng chính tên của nghề chính đó.
Ba là, có ý kiến cho rằng cần xem xét tỷ trọng giá trị doanh thu của
TTCN trong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xem
xét công nhận một làng nghề. Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng TTCN ở
làng trong tổng giá trị kinhh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sản phẩm của
làng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa ra chỉ là ước
tính.
Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệ
gắn kết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm. Một số làng
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghề
dịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề. Đồng thời quy tụ những người cùng
nghề, tổ chức sinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền.
Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm ra
sản phẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độ
tay nghề khác nhau. Lớp thợ giỏi được người thợ tôn vinh là thợ cả, có nơi
tôn vinh là nghệ nhân. Dưới thời bao cấp, nhà nước đã phong tặng một số các
nghệ nhân danh hiệu “bàn tay vàng”. Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ
5%-20% lao động chính. Số thợ cả, nghệ nhân ở các làng nghề đóng vai trò
rất quan trọng trong việc bảo lưu yếu tố truyền thống cũng như cách thức đẩy
nghề phát triển, họ cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Từ thực
tiễn lao động, tự họ gây được uy tín đối với người làng, góp phần truyền nghề
cho lớp trẻ, giữ gìn sự đoàn kết, tham gia điều hành các vấn đề KT-XH ở
làng, uy tín của một làng nghề gắn với vai trò, trách nhiệm của lớp thợ và các
nghệ nhân dày dặn kinh nghiệm, tinh thông nghề nghiệp.

thống.
 LNTT: là những làng có từ 1/3 số hộ hoặc lao động cùng làm một
nghề truyền thống.
 Xã nghề truyền thống: là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà
có nhiều làng cùng làm một nghề truyền thống.
 Phố nghề truyền thống: là những LNTT được đô thị hoá hoặc do
nhiều lao động từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề. Xã
nghề truyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LNTT là một vấn đề lớn, cần nghiên cứu để có các chủ trương, chính
sách thích hợp, thúc đẩy hình thành các làng nghề phù hợp với tính chất của
ngành nghề thủ công và tập quán của nhân dân ta.
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống là
những ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế
của nước ta còn tồn tại đến ngày nay. Bao gồm cả ngành nghề mà phương
pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ
sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra
đời ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống. Vì thế mà ngành nghề truyền
thống dần dần bị mất đi, và một số ngành nghề mới xuất hiện để phù hợp với
sự đòi hỏi khách quan của thị trường về cơ cấu, chất lượng, chủng loại sản
phẩm.
Đối với những nghề được xếp vào ngành nghề TCTT cần phải có
những yếu tố sau:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta.
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam.
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, chủ yếu là trong nước.

Tỷ lệ sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn
74.2 74.3 75.3 77.7 79.4 80.6
Nguồn: TCTK.
Trong thời gian qua, ngoài kết quả tích cực nổi bật về mặt sử dụng số
lượng lao động ở thành thị: tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi khu vực thành thị đã liên tục giảm xuống thì chúng ta đã đạt được một số
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kết quả tích cực khác về mặt sử dụng số lượng lao động và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động trong tuổi lao động ở nông thôn đã liên tục tăng lên.
Kết quả này càng có ý nghĩa khi đạt được trong điều kiện dân số và số
người đến tuổi lao động thời gian qua vẫn còn rất lớn. Mặc dù tốc độ tăng dân
số giảm từ 1.86% năm 1991 xuống còn 1.65% năm 1995, còn 1.36% (2000),
1.33% (2005), nhưng quy mô dân số năm 2005 đã lên tới 83.127 nghìn người,
tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991. Bình quân một năm tăng 1.058,6
nghìn người. Số người đến tuổi lao động hàng năm vẫn còn rất lớn, lên đến
trên 1 triệu người, tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm, lao động.
Như vậy, giải quyết việc làm cho số lao động đang thất nghiệp, thiếu
việc làm, lao động đến tuổi lao động… là vấn đề bức xúc đang được đặt ra.
Đặc biệt, khu vực nông thôn với gần 75% dân số và với tỷ lệ thất nghiệp xấp
xỉ 20%, thì vai trò của các làng nghề đống góp vào việc giải quyết việc làm
cho người lao động là rất quan trọng. Bởi trong các ngành nghề TCTT, lao
động sống thường chiếm tỷ lệ tới 60%-65% giá thành sản phẩm, nên việc phát
triển các làng nghề sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao
động đang ngày càng dư thừa một cách nhanh chóng ở nông thôn. Sự phát
triển làng nghề không những chỉ thu hút lao động dư thừa ở gia đình mình,
làng xã mình, mà còn có thể thu hút được nhiều lao động từ các địa phương
khác đến làm thuê. Không những thế, sự phát triển các làng nghề còn kéo
theo sự phát triển của nhiều ngành nghề dịch vụ khác, tạo được nhiều việc

nhu cầu thị trường, có khả năng tiếp thị và liên doanh, liên kết để mở rộng thị
trường thì sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH rõ nét. Các hoạt
động ngành nghề thực sự đã được xem như động lực của sự tăng trưởng, tạo
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
việc làm mới, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho bản thân
người lao động cũng như mỗi gia đìnhvà cả cộng đồng.
Mặc dù ngành nghề nông thôn còn đang gặp nhiều khó khăn trên con
đường phát triển nhưng qua kết quả và bước đầu đã đạt được ở không ít những
địa phương, người nông dân nông thôn đã hiểu rằng: nếu chỉ làm thuần nông,
độc canh cây lúa thì giỏi nhất cũng chỉ đủ ăn, còn muốn làm giàu lên thì phải
kết hợp hoặc chuyển hẳn sang các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, đặc
biệt là các ngành nghề có khả năng tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn,
có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước
hoặc phụ vụ cho xuất khẩu. Ở hầu hết các làng nghề, đặc biệt là các LNTT đã
được khôi phục và phát triển đều giàu có hơn các làng thuần nông khác trong
vùng. Ở các làng nghề, tỷ lệ hộ khá giàu lên thường cao, không có hộ đói, tỷ lệ
hộ nghèo rất thấp, thu nhập từ ngành nghề chiếm đại bộ phận tổng thu nhập
của dân cư trong làng, hệ thống công trình công cộng, kết cấu hạ tầng phát
triển, nhà cửa cao tầng của các hộ dân mọc lên san sát và ngày một gia tăng, tỷ
lệ số hộ có các loại đồ dùng tiện nghi đắt tiền chiếm tỷ trọng khá.
Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ các hộ ngành nghề, các doanh nghiệp
nhỏ, các cơ sở chuyên ngành nghề, các hộ nghề, làng nghề ở nông thôn một
mặt tạo ra cơ hội giải quyết việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho nông dân;
mặt khác, đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ,
phân tán, độc canh, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá nông nghiệp đa
canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với phát triển ngành nghề, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
1.2.3. Sự phát triển của các LNTT đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, góp phần tăng trưởng (GDP), tạo ra khối lượng hàng

40573.
8 41590 42710
NN-LN-TS 24481
24468.
4
24455.
8
24443.
4
24730.
7 24259.3
CN-XD 4929.7 5551.9 6084.7 6670.5 7216.5 7645.1
DV 8198.9 8542.4 8967.2 9459.9 9639.1 10805.6
2. Tỷ trọng (%) 100 100 100 100 100 100
NN-LN-TS 65.09 63.45 61.90 60.24 59.46 56.80
CN-XD 13.11 14.40 15.40 16.44 17.35 17.90
DV 21.80 22.15 22.70 23.32 23.18 25.30
Nguồn: TCTK.
Cơ cấu lao động nông thôn thay đổi, tỷ trọng lao động trong nông
nghiệp giảm từ 65.09% năm 2000 xuống còn 56.80% năm 2005, tỷ trọng các
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngành phi nông nghiệp tăng, CN-XD tăng từ 13.11% năm 2000 lên 17.90%
năm 2005, DV tăng từ 21.80% năm 2000 lên 25.30% năm 2005. Góp phần
phân bố lao động hợp lý theo hướng “ly nông bất ly hương”. Sự phát triển
LNTT đã phá vỡ thế thuần nông và tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc
đẩy CNH-HĐH nông nghiệp, kinh tế nông thôn.
Việc khôi phục các nghề và các LNTT, phát triển các làng nghề mới,
sản phẩm mới, các doanh nghiệp nhỏ, các ngành nghề ở nông thôn một mặt
tạo ra việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho người dân nông thôn, mặt khác

được nâng cao.
- Thị trường du lịch có tiềm năng lớn đối với ngành nghề thủ công nghiệp. Số
khách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, số người Việt Nam đi du lịch
trong nước và nước ngoài cũng tăng nhanh, do đó sản phẩm quà lưu niệm của công
nghiệp nông thôn hàng năm có thể bán cho khách du lịch ngày một tăng nhanh.
Bảng 1.4: Số lượng và tốc độ tăng khách du lịch vào Việt Nam qua các năm.
Năm
Tổng số
Nghìn lượt người Tốc độ tăng (%)
1997 1715.6 6.7
1998 1520.0 -11.4
1999 1781.8 17.2
2000 2140.1 20.1
2001 2330.8 8.9
2002 2628.2 12.8
2003 2429.7 -7.6
2004 2927.9 20.5
2005 3467.8 18.4
Nguồn: TCTK.
- Thị trường xuất khẩu của công nghiệp nông thôn cũng có tiềm năng
lớn. Về lâu dài, thị trường xuất khẩu là thị trường quan trọng vì các nước phát
triển giá nhân công đắt, sản phẩm công nghiệp chủ yếu là bằng máy móc, vì
vậy các sản phẩm mang tính chất thủ công với kỹ xảo điêu luyện là rất có giá.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.4. Phát triển nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn truyền thống văn hoá
dân tộc.
Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hoá Việt
Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển các làng nghề. Văn hoá làng với các
thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng, hôn

đồng với các dân tộc khác trên thế giới. Rõ ràng những sản phẩm của LNTT
là dấu ấn di sản văn hoá quý báu mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ sau. Vì
vậy, trong quá trình CNH nếu không có ý thức bảo tồn nghề TCTT thì những
nét văn hoá độc đáo đó sẽ bị mai một. Cho nên, việc duy trì ngành nghề
truyền thống là rất cần thiết vì các sản phẩm TCTT có giá trị đặc biệt, nó
mang trong mình bản sắc văn hoá dân tộc mà các dân tộc khác không có
được. Mặt khác, các sản phẩm TCTT là bức thông điệp bền vững của một dân
tộc được lưu truyền lại cho các thế hệ sau.
1.3. Kinh nghiệm phát triển LN TCTT ở một số nước.
1.3.1. Tình hình phát triển LNTT ở một số nước.
Trung quốc: nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và nổi tiếng như
đồ gốm, dệt vải, dệt lụa tơ tằm, luyện kim, nghề làm giấy. Đầu thế kỷ XX cả
nước có khoảng 10 triệu thợ thủ công làm việc trong các làng nghề, trong các
hộ gia đình. Đến năm 1953, số người làm TTCN được tổ chức vào HTX (sau
phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn).
Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, nông
nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải..hoạt động ở khu vực nông thôn, bắt đầu
xuất hiện vào đầu năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa.
Tiền thân của xí nghiệp Hương Trấn được bắt nguồn từ những cơ sở TTCN
có truyền thống lâu đời trong lịch sử Trung Quốc. Đó là những phường hội,
cơ sở thủ công nghiệp và làm nghề phụ như thêu ren, cán bóng, xay xát.. đã
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có từ lâu đời và bước đầu thoát ly khỏi nông nghiệp. Xí nghiệp Hương Trấn
phát triển mạnh mẽ, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo của Trung Quốc trong quá
trình thực hiện chiến lược CNH, lựa chọn con đường đi lên CNXH.
Thái Lan: là một nước có nghề TCTT, hàng hoá xuất khẩu vào loại khá
của khu vực. Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như chế tác vàng bạc,
đá quý, đồ trang sức được duy trì và phát triển. Kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm mỹ nghệ, vàng bạc, đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ USD. Nghề gốm cổ

2002 chương trình này đã đem lại 3.66 tỷ baht (84.2 triệu USD) lợi nhuận cho
nông dân. Năm 2003 danh số bán hàng của các làng tham gia chương trình
“mỗi làng một sản phẩm” đã đạt mức 30.8 tỷ baht, tăng 13% so với 2002. Dự
kiến đạt 40 tỷ baht năm 2004 và nhờ vào phong trào này mà người nước
ngoài đã biết nhiều về sản phẩm thủ công của Thái Lan.
Phong trào ở Nhật Bản: Nhằm mục đích thúc đẩy phát triển các sản
phẩm thủ công đặc trưng của mỗi vùng. Trong quá trình tiến hành CNH nền
kinh tế đất nước, ngành nghề thủ công Nhật Bản bị phân hoá và phát triển
theo hai hướng: một số ngành nghề TTCN đi lên CNH (chiếm ưu thế); một số
khác tiếp tục theo hướng thủ công truyền thống. Bước vào những năm 1970,
nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng từ chỗ coi trọng tính hợp lý cơ năng, chuyển
sang xu hướng đa dạng hoá và đề cao cá tính, coi trọng chất lượng, tính độc
đáo hơn là số lượng theo kiểu tiêu chuẩn hoá đồng loạt. Các cuộc khủng
hoảng về nhiên liệu và một số tài nguyên thiên nhiên khác trên thế giới vào
những năm đó khiến Chính phủ Nhật Bản phải suy nghĩ lại về giá trị của các
làng nghề thủ công truyền thống đã tồn tại lâu đời, sử dụng tài nguyên tiết
kiệm, hiệu quả. Trong khi đó hàng TCTT Nhật Bản mất dần khả năng cạnh
tranh so với hàng tiêu dùng sản xuất bằng công nghiệp, lại vấp phải hàng loạt
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status