Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lục
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương 1: Vai trò của công làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá huyện Sóc Sơn.
1.1.Tổng quan về làng nghề.
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm làng nghề.
1.1.1.1. Khái niệm.
Làng nghề là một cụm những hộ dân cư đang sinh sống trong một thôn
(làng) cùng làm một nghề sản xuất ra một loại một sản phẩm, dịch vụ nào đó
nhằm mục đích bán ra thị trường để thu lời. Trong làng nghề, công nông
nghiệp kết hợp với nhau, vừa làm nông nghiệp, vừa làm nghề hoặc làm nghề
nhưng “ly nông bất ly hương”.
Nói đến làng nghề ta thường nghĩ ngay đến những làng làm nghề thủ
công truyền thống như làng nghề lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng
tranh Đông Hồ. Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ
giản đơn với con mắt và bộ óc của nghệ nhân và thợ kỹ thuật. Đối với mỗi
nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu
tố sau:
Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là
một nghề mới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi
cũ truyền đạt lại kinh nghiệm và kỹ sảo kinh nghiệm.
Hai là, sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
Ba là, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
Bốn là, kỹ thuật sản xuất tinh vi, chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm từ đời
sang đời khác và công nghệ khá ổn định.
Năm là, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ
yếu nhất. Nhìn chung nghề truyền thống được hình thành gắn liền với điều
kiện tự nhiên của vùng (đất đai, khí hậu, môi trường…) và như vậy nó gắn bó
với vùng nguyên liệu có tình đặc thù cho sản xuất.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ hai, kỹ thuật công nghệ sản xuất được truyền từ đời này sang đời
khác có tính chất gia truyền. Công cụ lao động trong làng nghề đa số là công
cụ thủ công truyền thống, thô sơ.
Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đình
thường đồng thời là thợ cả mà trong số họ không ít nghệ nhân, còn những
thành viên trong hộ được huy động vào làm những việc khác nhau trong quá
trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của từng người,
vào giới tính hay lứa tuổi. Gia đình có thể thuê mướn lao động trong và ngoài
làng. Cá biệt có những lao động ở ngoại tỉnh thường xuyên hoặc theo thời vụ,
tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận.
Thứ tư, làng nghề thường ở các làng quê gắn liền với sản xuất nông
nghiệp nông thôn nên nguồn vốn trong dân không nhiều. Hơn nữa, hệ thống
tín dụng ở các vùng này hầu như chưa phát triển nên vốn đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, hiện đại hoá trong thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị
trường, tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế.
Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính
nghệ thuật cao. Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt
mà có tính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao. Các sản phẩm của
làng nghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị
văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
1.1.2. Phân loại làng nghề.
Có rất nhiều tiêu chí có thể được sử dụng để phân loại làng nghề. Căn
cứ vào thời gian tồn tại và phát triển có thể chia làng nghề thành hai loại.
1.1.2.1. Làng nghề truyền thống (cổ truyền).
Làng nghề truyền thống (LNTT) hình thành do các nghệ nhân truyền
nghề. Những nghệ nhân này thường được suy tôn là tổ nghề. Các làng nghề
nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ đều được hình thành như vậy và có tuổi
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mặt hàng đó vẫn tồn tại và có khi còn phát triển được. Ví dụ như trong khi
làng gốm Thổ Hà (Bắc Ninh) bị sa sút mạnh mẽ thì làng nghề Gốm Bát Tràng
(Hà Nội) lại phát triển lan toả ra cả một vùng lân cận tạo nên xã nghề. Mặt
khác, những làng nghề có xu hướng phát triển tốt cũng luôn phải đối diện với
những khó khăn như sự cạnh tranh khốc liệt của lụa tơ tằm Vạn Phúc với lụa
tơ tằm công nghiệp của Trung Quốc về mẫu mã cũng như chất lượng vải và
các đặc tính nổi trội như độ bóng, độ nhàu, độ dai… Chính vì vậy, đòi hỏi các
làng nghề cần phải luôn luôn cố gắng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao
chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã để đáp ứng nhu cầu thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản
xuất cho ai, đều do thị trường quyết định. Hay nói cách khác, là sản xuất và
bán cái mà người ta cần chứ không phải sản xuất và bán cái mà mình có.Vậy
cái chính ở đây là sản phẩm của làng nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thị
trường về kiểu dáng, chất lượng, giá cả thì mới có cơ hội phát triển được.
1.1.2.2. Làng nghê mới.
Làng nghề mới được hình thành bằng nhiều con đường, nhưng chủ yếu
do sức ép về kinh tế, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành làng
nghề mới ra đời. Các làng nghề mới thường có vị trí địa lý, nằm ở nơi có đất
chật, người đông, chất đất hoặc khí hậu không phù hợp nên nghề nông khó có
điều kiện phát triển, không đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Với tốc độ
đô thị hoá như hiện nay, các làng nghề ven đô, làng ven thị trường bị mất đất
sản xuất để xây dựng các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông và
các công trình khác. Cần phải tạo ra công ăn việc làm cho những người nông
dân bị thất nghiệp này để họ ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cho xã hội. Nghề thủ công truyền thống (TCTT) là một trong những lựa chọn
phù hợp nhất vì nghề này có nhiều công đoạn cần sử dụng nhiều lao động,
thời gian đào tạo để biết làm nghề về cơ bản là ngắn và thích hợp với mọi đối
Khái niệm về tiêu chí: Tiêu chí là một thuật ngữ khoa học xuất hiện và
được sử dụng nhiều trong khoảng 30 năm nay. Tiêu chí là đặt ra những điều
kiện cần và đủ làm cơ sở xem xét sự vật.
Xây dựng tiêu chí làng nghề là tìm ra những điều kiện cần, những cơ sở
chuẩn mực để từ đó xem xét đánh giá một làng nghề.
Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tiêu chí làng nghề là dựa trên
những thành tố cơ bản để liên kết bên trong ở các làng nghề, đồng thời dựa
vào đặc điểm các làng nghề CN-TTCN, cho phép chúng ta nhận thấy rằng
trong các làng nghề gồm sáu thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo thành
những tiềm năng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng nghề.
Một là, biên độ dao động số hộ làm nghề TTCN các làng nghề trên
chiếm 60%-80% số hộ trong làng.
Hai là, biên độ dao động số hộ làm một nghề chính ở làng chiếm từ
65%-90% so với tổng số hộ làm nghề TTCN. Tên của làng nghề được gọi
bằng chính tên của nghề chính đó.
Ba là, có ý kiến cho rằng cần xem xét tỷ trọng giá trị doanh thu của
TTCN trong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xem
xét công nhận một làng nghề. Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng TTCN ở
làng trong tổng giá trị kinhh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sản phẩm của
làng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa ra chỉ là ước
tính.
Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệ
gắn kết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm. Một số làng
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghề
dịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề. Đồng thời quy tụ những người cùng
nghề, tổ chức sinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền.
Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm ra
sản phẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độ
sang thế hệ khác.
Các tiêu chí trên được xây dựng xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn
để các cấp chính quyền căn cứ vào đó lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền
công nhận danh hiệu làng nghề.
Về tiêu chí nghề truyền thống, LNTT thì cho đến nay chưa có những
tiêu chí được quy định một cách chính thức để xác định thế nào là nghề
truyền thống, LNTT, song cách hiểu phổ biến hiện nay là:
Nghề truyền thống: bao gồm những nghề tiểu thủ công có từ trước
thời Pháp thuộc, còn đến nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử
dụng máy móc hiện đại trong sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền
thống.
LNTT: là những làng có 50 hộ hoặc có từ 1/3 số hộ hoặc lao động
cùng làm một nghề truyền thống.
Xã nghề truyền thống: là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà
có nhiều làng cùng làm một nghề truyền thống.
Phố nghề truyền thống: là những LNTT được đô thị hoá hoặc do
nhiều lao động từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề. Xã
nghề truyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LNTT là một vấn đề lớn, cần nghiên cứu để có các chủ trương, chính
sách thích hợp, thúc đẩy hình thành các làng nghề phù hợp với tính chất của
ngành nghề thủ công và tập quán của nhân dân ta.
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống là
những ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế
của nước ta còn tồn tại đến ngày nay. Bao gồm cả ngành nghề mà phương
pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ
sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra
đời ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống. Vì thế mà ngành nghề truyền
bởi dân số và lao động gia tăng nhanh, diện tích đất canh tác trên đầu người
thấp và ngày càng thu hẹp, khả năng thu hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất
nghiệp và bán thất nghiệp cao.
Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở
nông thôn.
Đơn vị : %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị
6.4 6.3 6 5.8 5.6 5.3
Tỷ lệ sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn
74.2 74.3 75.3 77.7 79.4 80.6
Nguồn: TCTK.
Trong thời gian qua, ngoài kết quả tích cực nổi bật về mặt sử dụng số
lượng lao động ở thành thị: tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi khu vực thành thị đã liên tục giảm xuống thì chúng ta đã đạt được một số
kết quả tích cực khác về mặt sử dụng số lượng lao động và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động trong tuổi lao động ở nông thôn đã liên tục tăng lên.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kết quả này càng có ý nghĩa khi đạt được trong điều kiện dân số và số
người đến tuổi lao động thời gian qua vẫn còn rất lớn. Mặc dù tốc độ tăng dân
số giảm từ 1.86% năm 1991 xuống còn 1.65% năm 1995, còn 1.36% (2000),
1.33% (2005), nhưng quy mô dân số năm 2005 đã lên tới 83.127 nghìn người,
tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991. Bình quân một năm tăng 1.058,6
nghìn người. Số người đến tuổi lao động hàng năm vẫn còn rất lớn, lên đến
trên 1 triệu người, tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm, lao động.
Như vậy, giải quyết việc làm cho số lao động đang thất nghiệp, thiếu
việc làm, lao động đến tuổi lao động… là vấn đề bức xúc đang được đặt ra.
phố, thị xã gây ra hậu quả khó lường.
1.2.2. Khôi phục và phát triển LNTT đã thực sự tăng thu nhập cho người lao
động, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
Ở những địa phương, ngành nghê truyền thống được mở mang cùng
với sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu lao động, và từ kinh tế hộ thu nhập của
các hộ nông dân cũng đang có những chuyển biến tích cực theo hướng: thu
nhập từ hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và tiền công làm thuê ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh
tế nói chung củ hộ nông đân. Đặc biệt là những nơi biết khai thác các tiềm
năng và thế mạnh về ngành nghề truyền thống về đội ngũ nghệ nhân, thợ
lành nghề; nắm bắt được nhu cầu thị trường , có khả năng tiếp thị và liên
doanh, liên kết để mở rộng thị trường thì sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng CNH rõ nét. Các hoạt động ngành nghề thực sự đã được xem như động
lực của sự tăng trưởng, tạo việc làm mới, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá
tinh thần cho bản thân người lao động cũng như mỗi gia đìnhvà cả cộng đồng.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mặc dù ngành nghề nông thôn còn đang gặp nhiều khó khăn trên con
đường phát triển nhưng qua kết quả và bước đầu đã đạt được ở không ít
những địa phương, người nông dân nông thôn đã hiểu rằng: nếu chỉ làm thuần
nông, độc canh cây lúa thì giỏi nhất cũng chỉ đủ ăn, còn muốn làm giàu lên thì
phải kết hợp hoặc chuyển hẳn sang các hoạt động ngành nghề phi nông
nghiệp, đặc biệt là các ngành nghề có khả năng tạo ra khối lượng sản phẩm
hàng hoá lớn, có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị
trường trong nước hoặc phụ vụ cho xuất khẩu. Ở hầu hết các làng nghề, đặc
biệt là các LNTT đã được khôi phục và phát triển đều giàu có hơn các làng
thuần nông khác trong vùng. Ở các làng nghề, tỷ lệ hộ khá giàu lên thường
cao, không có hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo rất thấp, thu nhập từ ngành nghề chiếm
đại bộ phận tổng thu nhập của dân cư trong làng, hệ thống công trình công
cộng, kết cấu hạ tầng phát triển, nhà cửa cao tầng của các hộ dân mọc lên san
năm 80 của thế kỷ trước và hiện vẫn lạc hậu hơn cơ cấu kinh tế của những
nước này.
Bảng 3: Số lao động và cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế.
2000 2001 2002 2003 2004 2005
1. Tổng số lao
động (nghìn người)
37609.
6
38562.
7
39507.
7
40573.
8 41590 42710
NN-LN-TS 24481
24468.
4
24455.
8
24443.
4
24730.
7 24259.3
CN-XD 4929.7 5551.9 6084.7 6670.5 7216.5 7645.1
DV 8198.9 8542.4 8967.2 9459.9 9639.1 10805.6
2. Tỷ trọng (%) 100 100 100 100 100 100
NN-LN-TS 65.09 63.45 61.90 60.24 59.46 56.80
CN-XD 13.11 14.40 15.40 16.44 17.35 17.90
DV 21.80 22.15 22.70 23.32 23.18 25.30
Nguồn: TCTK.
nghề được coi như là một động lực trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu KT-XH
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, xoá hộ đói, nâng cao
phúc lợi và ổn định xã hội.
Hiện nay, sản phẩm của ngành nghề nông thôn đang có triển vọng phát
triển rất rộng lớn:
- Thị trường trong nước với 83.1217 triệu dân (2005) tiếp tục là thị trường
quan trọng nhất của công nghiệp nông thôn. Nhiều sản phẩm tiêu thụ tại chỗ
(vật liệu xây dựng, công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số
sản phẩm chế biến lương thực, thực phẩm, hàng gia dụng). Nhiều sản phẩm
có nhu cầu ngày càng tăng trong sự tăng trưởng kinh tế va đời sống nhân dân
được nâng cao.
- Thị trường du lịch có tiềm năng lớn đối với ngành nghề thủ công nghiệp. Số
khách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, số người Việt Nam đi du lịch
trong nước và nước ngoài cũng tăng nhanh, do đó sản phẩm quà lưu niệm của công
nghiệp nông thôn hàng năm có thể bán cho khách du lịch ngày một tăng nhanh.
Bảng 4: Số lượng và tốc độ tăng khách du lịch vào Việt Nam qua các năm.
Năm
Tổng số
Nghìn lượt người Tốc độ tăng (%)
1997 1715.6 6.7
1998 1520.0 -11.4
1999 1781.8 17.2
2000 2140.1 20.1
2001 2330.8 8.9
2002 2628.2 12.8
2003 2429.7 -7.6
2004 2927.9 20.5
2005 3467.8 18.4
phát triển các làng nghề góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các giá trị văn hoá
của dân tộc Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LNTT là một cụm dân cư sinh sống tạo thành làng quê hay phường
hội. Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá. Những phong tục, tập quán, đền
thờ, miếu mạo,., của mỗi làng, xã vừa có nét chung của văn hoá dân tộc Việt
Nam, vừa có nét riêng của mỗi làng quê, làng nghề. Các sản phẩm của LNTT
làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm nét văn hoá dân tộc thể hiện khá đậm
nét qua các bức hoạ điêu khắc trạm trổ. Những sản phẩm đó làm cho sản
phẩm làng nghề vừa mang nét đặc sắc riêng biệt, vừa mang những nét tương
đồng với các dân tộc khác trên thế giới. Rõ ràng những sản phẩm của LNTT
là dấu ấn di sản văn hoá quý báu mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ sau. Vì
vậy, trong quá trình CNH nếu không có ý thức bảo tồn nghề TCTT thì những
nét văn hoá độc đáo đó sẽ bị mai một. Cho nên, việc duy trì ngành nghề
truyền thống là rất cần thiết vì các sản phẩm TCTT có giá trị đặc biệt, nó
mang trong mình bản sắc văn hoá dân tộc mà các dân tộc khác không có
được. Mặt khác, các sản phẩm TCTT là bức thông điệp bền vững của một dân
tộc được lưu truyền lại cho các thế hệ sau.
1.3. Kinh nghiệm phát triển LN TCTT ở một số nước.
1.3.1. Tình hình phát triển LNTT ở một số nước.
Trung quốc: nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và nổi tiếng như
đồ gốm, dệt vải, dệt lụa tơ tằm, luyện kim, nghề làm giấy. Đầu thế kỷ XX cả
nước có khoảng 10 triệu thợ thủ công làm việc trong các làng nghề, trong các
hộ gia đình. Đến năm 1953, số người làm TTCN được tổ chức vào HTX (sau
phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn).
Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, nông
nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải..hoạt động ở khu vực nông thôn, bắt đầu
xuất hiện vào đầu năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau
xanh…).
Bên cạnh đó, Thái Lan còn có phong trào “one Tambon, one product”
hay còn gọi là “Thai Tambon project” (tiếng Thái “Tambon” nghĩa là làng).
Đây được gọi là mỗi làng một sản phẩm, được phát động sau khi thủ tướng
Thái Lan đi thăm cửa hàng “one village, one product” tại Nhật Bản. Chương
trình này được giới thiệu tại Thái Lan vào năm 1999, chính thức đi vào hoạt
động vào 10/2001. Trong chương trình này, chính Phủ Thái Lan đã hỗ trợ mỗi
làng làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao, chủ yếu
hỗ trợ ở khâu tiếp thị, xúc tiến bàn hàng, huấn luyện và chuyển giao công
nghệ cho nông dân. Chính phủ Thái Lan cho biết chỉ trong 4 tháng đầu năm
2002 chương trình này đã đem lại 3.66 tỷ baht (84.2 triệu USD) lợi nhuận cho
nông dân. Năm 2003 danh số bán hàng của các làng tham gia chương trình
“mỗi làng một sản phẩm” đã đạt mức 30.8 tỷ baht, tăng 13% so với 2002. Dự
kiến đạt 40 tỷ baht năm 2004 và nhờ vào phong trào này mà người nước
ngoài đã biết nhiều về sản phẩm thủ công của Thái Lan.
Phong trào ở Nhật Bản: Nhằm mục đích thúc đẩy phát triển các sản
phẩm thủ công đặc trưng của mỗi vùng. Trong quá trình tiến hành CNH nền
kinh tế đất nước, ngành nghề thủ công Nhật Bản bị phân hoá và phát triển
theo hai hướng: một số ngành nghề TTCN đi lên CNH (chiếm ưu thế); một số
khác tiếp tục theo hướng thủ công truyền thống. Bước vào những năm 1970,
nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng từ chỗ coi trọng tính hợp lý cơ năng, chuyển
sang xu hướng đa dạng hoá và đề cao cá tính, coi trọng chất lượng, tính độc
đáo hơn là số lượng theo kiểu tiêu chuẩn hoá đồng loạt. Các cuộc khủng
hoảng về nhiên liệu và một số tài nguyên thiên nhiên khác trên thế giới vào
những năm đó khiến Chính phủ Nhật Bản phải suy nghĩ lại về giá trị của các
làng nghề thủ công truyền thống đã tồn tại lâu đời, sử dụng tài nguyên tiết
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kết hợp thủ công với kỹ thuật cơ khí hiện đại tuỳ điều kiận cơ sở vật chất của
mỗi nước mà áp dụng công nghệ cổ truyền hay công nghệ hiện đại. Đồng thời
tổ chức các cơ sở sản xuất gần vùng nguyên liệu và đặt tại làng xã có truyền
thống để tiện cho việc phát triển sản xuất, giao lưu hàng hoá.
Hai là, chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn.
Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọng
đối với sự nghiệp phát triển của LNTT. Vì thế các nước đều chú ý đầu tư cho
giáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹ thuật
tiên tiến. Bởi vì, việc hình thành một đội ngũ lao động có tay nghề cao là rất
quan trọng. Nếu thiếu yếu tố này thì việc tiếp thu khoa học công nghệ sẽ
không thành công như mong đợi. Nhìn chung các nước đều triệt để sử dụng
những phương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động như: bồi dưỡng
tại chỗ, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn theo phương châm thiếu gì
huấn luyện nấy. Xúc tiến thành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào
tạo một cách có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc các địa phương có nhu
cầu. Để đào tạo và bồi dưỡng tay nghề cho người lao động, các nước cũng rất
chú ý đến kinh nghiệm thực tiễn, tức là mời những nhà kinh doanh, những
nhà quản lý có kinh nghiệm trong việc CNH nông thôn để báo cáo một số
chuyên đề tập huấn hoặc mang sản phẩm đi triển lãm, trao đổi.
Ba là, để nâng cao vai trò của nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về tài
chính cho LNTT phát triển sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của LNTT, từ vài thập kỷ gần đây
các Nhà nước rất quan tâm, có nhiều chủ trương, chính sách đề cập đến vấn
đề phát triển ngành nghề TCTT. Trong đó, chủ trương hỗ trợ về tài chính, tín
dụng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của LNTT. Sự hỗ trợ
tài chính, vốn của Nhà nước được thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngân hàng, hoặc bù giá đầu ra cho người sản xuất. Thông qua sự hỗ trợ giúp
đỡ này mà các làng nghề lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọn hướng sản xuất.