-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
----------------------------------
NGUYỄN NGỌC QUẾ CHI ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.2.4. Các dòch vụ khác 16
1.2.4.1. Bảo quản an toàn vật có giá 16
1.2.4.2. Dòch vụ ủy thác 16
1.2.4.3. Các dòch vụ khác 16
1.3. Tác động của hội nhập quốc tế đối với hoạt động ngân hàng
và phát triển dòch vụ ngân hàng 17
1.3.1. Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng là gì 17
1.3.2. Động lực của hội nhập quốc tế 18
1.3.2.1. Hội nhập ngân hàng là xu thế tất yếu 18
-3-
1.3.2.2. Hội nhập ngân hàng là một phần của phát triển kinh tế
19
1.3.3. Các đặc điểm của hội nhập quốc tế 20
1.3.4. Các cam kết và lộ trình về mở cửa trong lónh vực ngân hàng
20
1.3.4.1. Gia nhập WTO 21
1.3.4.2. Hiệp đònh thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ
22
1.3.4.3. Hiệp đònh khung của ASEAN về dòch vụ 23
1.3.5. Tác động của hội nhập quốc tế đối với lónh vực ngân hàng và
24
phát triển dòch vụ ngân hàng
CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG HỆ THỐNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
VIỆT NAM VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI 27
2.1. Thực trạng của hệ thống dòch vụ ngân hàngVN 27
2.1.1. Hạn chế về số lượng và chất lượng dòch vụ 28
2.1.1.1. Huy động vốn 28
2.1.1.2. Cấp tín dụng 32
2.1.1.3. Các dòch vụ khác 37
3.2.1.5. Các giải pháp khác 62
3.2.2. Nhóm giải pháp mang tính vó mô 63
3.2.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách 63
3.2.2.2. Giải pháp đối với NHNN 65
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-5-
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của hội nhập kinh tế và xu hướng toàn
cầu hoá diễn ra rộng khắp. Sự xuất hiện của các khối kinh tế và mậu dòch trên
thế giới là một tất yếu khách quan, một nấc thang phát triển mới trong quá trình
toàn cầu hoá nền kinh tế. Khi gia nhập vào các tổ chức thương mại trong khu vực
và trên thế giới, mỗi quốc gia đều có những mục đích riêng, nhưng nhìn chung
thì các nước đều muốn hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn
minh, hiện đại, đời sống xã hội được cải thiện.
Kinh nghiệm quốc tế đã đưa các nhà nghiên cứu đến kết luận là hệ thống
tài chính và ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là hệ thống tài chính tốt nhất cho
phát triển và tăng trưởng kinh tế. Hội nhập toàn cầu sẽ mở ra và thúc đẩy sự
phát triển và sử dụng nguồn lực tiềm năng và tạo ra các cơ hội tăng trưởng từ sự
chuyên môn hoá, mà nếu không hội nhập sẽ không khai thác sử dụng được.
Cũng như nhiều ngành khác, các ngân hàng của VN đang đứng trước một cuộc
cạnh tranh được dự báo trước là vô cùng khốc liệt khi hội nhập khu vực và quốc
tế. Ngân hàng là lónh vực hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) của VN với lộ trình 7 năm. Chính vì vậy, các chuyên gia cho
rằng, nếu khả năng VN gia nhập WTO vào cuối năm 2005 là hiện thực, thì hơn
bất cứ ngành nào, lónh vực ngân hàng cần phải tăng tốc nâng cao năng lực cạnh
khác như về qui mô vốn, trình độ quản lý, hệ thống công nghệ thông tin, sự hiểu
biết các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại trên thế giới….
Vấn đề trọng tâm mà Luận văn muốn đề cập là làm thế nào để phát triển
các dòch vụ để NHVN có thể nâng cao năng lực cạnh tranh khi Việt Nam hội
nhập quốc tế. Nghiên cứu thực trạng hệ thống dòch vụ ngân hàng trong nước và
-7-
hệ thống dòch vụ ngân hàng nước ngoài để từ đó có thể đưa ra được những đònh
hướng và giải pháp thích hợp nhằm phát triển dòch vụ ngân hàng trong nước về
số lượng cũng như chất lượng trong những năm tiếp theo.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
Ngân hàng Việt Nam tham gia hội nhập trong bối cảnh trình độ phát triển
kinh tế và công nghệ thấp, đặc biệt các dòch vụ ngân hàng còn hết sức nghèo
nàn, chủ yếu là các dòch vụ mang tính truyền thống (huy động vốn và cho vay),
chất lượng dòch vụ thấp, mức độ phổ biến của dòch vụ không cao, đối tượng sử
dụng dòch vụ còn phân tán. Trong hoạt động ngân hàng, xu thế mở rộng dòch vụ
ngân hàng hiện đại đã và đang là mục tiêu phấn đấu, là lónh vực cạnh tranh hiệu
quả giữa các ngân hàng. Hơn nữa, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại
Quốc tế (WTO), dòch vụ ngân hàng còn là môi trường thuận lợi cho các nhà đầu
tư, cho việc thông giao quốc tế và mở rộng dòch vụ, du lòch.
Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là sự đa dạng của các
loại hình dòch vụ (chiếm hơn 50% trên tổng thu nhập) thì thu nhập từ hoạt động
cấp tín dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các ngân hàng TMVN. So sánh dòch vụ
hiện có của các NHTMVN và dòch vụ của một số ngân hàng nước ngoài ở các
nước phát triển như Citibank, HSBC, UOB, Wachovia, American Express …. qua
đó đưa ra đònh hướng và giải pháp cho sự phát triển dòch vụ ngân hàng hiện đại
đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong quá trình hội nhập chính là mục đích nghiên
cứu của luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu luận văn:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận một cách có hệ
triển khác.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, tức đưa
ra đònh hướng và đề xuất các giải pháp phát triển dòch vụ ngân hàng trên cơ sở
đã phân tích thực trạng và những nguyên nhân tồn tại của hệ thống dòch vụ
NHVN nhằm đánh giá được bản chất của vấn đề đang nghiên cứu.
5.
Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương. Chương I sẽ
đi sâu vào tìm hiểu thế nào là dòch vụ ngân hàng, những dòch vụ truyền thống
của một ngân hàng như đi vay và cho vay có phải là dòch vụ ngân hàng không.
-9-
Qua đó việc tìm hiểu lý do vì sao phải phát triển dòch vụ ngân hàng trong nền
kinh tế hội nhập quốc tế.
Khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO mà dự kiến là cuối năm 2005, sự
cạnh tranh sẽ diễn ra hết sức khốc liệt trong đó lónh vực hoạt động ngân hàng sẽ
chòu ảnh hưởng trực tiếp. Các NHVN hầu như chưa có kinh nghiệm trong việc
tiếp cận với dòch vụ ngân hàng hiện đại khi hệ thống ngân hàng VN còn hết sức
non trẻ (lâu đời nhất cũng chỉ 30 năm) trong khi đó nhiều ngân hàng nước ngoài
đã có quá trình phát triển trên hàng trăm năm qua. Nhận dạng được những thực
trạng của hệ thống dòch vụ NHVN và tìm hiểu nguyên nhân của những bất cập,
yếu kém sẽ được trình bày ở Chương II của luận văn.
Cuối cùng, ở Chương III luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu đònh hướng
phát triển của hệ thống dòch vụ NHVN và qua đó đề ra những giải pháp cụ thể
nhằm phát triển dòch vụ ngân hàng VN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và hội
nhập quốc tế.
6.
Ý nghóa nghiên cứu:
khoán … Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động của ngân hàng phục vụ cho
khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp đều gọi là dòch vụ ngân hàng.
Ngay cả Hệ thống tài khoản kế toán của ngân hàng hiện nay cũng đã có
sự phân biệt dòch vụ ngân hàng không có hoạt động từ tín dụng và các ngân hàng
thương mại khi công bố thông tin về tỷ lệ thu dòch vụ trên tổng thu nhập cũng đã
bao hàm thu dòch vụ không có thu nhập từ tín dụng. Đối với hoạt động huy động
vốn và cho vay, các ngân hàng thường tránh né sử dụng thuật ngữ “dòch vụ” mà
thay vào đó là cụm từ “sản phẩm”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng do NHNNVN ban hành, dòch vụ ngân hàng
cũng không được đònh nghóa và giải thích cụ thể. Tại khoản 1 và khoản 7, điều
20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng bao hàm cả ba nội
dung: nhận tiền gởi, cấp tín dụng và cung ứng dòch vụ thanh toán, nhưng đâu là
kinh doanh tiền tệ và đâu là dòch vụ ngân hàng thì vẫn chưa được phân đònh rõ
ràng.
-11-
Như vậy, dòch vụ ngân hàng sẽ được hiểu theo hai nghóa: nghóa rộng và
nghóa hẹp.
Theo nghóa rộng, lónh vực dòch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ,
tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là
doanh nghiệp và cá nhân (nhưng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của
các tổ chức tín dụng). Quan niệm này được sử dụng để xem xét lónh vực dòch vụ
ngân hàng trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm
này phù hợp với cách phân ngành dòch vụ ngân hàng trong dòch vụ tài chính của
WTO và của Hiệp đònh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như của nhiều
nước phát triển trên Thế giới.
Theo nghóa hẹp, dòch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài
chức năng truyền thống của đònh chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho
vay). Quan niệm này chỉ nên dùng trong phạm vi hẹp, khi xem xét hoạt động của
một ngân hàng cụ thể để xem các dòch vụ mới, phát triển như thế nào, cơ cấu ra
- Các dòch vụ thanh toán đối với tài sản chính
- Các dòch vụ tư vấn và phụ trợ khác
- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và
phần mềm liên quan được cung cấp bởi các nhà cung ứng dòch vụ tài chính khác.
Hiệp đònh thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ và Hiệp đònh khung ASEAN về
dòch vụ (AFAS) đã được ký kết cũng hiểu và phân loại dòch vụ tài chính (trong
đó có dòch vụ ngân hàng) tương tự như WTO.
Tóm lại, dòch vụ ngân hàng là một bộ phận của dòch vụ tài chính và cần
phải được hiểu theo nghóa rộng như Luận văn đã đề cập ở phần trên. -13-
1.2. Các loại dòch vụ ngân hàng:
Dòch vụ ngân hàng là một bộ phận của dòch vụ tài chính nên dòch vụ ngân
hàng rất đa dạng. Với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, dòch vụ ngân hàng
ngày càng phát triển kể cả về mặt lượng và chất, nên không thể thống kê hết
toàn bộ các dòch vụ ngân hàng. Mặt khác việc áp dụng từng loại dòch vụ ngân
hàng còn tuỳ thuộc vào năng lực, quy mô… của từng ngân hàng khác nhau và tập
quán, thói quen, cách sống, thu nhập của người dân nhưng cơ bản dòch vụ ngân
hàng bao gồm những loại dòch vụ như huy động tiền gởi, cấp tín dụng, dòch vụ
thanh toán và ngân quỹ và các dòch vụ khác.
1.2.1. Huy động tiền gởi:
Các NH thực hiện một dòch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu vực
của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gởi tiền
tiết kiệm của dân chúng bằng cách đưa ra những phương thức dễ dàng để thực
hiện các mục đích có tính chất xã hội. Người gởi tiền tiết kiệm sẽ được hưởng
một lãi suất được ấn đònh trên tổng số tiền gởi với mức độ an toàn và thanh
khoản cao.
Các loại hình tiền gởi phổ biến:
để khuyến khích khách hàng gởi tiền theo kỳ hạn dài ngân hàng thường áp dụng
nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
Hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền
gởi đònh kỳ là: tiền gởi theo tài khoản và tiền gởi đònh kỳ dưới hình thức phát
hành kỳ phiếu ngân hàng.
Ngoài ra các ngân hàng thương mại của các nước phát triển còn huy động
vốn bằng cách phát hành một loại giấy nhận nợ có mệnh giá cao gọi là chứng chỉ
tiền gởi được chuyển nhượng.
¾
Tiền gởi tiết kiệm:
Tiền gởi tiết kiệm đối với các nước trên thế giới có hai loại chính:
-15-
Loại 1: Tiền gởi tiết kiệm theo tài khoản có thông tri, tức là tiền gởi
không có thời gian đáo hạn mà người gởi khi muốn rút ra phải báo trước cho
ngân hàng một thời gian, tuy nhiên ngày nay các ngân hàng thường cho phép
khách hàng được rút tiền tiết kiệm mà không cần báo trước.
Loại 2: Tiền gởi tiết kiệm có mục đích: người gởi ký thác ở ngân hàng để
sử dụng vào một mục đích nhất đònh như mua nhà ở, trang trãi chi phí học tập…
Đối với những người gởi tiền loại này ngân hàng thường cấp tín dụng để bù đắp
thêm phần thiếu hụt khi sử dụng theo mục đích của tiền gởi tiết kiệm.
Đối với Việt Nam tiền gởi tiết kiệm hết sức đa dạng như tiền gởi không
kỳ hạn; tiền gởi tiết kiệm có mục đích (tiết kiệm an cư của Ngân hàng Đông Á,
tích luỹ thưởng của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín); tiết kiệm có lãi và có
thưởng (tiết kiệm ngoại tệ có thưởng của Ngân hàng Á Châu, cơ hội vàng của
Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín); tiết kiệm luỹ tiến ….
1.2.2. Cấp tín dụng
Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đem lại nguồn
thu nhập chủ yếu cho các NHTM, cấp tín dụng bao gồm những dòch vụ chủ yếu
như sau:
Bảo lãnh ngân hàng cũng là một loại tín dụng được áp dụng phổ biến,
nhưng tín dụng dưới dạng chữ ký, chưa phát sinh giao dòch về tài sản (tiền hoặc
hàng hoá). Để đảm bảo thực hiện một nghóa vụ của khách hàng, ngân hàng đứng
ra bảo lãnh cho khách hàng bằng việc phát hành các chứng thư bảo lãnh.
Chứng thư bảo lãnh là giấy cam kết của ngân hàng sẽ thực hiện nghóa vụ
thay người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghóa vụ.
-17-
Bảo lãnh ngân hàng có các loại thông dụng như sau: bảo lãnh dự thầu;
bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh mua hàng trả chậm; bảo lãnh thanh toán;
bảo lãnh thuế quan; bảo lãnh thanh toán khoản tạm ứng; bảo lãnh bảo hành sản
phẩm; bảo lãnh vay vốn….
1.2.2.3. Cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là một giao dòch hợp đồng giữa hai chủ thể gồm bên
chủ sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản, trong đó bên chủ sở hữu tài sản (bên
cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất
đònh và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu tài sản.
Cho thuê tài chính là loại cho thuê vốn dài hạn, bên thuê không được huỷ
bỏ hợp đồng. Bên đi thuê chòu trách nhiệm bảo trì, đóng bảo hiểm và thuế tài
sản. Phần lớn các hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê được quyền gia hạn hợp
đồng hoặc được quyền mua đứt tài sản sau khi thời hạn hợp đồng kết thúc. Thực
chất của cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu sử
dụng của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho
bên đi thuê sử dụng.
Các loại cho thuê tài chính:
- Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại, là một dạng đặc biệt của
phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên.
- Cho thuê hợp tác: bên cho thuê đã vay phần lớn vốn từ ngân hàng để mua
tài sản cho thuê.
- Cho thuê giáp lưng.
mại và thanh toán quốc tế, người ta đã đưa ra nhiều phương thức thanh toán khác
nhau. -19-
¾ Chuyển tiền:
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó một khách
hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất
đònh cho một người khác (người hưởng lợi) ở một đòa điểm nhất đònh.
Phương thức chuyển tiền có thể được tiến hành bằng hình thức chuyển
tiền thư (M/T) hoặc chuyển tiền bằng điện (T/T).
Việc chuyển tiền ngày nay có thể được thực hiện thông qua hệ thống
SWIFT. Phương thức chuyển tiền là một phương thức đơn giản, ngân hàng chỉ
đóng vai trò trung gian nên người bán sẽ gặp rủi ro nếu người mua không thực
hiện thanh toán.
¾ Phương thức nhờ thu:
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán, trong đó người bán
sau khi hoàn thành nghóa vụ chuyển giao hàng hoá hoặc cung ứng dòch vụ cho
khách hàng, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền của người mua trên
cơ sở hối phiếu do người bán lập ra.
Các loại nhờ thu: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
¾ Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credits):
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Nó là sự thoả thuận trong đó một ngân hàng theo yêu cầu
của khách hàng của mình (người xin mở L/C) sẽ trả tiền cho người thứ ba hoặc
trả cho bất cứ người nào theo lệnh của người thứ ba hoặc sẽ trả, chấp nhận mua
hối phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc cho phép một ngân hàng khác trả
tiền, chấp nhận hay mua hối phiếu khi xuất trình đầy đủ các chứng từ đã quy
đònh và mọi điều kiện đặt ra đều thực hiện đầy đủ.
ngân hàng thường đóng vai trò thực hiện di chúc, điều hành tài sản của khách
-21-
hàng khi qua đời. Ngân hàng đảm bảo nguyên vẹn các tài sản quý giá để người
thừa kế nhận được tài sản này khi đến thời điểm phù hợp.
Thông qua dòch vụ ủy thác thương mại, ngân hàng điều hành danh mục
chứng khoán của công ty và cung cấp dòch vụ đại diện cho các công ty, phát
hành cổ phiếu hay trái phiếu, chi trả cổ tức hay lãi suất khi đến hạn…
1.2.4.3. Các dòch vụ khác:
Ngoài ra, dòch vụ ngân hàng còn bao gồm: dòch vụ đầu tư, dòch vụ bảo
hiểm, dòch vụ tư vấn, các nghiệp vụ phái sinh tiền tệ, tỷ giá, lãi suất …. Các dòch
vụ này đã được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới nhưng hiện vẫn chưa
được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam.
1.3. Tác động của hội nhập quốc tế đối với hoạt động ngân hàng và phát
triển dòch vụ ngân hàng:
1.3.1. Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng là gì?
Hội nhập quốc tế có rất nhiều khía cạnh. Về mặt chính sách nhằm khuyến
khích hội nhập quốc tế, các nước thường hành động bằng cách mở cửa khả năng
tiếp cận thò trường, đối xử quốc gia, và đảm bảo môi trường chính sách trong
nước hỗ trợ cho cạnh tranh. Mức độ hội nhập quốc tế đạt được trên thực tế tuỳ
thuộc vào sự phản hồi của các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng trong
nước đối với các cơ hội do sự thay đổi của chính sách. Do đó, các biện pháp hội
nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng có thể bao gồm việc đánh giá các rào cản
đối với sự tham gia hoặc “độ mở cửa”; về mức độ khác biệt về giá tài sản tài
chính và dòch vụ ở các nước (lãi suất thò trường sẽ phản ánh sự khác biệt về rủi
ro giữa các nước); mức độ tương tự giữa các chuẩn mực và các nguyên tắc quy
đònh hoạt động của các ngân hàng ở các nước khác nhau; hoặc mức độ cạnh
tranh trong khu vực ngân hàng, trong khi các biện pháp khác như chênh lệch giữa
lãi suất tiền gởi và cho vay, các tỷ lệ về mức độ tập trung được sử dụng không
phải lúc nào cũng đáng tin cậy; thò phần cho vay của các ngân hàng nước ngoài;
cấp dòch vụ tài chính tốt hơn, khách hàng được nhiều quyền lựa chọn các nhà
cung cấp dòch vụ tài chính mang tính cạnh tranh hơn. Các công ty đa quốc gia
cũng muốn có các dòch vụ tài chính trong nước hỗ trợ cho vốn đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của mình. Các nước Liên Xô cũ đang vật lộn với khó khăn, không
tạo các điều kiện để khuyến khích hội nhập đã có những kết quả không tốt, trong
khi đó nhiều nước Đông u nhanh chóng hội nhập quốc tế đang phát triển rất
tốt.
1.3.2.2. Hội nhập ngân hàng là một phần của phát triển kinh tế:
Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Vai trò của hội nhập quốc tế trong phát triển tài chính vẫn còn là điều
đang còn nhiều tranh cải. Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trong việc
cung cấp các dòch vụ tài chính cho một quốc gia và sự tham gia vào thò trường
quốc tế của các ngân hàng trong nước đều tạo động lực và điều kiện để chuyển
giao công nghệ giữa các quốc gia với nhau. Đối với một số quốc gia với xuất
phát điểm là không có hệ thống ngân hàng thương mại (hệ thống ngân hàng nói
chung là sự mở rộng của chính sách tài khoá của chính phủ trong nền kinh tế
mệnh lệnh), sự chuyển giao công nghệ diễn ra trên toàn bộ các dòch vụ ngân
hàng. Đối với các nước khác, chuyển giao công nghệ là đưa ra các sản phẩm và
kỹ thuật quản lý mới.
Hệ thống tài chính và ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là những hệ thống
tài chính tốt nhất cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Các cuộc tranh luận về
tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính đều ủng hộ công cuộc cải cách nhằm
tạo ra các điều kiện, theo đó sự cạnh tranh có thể lớn mạnh giữa các nhà cung
cấp dòch vụ tài chính ngân hàng nước ngoài và trong nước được giám sát và quản
lý an toàn.
Bằng chứng rõ ràng là sự cạnh tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng lớn
hơn, hoạt động hiệu quả hơn và lành mạnh hơn. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho
-24-
WTO như chế độ quốc gia, qui chế tối huệ quốc, tính minh bạch của các chính
sách liên quan đến hoạt động thương mại, dòch vụ.
1.3.4.1. Gia nhập WTO:
Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO vào năm 1995. Mục tiêu hiện
nay là hoàn tất đàm phán kòp để gia nhập cuối năm 2005. Các nước đang chuẩn
bò gia nhập WTO phải trải qua một quá trình đàm phán song phương đầy khó
khăn với tất cả các nước thành viên, một quá trình mà các nước thành viên ban
đầu không phải thực hiện. Các cuộc đàm phán song phương này thường điều
chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước thành viên khi họ đã trở thành thành
viên chính thức.
Việc tiếp cận khu vực ngân hàng là do các quy đònh của GATS trong phụ
lục về dòch vụ tài chính. Các lónh vực cam kết là: tiếp cận thò trường và đối xử
quốc gia.
Nguyên tắc của WTO về tối huệ quốc (MFN) đòi hỏi tất cả các thành viên
phải được đối xử như nhau. Điều này khiến cho các cam kết trong USVNBTA trở
thành mức tối thiểu của GATS. Các trường hợp ngoại lệ về nguyên tắc tối huệ
quốc vẫn được chấp nhận, nhưng thông thường đối xử theo MFN cần phải áp
dụng vào một thời gian được xác đònh trong tương lai.
Theo quy đònh về tiếp cận thò trường, các hạn chế là không được cho phép
trừ các hạn chế đã được đưa vào cam kết. Các loại hạn chế cần phải được cam
kết là:
- Số lượng các nhà cung cấp; tổng giá trò các giao dòch dòch vụ hoặc tài sản;
- Tổng số những thể nhân có thể được thuê;
- Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các loại pháp nhân hoặc liên doanh
nhất đònh; và
- Việc nước ngoài tham gia góp vốn.