xu hướng dịch chuyển các phương thức thanh toán quốc tế và vấn đề đặt ra với ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương – chi nhánh hà nội - Pdf 23

Khóa luận tốt nghiệp 1 Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước bối cảnh chung của toàn bộ nền kinh tế đang tiến từng
bước vững chắc trên con đường hội nhập ra quốc tế chúng ta không thể không
nhắc đến tầm quan trọng của thương mại quốc tế. Để cho hoạt động thương
mại quốc tế hoạt động một cách nhịp nhàng với trình độ phát triển khu vực và
trên thế giới thì cần có một hệ thống thanh toán phù hợp và phát triển. Thanh
toán quốc tế là một chiếc cầu nối quan trọng có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy
hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút ngoại
tệ và các quan hệ tài chính tín dụng quốc tế khác.
Nói đến thanh toán quốc tế thì ngân hàng luôn đúng một vai trò quan
trọng. Trong môi trường ngân hàng cạnh tranh như hiện nay, các ngân hàng
lần lượt đang có những bước tiến không chỉ trong nước mà vươn rất xa đến
các thị trường quốc tế, để tìm được chỗ đứng riêng các ngân hàng phải có
được những quyết sách phù hợp.Nguồn vốn về thời gian và tài chính không
phải là vô tận cho nên ngân hàng phải tìm được những sản phẩm thanh toán
quốc tế đáp ứng được nhu cầu đa dạng phong phú của khách hàng, thường
xuyên phải có sự sáng tạo đổi mới nhưng không được quá lãng phí.
Qua lý thuyết và thực tiễn ta thấy được sự tác động qua lại giữa thương
mại quốc tế và ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế là rất quan trọng
cho sự phát triển của nền kinh tế. Trong đó việc lựa chọn phương thức thanh
toán quốc tế là việc rất được quan tâm vì nó là khâu cuối cùng quyết định tới
hiệu quả cũng như tránh được rủi ro cho các bân tham gia thanh toán. Trong
những năm gần đây có nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau phục
vụ cho các bên tham gia mua bán, mặt khác các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
có cùng trình độ và uy tín ngày càng cao có xu hướng sử dụng các phương
thức thanh toán đơn giản, thuận tiện, giảm thủ tục tại ngân hàng. Nghiên cứu
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 2 Học viện Ngân hàng
xu hướng chuyển dịch các phương thức thanh toán quốc tế sẽ giúp các bên

5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về việc lựa chọn áp dụng các
phương thức thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Chương 2: Xu hướng dịch chuyển các phương thức thanh toán quốc tế
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Hà Nội
Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Ngoại Thương Hà Nội trong xu hướng dịch chuyển các phương thức
thanh toán quốc tế

Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LỰA CHỌN ÁP DỤNG
CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan
hệ kinh tế chính trị thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả hình
thành nên các khoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước
khác nhau. Các mối quan hệ tiền tệ này ngày một phong phú đa dạng với quy
mô ngày càng lớn góp phần tạo nên tình trạng tài chính ở mỗi nước có thể ở
trạng thái bội thu hay bội chi. Trong các mối quan hệ quốc tế, các đối tác ở
các nước khác nhau , do vậy có sự khác biệt về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa
lý nên việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp với nhau mà phải thông
qua các tổ chức trung gian, đó chính là các ngân hàng thương mại cùng mạng
lưới hoạt động rộng khắp trên khắp thế giới.
Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh

chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại
ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà
biếu, trợ cấp của cá nhân nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ
cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức đoàn thể trong nước…
Tóm lại, TTQT phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế. Nó
là khâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng
ngoại thương. Đây là cơ sở nền tảng cho hoạt động xuất nhập khẩu tồn tại và
phát triển.
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng
1.1.2. Điều kiện thanh toán quốc tế
1.1.2.1. Điều kiện về tiền tệ
Đồng tiền được các bên thỏa thuận trong thanh toán quốc tế được các
bên thỏa thuận có thể là đồng tiền nước người mua, dồng tiền nước người bán
hoặc đồng tiền nước thứ ba. Các đồng tiền mạnh được sử dụng chủ yếu trong
thanh toán quốc tế là USD, EUR, GBP, JPY… Do đó việc thanh toán sẽ liên
quan đến vấn đề tỉ giá.
1.1.2.2. Điều kiện về địa điểm thanh toán
Địa điểm thanh toán là nơi người bán nhận tiền, người mua trả tiền.Lẽ
đương nhiên, người bán luôn muốn nhận tiền tại nướ mình vì thu tiền nhanh
và an toàn hơn, còn người mua lại muốn trả tiền tại nước của mình vì thu tiền
nhanh và an toàn hơn, còn người mua lại muốn trả lại tiền tại nước mình vì
như thế đỡ đọng vốn. Về phương tiện lý thuyết, việc thanh toán còn có thể
diễn ra ở nước thứ ba, nước phát hành đồng tiền thanh toán.
Trong thực tế việc quy định địa điểm thanh toán phụ thuộc chủ yếu vào
ba yếu tố: tương quan lực lượng giữa hai bên trong quan hệ hợp đồng, phương
thức thanh toán và đồng tiền thanh toán là của nước nào.
1.1.2.3. Điều kiện về thời gian thanh toán
Điều kiện về thời hạn thanh toán qui định khi nào thì bên mua phải trả
tiền cho bên bán, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ luân chuyển vốn,

+ Phương thức tín dụng chứng từ
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng
1.1.3. Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.2.1. Đối với nền kinh tế
Trước xu thế nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc
gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập,
thanh toán quốc tế nổi lên như chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước và phần
còn lại của thế giới, có tác dụng bôi trơn thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài
chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được
khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế
đối ngoại nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt
hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi đó là con đường tất yếu trong
chiến lược phát triển kinh tế mỗi nước.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng
hóa, dịch vụ giữa các tổ chức cá nhân thuộc quốc gia khác nhau. Nếu không
có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và
phát triển được. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh chóng an toàn
và chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa
người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả. Về giác độ kinh
doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện một chu trình
kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt động của các
doanh nghiệp.
1.1.2.1. Đối với các ngân hàng thương mại
Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua hệ thống ngân
hàng, nên khi nói đến hoạt động thanh toán quốc tế là nói đến hoạt động thanh
toán của ngân hàng thương mại. Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ
TTQT, ngân hàng trở thành cầu nối thanh toán giữa hai bên mua bán.
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10

1.2.1. Phương thức thanh toán chuyển tiền
1.2.1.1. Khái niệm
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người
chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định
cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa điểm nhất định và trong
một thời gian nhất định. (nguồn: giáo trình thanh toán quốc tế và tài trợ
ngoại thương- GS.TS Nguyễn Văn Tiến)
Có thể nói, chuyển tiền là phương thức đơn giản nhưng tiềm ẩn nhiểu
rủi ro. Trong phương thức này, các bên tiến hành thanh toán trực tiếp với
nhau, còn ngân hàng chỉ đóng vai trị trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để
hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc trách nhiệm gì với người chuyển tiền
và người thụ hưởng.
1.2.1.2. Các hình thức chuyển tiền
Bao gồm có hai hình thức chính là:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer-M/T): là một hình thức chuyển
tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng được thể hiện trong nội dung một
bức thư mà ngân hàng này gửi cho ngân hàng thanh toán qua bưu điện.
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer-T/T): là một hình thức
chuyển tiền, trong đó, lệnh thanh toán của ngân hàng được thể hiện trong nội
dung một bức điện gửi tới ngân hàng thanh toán thông qua fax, telex hoặc qua
mạng viễn thông SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial
Communication - Hiệp hội liên lạc viễn thông tài chính ngân hàng thế giới).
1.2.1.3. Quy trình thanh toán chuyển tiền
a. Các bên tham gia thanh toán
- Người yêu cầu chuyển tiền (Remitter): là người nhập khẩu, người
mua, người mắc nợ, nhà đầu tư, người chuyển tiền kiều hối
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 11 Học viện Ngân hàng
- Người thụ hưởng (Beneficiary): là người xuất khẩu, người bán, chủ
nợ, người nhận vốn đầu tư, người nhận kiều hối Người thụ hưởng do người

ngân hàng thì nghiệp vụ thanh toán sẽ đơn giản hơn nhiều, không bị ràng
buộc trách nhiệm gì đối với thanh toán. Các bên sẽ được đơn giản hóa hơn
trong các khâu thanh toán, giảm các khâu giấy tờ phức tạp, việc thanh toán sẽ
diễn ra nhanh hơn thúc đẩy quá trình thương mại quốc tế. Phương thức thanh
toán chuyển tiền chủ yếu thực hiện dựa trên niềm tin vào đối tác. Vì vậy khi
phương thức thanh toán này sử dụng nhiểu chứng tỏ uy tín của doanh nghiệp
tăng cao (cả uy tín thương mại và uy tín thanh toán).
Tuy đây là phương thức thanh toán rất đơn giản nhưng nó lại chưa ẩn
nhiều rủi ro nhất. Ngân hàng tham gia vào phương thức này chỉ với vai trò là
trung gian, không có nghĩa vụ gì đối với nhà XK và nhà NK, việc có trả tiền
hay không phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Mà người mua thì luôn
muốn trì hoãn việc thanh toán, chiếm dụng vốn. Người mua sau khi nhận
hàng có thể không tiến hành chuyển tiền hoặc cố tình dây dưa, kéo dài thời
hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng vốn của người bán, do đó, làm quyền lợi
của người bán không được đảm bảo. Nếu trong trường hợp người mua sẵn
sàng trả tiền nhưng do điều kiện về tình hình tài chính, phá sản… thì người
bán sẽ mất tiền mà không có nguồn thanh toán nào khác. Đây là một phương
thức thanh toán có lợi hơn cho người mua nhưng lại bất lợi cho người bán.
1.2.2. Quy trình thanh toán nhờ thu
1.2.2.1. Khái niệm
Nhờ thu là một phương thức thanh toán, trong đó người xuất khẩu
(người bán) sau khi hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa hoặc cung
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 13 Học viện Ngân hàng
ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số
tiền ở người nhập khẩu (người mua hàng), trên cơ sở tờ hối phiếu do người
xuất khẩu ký phát. (nguồn: giáo trình thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại
thương- GS.TS Nguyễn Văn Tiến)
Trong thương mại quốc tế , nhờ thu thực chất là quy trình thu hộ tiền từ
người mua trả cho người bán. Với sự giúp đỡ cần thiết, ngân hàng kiểm tra

ở nước người mua, nhận chứng từ nhờ thu từ ngân hàng chuyển chứng từ nhờ
thu và thực hiện thu tiền từ người mua theo các điều kiện ghi trong Lệnh nhờ
thu.
- Ngân hàng xuất trình (Presenting Bank):
+ Nếu người trả tiền có quan hệ tài khoản với ngân hàng thu hộ thì
ngân hàng thu hộ sẽ xuất trình nhờ thu trực tiếp cho người trả tiền, trong
trường hợp này ngân hàng thu hộ sẽ đồng thời là ngân hàng xuất trình.
+ Nếu ngân hàng thu hộ không có quan hệ tài khoản với người trả tiền
(người mua) thì có thể chuyển nhờ thu cho ngân hàng nào có quan hệ tài
khoản với người mua để xuất trình chứng từ cho người mua. Trong trường
hợp này, ngân hàng phục vụ người mua trở thành ngân hàng xuất trình và
chịu trách nhiệm trực tiếp với ngân hàng thu hộ.
- Người trả tiền (Drawee): là người mà chứng từ nhờ thu được xuất
trình để thanh toán hay chấp nhận thanh toán. Người trả tiền trong ngoại
thương chính là nhà NK (người mua)
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 15 Học viện Ngân hàng
b. Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn
Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn
Trong đó:
(1) Trên cơ sở hợp đồng thương mại, nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp
bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khẩu (người trả tiền).
(2) Nhà xuất khẩu lập hối phiếu và đơn yêu cầu nhờ thu gửi tới ngân hàng
phục vụ mình (ngân hàng chuyển chứng từ nhờ thu) để nhờ thu tiền từ nhà
nhập khẩu.
(3) Ngân hàng chuyển chứng từ nhờ thu lập và gửi Lệnh nhờ thu cùng hối
phiếu tới ngân hàng thu hộ để thu tiền từ nhà nhập khẩu (người trả tiền).
(4) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu cho nhà nhập khẩu để nhà nhập
khẩu thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

mình (ngân hàng chuyển chứng từ nhờ thu).
(3) Ngân hàng chuyển chứng từ nhờ thu lập và gửi Lệnh nhờ thu kèm bộ
chứng từ tới ngân hàng thu hộ.
(4) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu cho nhà nhập khẩu và yêu cầu
nhà nhập khẩu làm thủ tục thanh toán để nhận bộ chứng từ.
(5a) Nhà nhập khẩu trả tiền (đối với hối phiếu trả ngay) hoặc chấp nhận trả
tiền (đối với hối phiếu kì hạn) hoặc phát hành kì phiếu hoặc giấy nhận nợ.
(5b) Ngân hàng thu hộ trao bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khẩu đi
nhận hàng.
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
(1)
(5a)
HĐTM
(3)
(4) (7)
(2)
NH chuyển chứng từ
(Remitting Bank)
NH thu hộ
(Collecting Bank)
Người uỷ thác thu tiền
(Principal)
Người trả tiền
(Drawee)
(6)
(5b)
Khóa luận tốt nghiệp 17 Học viện Ngân hàng
(6) Ngân hàng thu hộ chuyển trả giá trị nhờ thu hoặc hối phiếu kì hạn đã được
chấp nhận hoặc kì phiếu hay giấy nhận nợ tới ngân hàng phục vụ người xuất
khẩu (ngân hàng chuyển chứng từ nhờ thu).

+ Đối với D/A, nhà NK được sử dụng hay bán hàng hóa mà chưa phải
trả tiền cho đến khi hối phiếu đến hạn thanh toán
- Đối với NHNT và NHTH:
+ Có thu nhập từ phí nhờ thu, từ các giao dịch mua bán ngoại tệ và từ
các giao dịch khác có liên quan.
+ Mở rộng được tín dụng tài trợ thương mại
+ Tăng cường được mối quan hệ với NH đại lý, do đó tạo ra tiềm năng
về giao dịch đối ứng.
Tuy nhiên nhờ thu kèm chứng từ vẫn còn nhiều rủi ro cho nhà xuất
khẩu.
1.2.3. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Ngày nay, dưới tác động của toàn cầu hoá, hoạt động thương mại quốc
tế ngày càng phát triển và đang dần xoá bỏ những hàng rào thương mại giữa
các quốc gia. Khác với các giao dịch buôn bán trong nước, người mua và
người bán khi tham gia vào các giao dịch thương mại quốc tế đối mặt với
nhiều rủi ro, bất trắc. Do đó, cả người nhập khẩu lẫn người xuất khẩu đều
mong muốn sử dụng những phương thức thanh toán nào an toàn, có khả năng
giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất, phương thức TDCT đáp ứng được
điều đó.
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 19 Học viện Ngân hàng
1.2.3.1.Khái niệm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Thanh toán TDCT là phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầu
của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (ngân hàng phát
hành L/C) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of Credit ), theo đó,
NHPH cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người
thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho NHPH bộ chứng từ thanh toán
phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C. Tuy nhiên, để
tránh mọi sự hiểu lầm và thống nhất trong cách hiểu cũng như cách giải thích,
Phòng Thương mại Quốc tế (The International Chamber of Commerce viết tắt

dụng không có khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân
hàng lớn, có uy tín trong thanh toán quốc tế. Trên thực tế ngân hàng này
thường là ngân hàng thông báo, hoặc một ngân hàng khác do người xuất khẩu
yêu cầu và được chỉ định trên thư tín dụng.
- Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được chỉ
định trong thư tín dụng, cho phép ngân hàng đó thực hiện việc thanh toán,
chiết khấu, hoặc chấp nhận bộ chứng từ của người hưởng lợi phù hợp với các
quy định của thư tín dụng.
Tuỳ từng nhiệm vụ được chỉ định mà tên gọi của ngân hàng này có thể là:
+ Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank)
+ Ngân hàng chiết khấu (The Negotiating Bank)
+ Ngân hàng chấp nhận (The Accepting Bank)
- Ngân hàng bồi hoàn (The Reimbursing Bank): là ngân hàng được
ngân hàng phát hành uỷ nhiệm thực hiện thanh toán giá trị thư tín dụng cho
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 21 Học viện Ngân hàng
ngân hàng được chỉ định thanh toán hoặc chiết khấu. Thông thường, ngân
hàng này chỉ tham gia giao dịch trong trường hợp giữa ngân hàng phát hành
và ngân hàng được chỉ định không có quan hệ tài khoản trực tiếp với nhau.
Sơ đồ 1.4: Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ
Trong đó:
Người xuất khẩu và người nhập khẩu ký kết hợp đồng thương mại với điều
khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
(1) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, viết đơn yêu cầu mở
thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng, tại ngân hàng phục vụ mình.
(2) Căn cứ vào nội dung đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng phát hành L/C
để chuyển tới người hưởng thông qua ngân hàng thông báo.
(3) Ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng,
thông báo và chuyển giao bản gốc thư tín dụng tới người hưởng.
(4) Người xuất khẩu tiến hành giao hàng theo yêu cầu của L/C .

1.2.3.3. Ưu, nhược điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phương thức thanh toán TDCT đã dung hòa được mối quan hệ lợi ích
giữa nhà XK và nhà nhập khẩu
- Đối với nhà XK: sau khi hàng hóa được gửi đi theo qui định của hợp
đồng mua bán, lập bộ chứng từ theo qui định của L/C và xuất trình cho
NHPH để được thanh toán. Người bán không cần quan tâm đến năng lực
thanh toán của người mua, bởi vì trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ thuộc
về NHPH. Người bán cũng không cần lo lắng về quy chế quản lý ngoại hối và
ngay cả rủi ro chính trị ở nước người mua, bởi vì trong hầu hết các trường
hợp, cam kết của NHPH được thừa nhận rộng rãi trong nước và quốc tế, do đó
nếu không thực hiện được những gì đã cam kết thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín
quốc gia trên thị trường quốc tế. Chính vì vậy trong phương thức thanh toán
TDCT khả năng thu được tiền hàng là rất cao.
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 23 Học viện Ngân hàng
- Đối với nhà NK: do có NHPH bảo đảm khả năng thanh toán cho
người bán cho nên khả năng mua hàng của người mua cũng sẽ được cao hơn.
Nhưng người bán sẽ có thêm nhiều cơ hội mua hàng, cơ hội trả tiền chậm
hơn. Ngoài ra, do có NHPH kiểm tra giúp tính chân thật của bộ chứng từ nên
người mua khong lo bị người bán lừa đảo.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức thanh toán
qua ngân hàng
Các phương thức thanh toán đã trình bày ở trên, mỗi phương thức có
những đặc điểm, ưu nhược điểm khác nhau. Việc lựa chọn phương thức thanh
toán thích hợp phải được hai bên bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng mua
bán ngoại thương. Thực tế, các chủ thể tham gia thanh toán có thể căn cứ vào
các yếu tố sau để lựa chọn phương thức thanh toán.
1.3.1. Mối quan hệ giữa nhà các nhà xuất nhập khẩu
Mối quan hệ giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu sẽ trực tiếp ảnh
hưởng đến mức độ tin cậy giữa các bên và do vậy sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến

thể áp dụng PTTT bằng L/C. Bởi vì khi áp dụng PTTT này có nghĩa là ngân
hàng đã đứng ra bảo lãnh cho nhà nhập khẩu, cam kết trả tiền cho nhà xuất
khẩu. Vì vậy, ngân hàng có thể gặp phải những rủi ro nhất định. Trong trường
hợp nghi ngờ về uy tín của nhà nhập khẩu, còn về tài chính thì nhà nhập khẩu
không có đủ khả năng để ký quỹ 100% giá trị của thư tín dụng thì việc chấp
nhận phát hành thư tín dụng đồng nghĩa với việc ngân hàng có thể sẽ gặp phải
rủi ro không thu hồi được tiền từ nhà nhập khẩu sau khi ngân hàng đã thanh
toán cho nhà xuất khẩu. Mặc dù việc lựa chọn PTTT là do các nhà kinh doanh
xuất nhập khẩu quyết định. Nhưng không phải khi nào việc lựa chọn này cũng
Hồng Tường Minh Lớp TTQTB/K10
Khóa luận tốt nghiệp 25 Học viện Ngân hàng
được ngân hàng chấp nhận vì khách hàng không đáp ứng được một số quy
định của ngân hàng.
1.3.3. Phí giao dịch do ngân hàng quy định
Mức phí giao dịch cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn PTTT. Thông
thường các ngân hàng bao giờ cũng quy định mức phí tỷ lệ thuận với rủi ro
mà ngân hàng mà ngân hàng có thể gặp phải và trách nhiệm của ngân hàng.
Mức phí Phương thức thanh toán áp dụng
Mức phí thấp PTTT chuyển tiền
Mức phí vừa PTTT nhờ thu
Mức phí cao PTTT tín dụng chứng từ
(Nguồn: theo nghiên cứu của tác giả)
Khách hàng bao giờ cũng có xu hướng lựa chọn những PTTT có phí
tổn thấp nhất. Trong ba PTTT mà các NHTMVN thường áp dụng thì PTTT
chuyển tiền có mức phí thấp nhất. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể
áp dụng được PTTT này. Khách hàng luôn phải cân nhắc giữa mức phí giao
dịch với rủi ro mà mình có thể gặp phải. một cách tổng quát thì phương thức
chuyển tiền mang lại rủi ro cho nhà nhập khẩu nhiều hơn. Còn với PTTT tín
dụng chứng từ thì mức phí giao dịch thường cao bởi vì trách nhiệm của ngân
hàng trong PTTT này là rất lớn, lúc này ngân hàng sẽ đứng ra cam kết trả tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status