nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở ngân hàng công thương việt nam chi nhánh ba đình - Pdf 23

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ

Như chúng ta đã biết, hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm
hơn 95% số lượng doanh nghiệp ở nước ta. Cùng với sự phát triển của đất nước thì
DNVVN cũng đang trên đà phát triển mạnh mẽ và đúng một vai trò cực kỳ quan
trọng trong nền kinh tế nước nhà. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất quan
trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực
xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát
triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề và lĩnh vực,
là khu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo
dân cư có thể tham gia đầu tư.
Thực tế cho thấy, những năm qua nền kinh tế thế giới khủng hoảng kéo theo
sự suy giảm của nền kinh tế trong nước. Các doanh nghiệp lớn thì tỏ ra rất khó khăn
trong việc đối phó với tình trạng giảm sút về số lượng khách hàng cũng như lợi
nhuận. Trong khi đó các doanh nghiệp nhỏ lại rất linh hoạt trong việc chủ động thay
đổi chiến lược kinh doanh như : cắt giảm những chi phí không cần thiết, xây dựng
mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp, đánh giá những nhân viên giỏi, cắt
giảm một số khoản tiền lương. Với những thay đổi trên thì các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đang hồi phục một cách nhanh chóng sau thời kỳ khủng hoảng, đang dần tạo ra
đà tăng trưởng cho toàn bộ nền kinh tế của đất nước.
Với những kết quả đạt được đó thì doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang gặp
phải một số khó khăn nhất định, đặc biệt là việc tìm kiếm nguồn vốn để mở rộng
sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động tạo ra hiệu
quả sản xuất cho doanh nghiệp. Do đó, việc tìm hiểu thực trạng tín dụng ngân hàng
nhằm tìm ra các biện pháp nhằm giải quyết khó khăn trên của doanh nghiệp vừa và
nhỏ trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em xin chọn đề
tài : “ !
"#$%&'$()*+,

hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm (2) sang nhóm (1) nếu cả hai cùng có
lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo mối quan hệ giữa hai nhóm. Nếu
dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một
khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ
cấp phát hoặc hùn vốn. Lấy quan hệ tín dụng làm ví dụ. người có tiền tiết kiệm đòi
1% cho chi phí giao dịch, 2% phòng rủi ro và 3% là thu nhập ròng từ số tiền tiết
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
2
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
kiệm mà anh ta đang phải tạm thời từ bỏ quyền sử dụng. Tổng cộng anh ta đòi 6%
trên số tiền cho vay. Người vay phải chi 1% chi phí giao dịch, 6% trả cho người có
tiền, tổng cộng phí tổn tín dụng là 7%. Nếu việc sử dụng tiền vay có thể tạo ra cho
anh ta một tỷ suất thu nhập lớn hơn 7% ( giả sử 10% ) thì quan hệ tín dụng sẽ được
thiết lập. Quan hệ tín dụng trực tiếp đã có rất lâu và tồn tại cho đến ngày nay, tạo ra
mối liên kết giữa người có thu nhập thừa và người có thu nhập thiếu.
Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy
mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều
kiện nảy sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hóa, trung gian tài chính có thể
làm giảm chi phí giao dịch ví dụ từ 2% xuống 1% ở ví dụ trên, chi phí rủi ro từ 2%
xuống 1%. Trung gian có thể trả cho người tiết kiệm 3,5% với cam kết không có rủi
ro ( lớn hơn 3% thu nhập trước đó ), và đòi người sử dụng 6,5% ( nhỏ hơn 7% trước
đó ). Chênh lệch 6,5% - 3,5%= 3% chính là thu nhập của trung gian. Như vậy trung
gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết
kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư ( tăng thu nhập cho người
đầu tư ), từ đó khuyến khích các nhà đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp những
người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực
tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ rất hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử
dụng các kỹ thuât nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm phí giao dịch.
Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng bằng

quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành tiền giấy
vào một tổ chức hoặc là bộ tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương. Từ đó chấm
dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có
được hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ
bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo) , thứ hai là số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể
dựng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay ( hay tạo tín dụng ) các
ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán ( tham gia tạo ra M1 ).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên
khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi ) của một khách hàng khác tại một ngân
hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng
riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có
thể tạo ra khố lượng tiền gửi gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra
chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt
bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là
tiền gửi thanh toán
c. Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thay mặt thực hiện thanh toán giá trị
hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng
séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
4

để lấy tiền trước ). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho
vay trực tiếp đối với các khách hàng ( là người mua ), giúp họ có vốn để mua hàng
dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.

Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá
nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ khá
cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc
các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình
tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
5
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ

Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng
trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các
ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song
lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào bất động sản.
c. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không
chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán
qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền
không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách
( còn được gọi là séc ), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền.
Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm chi phí ) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập
cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân
hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất
được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi tiền viết séc

f. Bảo lãnh.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho
khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát
triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa
và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác
g. Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có nhiều chuyên gia về
quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý
tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác
vay hộ, ủy phát cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư Thậm chí các ngân
hàng đóng vai trị là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách
hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách
hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng
tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp
h. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán.
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thừa mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các
ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến
kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công
ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
i. Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc
văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng cung cấp dịch vụ đại lý cho các ngân
hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi , làm ngân hàng đầu
mối trong đồng tài trợ
1.1.3. Các loại hình ngân hàng thương mại
Có thể chia ngân hàng thương mại theo nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc

thực hiện một số mục tiêu nhất định thường là do chính sách của chính quyền trung
ương hoặc địa phương quy định. Tại các nước đi theo con đường phát triển Xã hội
Chủ nghĩa, Nhà nước thường quốc hữu hóa các ngân hàng tư nhân hoặc cổ phần
lớn, hoặc tự xây dựng nên các ngân hàng. Những ngân hàng sỡ hữu nhà nước
thường được nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất
ít khi bị phá sản. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, các ngân hàng này phải thực
hiện chính sách của nhà nước có thể gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh.
'!
Ngân hàng này được hình thành dựa trên góp vốn của 2 hoặc nhiều bên,
thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng các ưu
thế của nhau.
2 !"34+5
6+5+7
Ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh: loại ngân hàng này chỉ tập
trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ
bản, hoặc đối với nông nghiệp hoặc chỉ cho vay Tính chuyên môn hóa cao cho
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
8
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
phép ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ.
Tuy nhiên, loại ngân hàng này thường gặp rủi ro lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt
động mà ngân hàng phục vụ sa sút. Ngân hàng đơn năng thường là ngân hàng nhỏ,
phạm vi hoạt động hẹp, trình độ cán bộ không đa dạng, hoặc là những ngân hàng sở
hữu của công ty.
Ngân hàng đa năng : là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi
đối tượng. Đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương
mại. Ngân hàng đa năng thường là ngân hàng lớn ( hoặc sở hữu công ty ). Tính đa
năng sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro.
(6+5((,!(8

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
dịch vụ ngân hàng trong vùng
EFJF-I$KL$%&(I=''
1.2.1. Một số vấn đề cơ bản về DNVVN
29':
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Các doanh nghiệp
vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp ngày càng phổ biến ở hầu hết các nước trên
thế giới. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới
quy mô doanh nghiệp giữa các nước đó. Ở nhiều nước trên thế giới, người ta dựa
vào hai tiêu thức chủ yếu là quy mô về vốn và lao động để phân loại doanh nghiệp
thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, việc lượng hóa quy
mô vừa và nhỏ theo tiêu thức vốn và lao động chỉ mang tính tương đối, bởi hai tiêu
thức này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển của mỗi nước, tính chất
từng ngành nghề, tính chất vùng, lãnh thổ, tính chất lịch sử
Ở Việt Nam, theo điều 3 nghị định của chính phủ số 56/2009/ND-CP của chính
phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có núi
;<=:.>?$%@+A+7@B@"C+D
)..EF+4.;$?F?F>"C,*G
H-*GH*$I+J+D(I!+H@K)
:.0L$H+5( C!7-*GH30M
Với tiêu chí xác định như trên thì tỷ trọng DNVVN hiện nay đã tăng lên đáng
kể với số lượng trên 120.000 doanh nghiệp, chiếm khoảng hơn 95% tổng số doanh
nghiệp trong cả nước. Đa phần các DNVVN hoạt động trong các lĩnh vực Thương
mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, xây dựng và vận tải với mức đóng góp đáng kể
trong cơ cấu GDP hằng năm của đất nước.
223.!
Nói đến DNVVN là nói đến phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay quy
mô các doanh nghiệp. Việc phân loại DNVVN phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng
quy định, giới hạn các tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp.Tuy nhiên, không

Từ 10
người đến
200 người
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
Công
nghiệp và
xây dựng
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
Từ 10
người đến
200 người
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
Thương
mại và dịch
vụ
10 người
trở xuống

1.2.1.3.2. Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng kể về cả chất
lượng, số lượng cũng như chủng loại
Các công ty, DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên để sản
xuất ra hàng hóa. Để có thêm sức cạnh tranh đối với các công ty và các tập đoàn
lớn, hàng hóa của họ tập trung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
11
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội để được lựa chọn. Bên cạnh đó họ cũng tiến
vào nhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu của nó quá ít.
1.2.1.3.3. Tăng nguồn tiết kiệm cho dân địa phương
Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở ra ở địa phương nào đều có chủ
doanh nghiệp và người lao động ở địa phương đó. Khi các doanh nghiệp loại đó
được mở ra thì người dân lao động ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu
nhập. Từ đó làm tăng nguồn tiết kiệm cho dân địa phương.
1.2.1.3.4. Làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn
Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị
kinh tế nhỏ hơn chúng vì một lý do đơn giản là quy mô của chúng quá lớn, bộ máy
làm việc cồng kềnh. Các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt,
thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn. Một nền kinh tế đặt
một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô
lớn sẽ trở nên chậm chạp không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị
trường. Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNVVN sẽ trở nên
"nhanh nhạy" hơn, phản ứng kịp thời hơn. Tính hiệu quả của nên kinh tế sẽ được
nâng cao.
1.2.1.3.5. Phát huy và tận dụng các nguồn lực của địa phương, góp phần tăng
trưởng kinh tế
Một đất nước bao giờ cũng có vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Đó là các
khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển hoặc xa tuyến

hàng thủ công. Trong xã hội luôn tồn tại nhu cầu đối với các sản phẩm truyền
thống, vấn đề là phải làm cho những khách hàng đó biết đến sản phẩm của mình.
Loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nói là thích hợp cho sản xuất thủ
công. Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh,
quảng cáo. Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành
nghề này và đó cũng là một điều cần phải xảy ra đối với thời đại công nghiệp.
2P'&KK)='NN'
1.2.1.4.1. Ưu thế của DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những ưu thế rõ ràng, đó là khả năng thừa mãn
nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng
nhiều lao động với trình độ kỹ thuật lao động trung bình thấp, đặc biệt là rất linh
hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với những nhu cầu thay đổi của thị
trường. DNVVN có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các
doanh nghiệp lớn nên sẽ ít bị gây khó dễ khi tham gia vào thị trường, sẵn sàng phục
vụ những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường vì các
doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt vào các thị trường có
các nhu cầu lớn. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình sản xuất có địa điểm sản
xuất phân tán, tổ chức chỉ đạo bộ máy gọn nhẹ nên có nhiều điểm mạnh
=QE.F(5R+ST7+5F(U1
+*)DVF,VJC
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện
sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động được rồi. Vòng quay sản phẩm
nhanh và quy mô sản xuất không lớn lắm nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay
mượn bạn bè, người thân dễ dàng. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ đưa ra các
quyết đinh khi chỉ có một ít người quản lý. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng
như quy mô nhỏ của nó doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện sự thay đổi nhu cầu
của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động
sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Từ đó doanh nghiệp sẽ
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
13

năng "sinh tồn" trên thị trường.
"='NN',E+$^3>.33.)
Biết được tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển
nền kinh tế của đất nước, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định nhằm hỗ trợ
DNVVN, trong đó có nghị định 56/2009/NĐ-CP. Trong nghị định này Chính phủ
đã tập trung vào trợ giúp tài chính, trợ giúp về mặt bằng sản xuất, trợ giúp về đổi
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
mới nâng cao công nghệ kỹ thuật, trợ giúp về việc xúc tiến thị trường, trợ giúp về
thông tin tư vấn, trợ giúp về phát triển nguồn nhân lực.
1.2.1.4.2. Hạn chế của DNVVN.
Các hạn chế của DNVVN xuất phát từ 2 nguyên nhân : nguyên nhân xuất
phát từ khách quan bên ngoài và nguyên nhân từ chính các lợi thế của DNVVN.
=@I73)='NN'OZK
Hạn chế đầu tiên và cũng là hạn chế lớn nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ
đó chính là hạn chế về vốn. Do DNVVN được thành lập dựa trên sơ vốn ban đầu
khá ít nên tình trạng thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay tiến hành đổi
mới công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và
tính cạnh tranh trên thị trường.
(_5`,!OZK@UF,:$IJ4OZE
Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí
quyết cũng như trình độ kỹ thuật còn yếu kém, không có tính sáng tạo trong công
việc. Điều đó dẫn đến là đội ngũ công nhân không đủ khả năng sản xuất để đáp ứng
với các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được sản xuất và hiệu quả kinh doanh.
Một thực trạng còn rất nan giải đối với rất nhiều DNVVN hiện nay là thiết bị
công nghệ còn nhiều lạc hậu ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất cũng như chất
lượng sản phẩm. Do đó, sức cạnh tranh của các DNVVN sẽ giảm sút rất nhiều so
với các tập đoàn lớn, những tập đoàn lớn thường có dây chuyền công nghệ hiện đại,

điều đó, nhà nước đã ban hành các luật liên quan đến hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại đối với khách hàng.
“6+5)!+H1@5
C:Z$I-ZL$I0&(-'6b0(+F
+W(]$I(+$cd5V4
+D"?EF+GV(+W:I,+Z@:H
HA(@+K.”
222.#+H1='NN'
Việc tạo ra các phương thức cho vay khác nhau của ngân hàng là một việc hêt
sức cần thiết. Việc này sẽ làm cho doanh nghiệp có thể vay ngân hàng theo từng
phương thức khác nhau sao cho phù hợp với tình hình tài chính, môi trường sản
xuất của doanh nghiệp minh, từ đó tạo ra thuận lợi trong việc huy động vốn của
doanh nghiệp. Nó cũng làm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng ngày
càng phát triển hơn, tạo ra những khách hàng bền vững cho khách hàng. Nếu đa
dạng hóa được các phương thức cho vay thì sẽ thu hút được rất nhiều khách hàng
tiềm năng cho ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng thương mại thực hiện các hình
thức cho vay sau:
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
16
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
22a"W
Cho vay ngắn hạn theo món là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương
mại mà theo đó làm một bộ hồ sơ vay một lần nhất định với mức tín dụng ngân
hàng và khách hàng thừa thuận.
Người vay phải làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay với lãi suất, thời hạn trả
tiền và số tiền nhất định. Ưu điểm của phương thức này là thủ tục rõ ràng, ngân
hàng chủ động trong việc cho vay. Phương thức này cũng khá phổ biến ở Việt Nam
do doanh nghiệp không cần vốn thường thường xuyên, trong khi ngân hàng với
nghiệp vụ chưa cao nên cho vay theo hình thức này ít rủi ro hơn. Nhược điểm của

22f"#4
NHTM cung cấp cho khách hàng một hạn mức thấu chi,qua đó khách hàng có
thể chi vượt số tiền trên tài khoản của khách hàng tại NHTM đó trong một khoảng
thời gian nhất định hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong quá
trình thanh toán,chủ động,kịp thời.
Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn,linh hoạt,thủ tục đơn giản,phần lớn là
không có tài sản đảm bảo,có thể thế chấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày,tháng trong
năm,dùng để trả lương,chi các khoản phải nộp,mua hàng Hình thức này nhìn chung
chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy cao,thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn .
22gK@4#>W
Chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn do các tổ chức
tín dụng nhận được các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán của các doanh
nghiệp và trả cho một số tiền bằng số tiền ghi trên chứng từ có giá trị trừ đi phần lợi
tức ngân hàng được hưởng. Tỉ lệ phần trăm giữa phần lợi tức ngân hàng được
hưởng so với số tiền ghi trên chứng từ có giá gọi là lợi suất chiết khấu.
Chứng từ có giá được nhận chiết khấu bao gồm các loại thương phiếu có kỳ
hạn như lệnh phiếu, hối phiếu, trái phiếu ngắn hạn…do các đơn vị được phép phát
hành hợp pháp, còn thời hạn thanh toán và được bảo toàn mệnh giá.
Khi chiết khấu chứng từ có giá các doanh nghiệp phải theo các quy định sau đây:
1, Làm đơn xin chiết khấuvà nộp bảng kê có kèm theo các bản gốc của những
chứng từ xin chiết khấu.
2,Tổ cức tín dụng xem xét và tính toán trong ngày làm việc và chọn các chứng từ
có giá có thể chấp nhận chiết khấu và báo cho doanh nghiệp biết mức tiền chiết khấu.
3, Khi chiết khấu, tổ chức tín dụng khấu trừ ngay phần lợi tức được hưởng
theo chiết khấu từ 80-120% mức sinh lợi của chứng từ xin chiết khấu, số tiền còn
lại xin chuyển vào tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp xin chiết khấu hoặc trả tiền
mặt hay ngân phiếu. Trường hợp chứng từ có giá không ghi rõ lợi suất chiết khấu
thì tổ chức tín dụng tính suất chiết khấu bằng lãi suất cho vay.
4,Thời hạn chiết khấu tối đa bằng thời hạn có hiệu lực của chứng từ chiết khấu
nhưng không quá 3 tháng.

phải có tài sản đảm bảo. Lý do cho điều này là các doanh nghiệp thường gặp rủi ro
trong kinh doanh, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi bị ảnh hưởng hoặc không thể
trả được. Những biến cố không mong đợi này thường gây ảnh hưởng lớn cho ngân
hàng vì bị mất đi một phần vốn của mình. Chính vì vậy, trừ những doanh nghiệp có
uy tín cao thì hầu hết các doanh nghiệp còn lại phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín
dụng của ngân hàng. Đặt điều kiện phải có tài sản đảm bảo để các ngân hàng có thể
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
19
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
thu hồi nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn trả nợ thứ nhất không thể thực hiện được.
2)d4.3d='NN'OEFV
Vì DNVVN thường là những DN mới thành lập chưa có nhiều uy tín,chưa
được minh bạch về tài chính và cũng chưa có nhiều thông tin đối với ngân hàng nên
quá trình đánh giá,thẩm định thường khắt khe,chặt chẽ hơn nhăm giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động cho vay đối với các DN lớn làm ăn lâu năm. Do vậy nên việc cấp
tín dụng cho DNVVN còn có nhiều thủ tục rườm rà, mât nhiều thời gian cho doanh
nghiệp cũng như làm mất đi cơ hội trong kinh doanh của DNVVN.
2P:3$A$4+H1='NN'
Có đến 41% kêu gọi hỗ trợ từ phía Chính phủ nhằm cắt giảm lãi suất vay vốn,
giảm bớt gánh nặng tài chính, vì hiện tại một số ngân hàng vẫn áp dụng mức lãi suất
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên 14% một năm. Mức này vượt khả năng
chịu đựng của doanh nghiệp. Trong khi đó, 23% cho rằng họ cần hỗ trợ tài chính để
nâng cấp công nghệ và trang thiết bị, 19% mong muốn Chính phủ sẽ có chính sách
hỗ trợ thương hiệu Việt. Do vậy trên cơ sở lãi suất cơ bản từng thời kỳ,áp dụng cơ
chế lãi suất ưu đãi đối với các DNVVN,đảm bảo mức lãi suất cho vay đối với các
DNVVN thấp hơn từ 0,5% - 1%/năm so với mức cho vay thông thường.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay đối với DNVVN của
ngân hàng thương mại.
2P'!H)C

(NHTM) nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.
Thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại nên
các ngân hàng đã đưa ra những chính sách tín dụng khác nhau nhằm tìm kiếm
khách hàng, tăng lợi nhuận từ hoạt động chủ chốt này. Hoạt động tín dụng của mỗi
NHTM đều căn cứ, tuân thủ và xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng.
Chính sách tín dụng, có thể coi như một cương lĩnh tài trợ của một NHTM, bao
gồm các quan điểm, chủ trương, định hướng, quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng
và đầu tư của NHTM. Chính sách tín dụng tạo sự thống nhất chung trong hoạt động
tín dụng, tạo đường hướng, chỉ dẫn cho cán bộ tín dụng. Để có thể đảm bảo mục
tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững hoạt động tín dụng,
nhất thiết phải xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và hợp lý, thích ứng với
môi trường kinh doanh, phù hợp với đặc điểm của NHTM, phát huy được các thế
mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi.
Trong giai đoạn bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa thị trường ngân hàng, trước
sự cạnh tranh của các ngân hàng đối thủ nước ngoài, nguy cơ thị phần tín dụng của
NHTM bị co hẹp ngày một gần hơn thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng
đảm bảo an toàn, phát triển cần bắt đầu ngay từ việc cải cách chính sách tín dụng.
Hiện tại các NHTM đã bước đầu xây dựng chính sách tín dụng, nhưng vẫn chưa
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
21
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, chưa thực sự phát huy hiệu quả quản lý
ở Trụ sở chính và thực thi thông suốt ở các đơn vị trực thuộc và ở mỗi cán bộ tín
dụng. Có thể nêu cụ thể một số việc như: xác định ngành hàng chiến lược, khách
hàng chiến lược vẫn còn lúng túng; tăng trưởng tín dụng chưa đi kèm với quản lý
rủi ro tín dụng; chính sách lãi suất cho vay còn cứng nhắc, mức lãi suất cho vay hầu
như giống nhau đối với với tất cả các khoản vay; một số NHTM đã thực hiện tách
các chức năng quan hệ khách hàng, thẩm định rủi ro, quyết định tín dụng, quản lý
nợ nhưng mới chỉ về mặt hình thức tổ chức, thiếu tính độc lập, khách quan. Một

Các DNVVN luôn muốn có thể tiếp cận được nhiều hơn tới nguồn vốn của
ngân hàng. Nếu các DNVVN báo cáo một cách đầy đủ, minh bạch, sử dụng vốn
đúng mục đích kinh doan, thực hiện vay và trả tốt thì có thể tiếp cận được nhiều hơn
đối với nguồn vốn đó. Tuy nhiên, nếu các DNVVN cố tình báo cáo sai lệch các
thông tin, sử dụng vốn sai mục đích thì sẽ không thể tiếp cận được với nguồn vốn
của ngân hàng. Các ngân hàng sẽ mất dần niềm tin đối với các DNVVN từ đó sẽ
thắt chặt các biện pháp đảm bảo tiền vay. Như vậy thì sẽ càng hạn chế khả năng tiếp
cận vốn của các DNVVN.
3$.]@K)+41
Chính sách phát triển kinh tế ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến việc mở rộng
tín dụng của ngân hàng đối với DNVVN. Sự thay đổi các chính sách vĩ mô của nhà
nước sẽ gây nên những biến động lớn đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng đối
với nền kinh tế nói chung và đối với DNVVN nói riêng.
Dựa trên cơ sở các đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và
Nhà nước thì các DNVVN sẽ xác định được các mục tiêu kinh doanh của mình, cân
đối tài chính để xác định nhu cầu vay vốn ngân hàng. Đồng thời, các ngân hàng
thương mại sẽ căn cứ vào các đường lối, chủ trương, chính sách này này nhằm xác
định cơ cấu tín dụng của mình một cách có hiệu quả nhất.
Hiện nay, các chủ trương chính sách vĩ mô của nhà nước thay đổi nhanh
chóng đã gây ảnh hưởng rât lớn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp, trong đó
có các DNVVN. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu cũng tác
động một cách mạnh mẽ đến quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng cũng như chất lượng tín dụng của ngân
hàng đối với doanh nghiệp.
b,V..B
Như ta đã biết, hoạt động của các ngân hàng có vai trò và ảnh hưởng rất lớn
đến nền kinh tế của trong nước. Khi các ngân hàng bị ảnh hưởng thì hoạt động chu
chuyển vốn trong nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng theo, mà các doanh nghiệp cần
thiết nhất vẫn là vấn đề về vốn, do đó ảnh hưởng dây chuyền đến các doanh nghiệp
và người dân. Thấy được sự quan trọng và tầm ảnh hưởng của các ngân hàng như

nghiệp. Chính vì thế nó sẽ ảnh hưởng đến họat động tín dụng của doanh nghiệp đó.
Thái độ của các cơ quan chính quyền cũng có ảnh hưởng rất lớn đến họat
động của các DNVVN. Nó được biểu hiện qua cách xử sự cũng như tinh thần phục
vụ và hỗ trợ cho các DNVVN. Thái độ của các phương tiện thông tin đại chúng
cũng đóng góp tích cực vào sự chuyển biến thái độ tâm lý xã hội đối với các
DNVVN.
Như vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các DNVVN chịu ảnh
hưởng của rất nhiều yếu tố, không chỉ từ phía ngân hàng, từ phía DNVVN mà còn các
yếu tố như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính trị, xã hội…chính vì vậy, để
có thể tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN thì cần phải có sự phối
hợp một cách nhuần nhuyễn và chặt chẽ giữa tất cả các phía trong tổng thể này.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
24
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay đối với DNVVN của ngân
hàng thương mại
2e=$H+H1='NN'
Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay trong kỳ
đó. Nó là chỉ tiêu phản ánh chính xác giá trị tuyệt đối về hoạt động cho vay đối với
các DNVVN của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định.
Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ ngân hàng họat động tốt và ngân hàng đang mở
rộng hoạt động cho vay của mình còn ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ
ngân hàng đang hạn chế hoạt động cho vay. Điều đó có thể bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân khác nhau như khả năng họat động của ngân hàng hay là sự thay đổi
trong chiến lược hoạt động của ngân hàng…
Trong một số trường hợp thì chỉ tiêu này cao cũng không hẳn đã tốt, nó còn
phụ thuộc vào cơ cấu dư nợ cho vay nằm trong nhóm nợ nào. Nếu dư nợ cho vay
nằm trong nhóm nợ không thể thu hồi được vốn thì chỉ tiêu này cao cũng càng làm
ngân hàng mất đi nguồn vốn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status