giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán thẻ tại ngân hàng công thương việt nam chi nhánh đống đa - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thẻ ngân hàng xuất hiện là sự kết hợp của khoa học kỹ thuật với công nghệ
quản lý ngân hàng. Sự ra đời của thẻ là một bước tiến vượt bậc trong hoạt động
thanh toán thông qua ngân hàng. Thẻ ngân hàng có những đặc điểm của một
phương tiện thanh toán hoàn hảo:
- Đối với khách hàng, thẻ đáp ứng được về tính an toàn cao, khả năng
thanh toán nhanh, chính xác.
- Đối với ngân hàng, thẻ góp phần giảm áp lực tiền mặt, tăng khả năng huy
động vốn phục vụ cho yêu cầu mở rộng hoạt động tín dụng, tăng lợi nhuận nhờ
khoản phí sử dụng thẻ.
Chính nhờ những ưu điểm trên mà thẻ ngân hàng đã nhanh chóng trở thành
một phương tiện thanh toán thông dụng ở các nước phát triển cũng như trên thế
giới.
Nắm bắt được nhu cầu này, từ đầu những năm 90, Ngân hàng Công thương
Việt Nam đã chủ trương đưa dịch vụ thẻ vào ứng dụng tại Việt Nam. Sau hơn 20
năm hoạt động trong lĩnh vực này, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã thu được
những thành tựu nhất định. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn không ít những khó khăn
hạn chế để có thể phát triển dịch vụ thẻ trở nên phổ biến ở Việt Nam. Nhận thức
được vấn đề này, sau quá trình tìm hiểu về hoạt động thẻ tại Ngân hàng Công
thương, em đã chọn đề tài “Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng
dịch vụ thanh toán thẻ tại Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Đống
Đa.” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp so sánh, ngoài ra bài viết
còn sử dụng phương pháp biện chứng và diễn dịch. Bài viết đã đi sâu vào tìm hiểu
các sản phẩm thẻ mà ngân hàng Công thương Đống Đa cung ứng và từ đó đưa ra
kiến nghị để nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán thẻ.
3. Mục đích nghiên cứu

Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Sự ra đời và phát triển của thẻ ngân hàng
1.1.1. Trên thế giới
Thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại
và hữu ích. Vào năm 1914 tại Mỹ chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện bắt
nguồn từ việc chuyển tiền Wester Union cung cấp cho khách hàng dịch vụ trả chậm
bằng các phát hành những tấm kim loại có thông tin in nổi để nhận diện khách hàng
trên bề mặt tấm kim loại này.
Năm 1949, một doanh nhân người Mỹ ông Frank Mc Namara có một lần sau
khi dùng bữa tối tại một nhà hàng, ông bỗng phát hiện ra mình không mang theo
tiền mặt. Ông phải gọi điện cho vợ nhanh chóng mang tiền đến thanh toán. Tình
trạng khó xử này đã khiến ông đưa ra ý tưởng thanh toán không dùng tiền mặt. Năm
1950 ông cùng người bạn tên là Ralph đã sáng lập ra thẻ tín dụng mang tên “Diners
Club” với chi phí là 5$ cho người sử dụng thẻ này.
Theo chân “Diners Club”, hàng loạt thẻ mới ra đời như Trip Charge, Golden
Key, Gourmet Club, Espire Club và đến năm 1995, Carte Blanche và American
Express ra đời (1958) và thống lĩnh thị trường.
Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là
BANKAMERICARD. Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập
Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao
dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank
Card Association thành Western State Bank Card Association và tổ chức này đã liên
kết với Interbank cho ra đời thẻ MASTER CHARGE, loại thẻ này đã nhanh chóng
trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD. Đến năm 1977, tổ
chức BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USD và sau đó là tổ chức thẻ quốc
tế VISA. Năm 1979, tổ chức thẻ MASTER CHARGE đổi tên thành MASTER
CARD. Hiện nay, 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển

những thành tựu của kĩ thuật vi điện tử, một số loại thẻ được gắn thêm một con chip
điện tử nhằm tăng khả năng ghi nhớ thông tin và tính bảo mật cho thẻ.
Hầu hết các loại thẻ tín dụng quốc tế ngày nay đều được cấu tạo bằng nhựa
cứng (plastic), có kích cỡ 84mm x 54mm x 0,76mm, có góc tròn gồm hai mặt:
 Mặt trước của thẻ bao gồm:
- Tên, biểu tượng thẻ và huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ.
- Số thẻ: là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ. Số này được dập nổi trên thẻ và
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
sẽ được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng. Tuỳ theo từng loại thẻ mà có số
chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.
- Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ được lưu hành.
- Họ và tên của chủ thẻ.
- Số mật mã đợt phát hành (chỉ có ở thẻ AMEX).
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như hình của chủ thẻ, hình nổi không gian 3
chiều và chuyển động khi bạn thay đổi góc nhìn, con chíp ( đối với thẻ thông minh).
 Mặt sau của thẻ bao gồm:
- Dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin như: số thẻ, ngày hiệu
lực, tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành, số PIN.
- Băng chữ ký mẫu của chủ thẻ.
Trên thế giới hiện nay, có nhiều loại thẻ do các tổ chức khác nhau phát hành
nhưng dù là loại thẻ nào thì về cơ bản cũng có đặc điểm nêu trên nhằm đảm bảo an
toàn và thuận tiện cho các bên tham gia.
1.2.3. Phân loại
Hiện nay trên thị trường thẻ ngân hàng được lưu hành rất đa dạng và phong
phú, để phân loại thẻ ta có thể dựa trên nhiều tiêu thức. Tuy nhiên việc phân loại chỉ
mang tính tương đối chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích.

lưu hành trên toàn thế giới. Thẻ cũng được sử dụng trên phạm vi toàn cầu với các
quy trình thanh toán không khác nhiều so với thẻ do ngân hàng phát hành. Với loại
thẻ này yêu cầu chủ thẻ đến cuối tháng phải thanh toán toàn bộ số dư nợ vào tài
khoản và công ty sẽ trực tiếp thực hiện nghĩa vụ thẻ, thu phí từ chủ thẻ và CSCNT.
1.2.3.3. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ
Thẻ tín dụng (Credit Card): đây là loại thẻ mà khi sử dụng, chủ thẻ được ngân
hàng phát hành cấp một hạn mức tín dụng theo qui định và không phải trả lãi nếu
chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại
những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn… chấp nhận loại thẻ này.
Thẻ ghi nợ (Debit Card): là phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ
hay rút tiền mặt trên cơ sở số tiền có trong tài khoản của chủ thẻ tại ngân hàng. Thẻ
ghi nợ có hai loại cơ bản:
 Thẻ on-line là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập
tức vào tài khoản của chủ thẻ khi xuất hiện giao dịch.
 Thể off-line là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào
tài khoản của chủ thẻ sau khi giao dịch được thực hiện vài ngày.
Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là một hình thức của thẻ ghi nợ song chỉ có một
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
chức năng là rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng. Với
chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần
vào số tiền ký quỹ.
1.2.3.4. Phân loại theo hạn mức tín dụng
Thẻ thường (Standard Card): Đây là loại thẻ căn bản nhất, là loại thẻ mang
tính chất phổ biến, đại chúng, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi
ngày. Hạn mức tối thiểu tuỳ theo Ngân hàng phát hành qui định (thông thường
khoảng 1000 USD).

có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay CSCNT, mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn
thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép cho ngân hàng thành
viên một cách nhanh chóng.
Ngân hàng phát hành(NHPH): là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức
thẻ hoặc công ty thẻ trong việc phát hành thẻ mang thương hiệu của mình. NHPH
trực tiếp tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài
khoản thẻ của khách hàng, quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho
khách hàng là chủ thẻ.
Ngân hàng thanh toán (NHTT): là ngân hàng chấp nhận các giao dịch thẻ
như một phương tiện thanh toán thông qua việc kí kết các hợp đồng chấp nhận thẻ
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
8
Ngân hàng
phát hành
Tổ chức
thẻ quốc tế
Ngân hàng
thanh toán
Cơ sở
chấp nhận thẻ
Chủ thẻ
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
với các điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Qua việc kí kết hợp đồng, các địa điểm
cung cấp hàng hóa, dịch vụ này được chấp nhận vào hệ thống thanh toán thẻ của
NH, NH sẽ cung cấp các thiết bị đọc thẻ, đào tạo nhân viên về dịch vụ thanh toán
thẻ, quản lí và xử lí những giao dịch thẻ diễn ra tại địa điểm này. Trên thực tế, rất
nhiều NH vừa là NHPH vừa là NHTT.
Chủ thẻ: là cá nhân hay người được uỷ quyền được ngân hàng cho phép sử

khách hàng. Đối với thẻ ghi nợ, việc phát hành thẻ đơn giản vì khách hàng đã có tài
khoản tại ngân hàng. Đối với thẻ tín dụng, ngân hàng phải tiến hành phân loại
khách hàng để có một chính sách tín dụng riêng. Thông thường có hai loại hạn mức
tín dụng(HMTD):
 Hạn mức theo thẻ vàng: thường cấp cho các nhân vật quan trọng, có thu
nhập cao và ổn định. HMTD theo thẻ vàng thường cao hơn nhiều so với thẻ thường.
 Hạn mức thẻ thường: HMTD theo thẻ thường thấp hơn nhiều so với thẻ
vàng, chủ yếu cung cấp cho người bình dân. Nhưng khách hàng cũng phải thuộc
loại đủ tiêu chuẩn để nhận thẻ tín dụng.
Sau khi thẩm định và phân loại khách hàng, nếu khách hàng đáp ứng đủ điều
kiện, ngân hàng tiến hành phát thẻ cho khách hàng. Trước khi giao thẻ ngân hàng
yêu cầu chủ thẻ ký tên và đăng ký chữ ký mẫu ở ngân hàng. Sau đó bằng kỹ thuật
riêng, từng ngân hàng tiến hành ghi những thông tin cần thiết về chủ thẻ lên thẻ,
đồng thời ấn định và mã hóa mã số cá nhân (số PIN) cho chủ thẻ, nhập dữ liệu về
chủ thẻ vào tập tin quản lý.
Khi ngân hàng giao thẻ cho khách hàng thì giao luôn số PIN và yêu cầu chủ
thẻ giữ bí mật. Nếu mất tiền do để lộ số PIN, chủ thẻ hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sau khi giao thẻ cho khách hàng coi như nhiệm vụ phát hành thẻ kết thúc.
Thời gian kể từ khi khách hàng đề nghị mua thẻ đến khi nhận được thẻ thường
không quá 6 ngày.
1.3.2.2. Quy trình thanh toán thẻ
Sơ đồ 1.3:
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
10
Chủ thẻ Ngân hàng
phát hành
Tổ chức thẻ
quốc tế
Cơ sở

 Tại ngân hàng phát hành: khi nhận thông tin dữ liệu từ trung tâm sẽ tiến
hành thanh toán. Định kỳ trong tháng, ngân hàng phát hành lập bảng sao kê báo cho
chủ thẻ các khoản thẻ đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán (đối với thẻ tín
dụng).
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
1.4. Vai trò của thẻ đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.4.1. Đối với hoạt động huy động vốn
Thẻ ghi nợ là thẻ phát hành dựa trên cơ sở tài khoản mở tại ngân hàng. Do đó
số lượng thẻ phát hành ngày càng nhiều thì số lượng tài khoản ngày càng tăng.
Thông qua đó nguồn vốn của ngân hàng cũng tăng một khoảng tương ứng. Với thẻ
tín dụng thì nó là một loại hình tín dụng là một hình thức đầu tư nhưng lại có tác
dụng làm tăng trưởng vốn huy động của ngân hàng. Mặt khác trong có chế phát
hành thanh toán thẻ tín dụng các cơ sở chấp nhận thẻ ( CSCNT) đều phải có tài
khoản tại ngân hàng. Mỗi khi thanh toán số giao dịch của thẻ phát sinh, CSCNT gửi
hóa đơn thanh toán lên ngân hàng và ngân hàng sẽ căn cứ vào đó ghi có vào tài
khoản tiền gửi của CSCNT. Chính điều đó làm tăng số dư tài khoản và tăng tồn quỹ
của ngân hàng. Đến ngày thanh toán định kỳ, chủ thể sẽ thanh toán toàn bộ khoản
tín dụng làm tồn quỹ ngân hàng sẽ tăng lên trên thực tế. Đây là hình thức huy động
vốn của ngân hàng vừa là NHTT vừa là NHPH.
1.4.2. Đối với hoạt động tín dụng
Với hình thức thẻ tín dụng, ngân hàng có thể thực hiện hoạt động cho vay
theo hạn mức tín dụng nhất định cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn mức ấy. Sau đó
theo định kỳ ngân hàng sẽ gửi hóa đơn thanh toán dành cho chủ thẻ. Nếu chủ thẻ trả
đầy đủ thì sẽ không phải trả lãi. Tuy nhiên trên thực tế phần lớn khách hàng chỉ trả
đủ để duy trì hạn mức. phần còn lại họ sẵn sàng chịu lãi nếu mức lãi suất tương đối
thấp. Như vậy với hình thức phát hành thẻ tín dụng ngân hàng đã mở rộng hoạt

nhưng khối lượng giao dịch trong ngày là nhiều. Do đó trong một ngày ngân hàng
có thể thanh toán được hàng triệu giao dịch thông qua đó ngân hàng thu được khoản
lợi nhuận từ hoạt động thu phí thanh toán thẻ. Bên cạnh đó riêng với thẻ ghi nợ khi
thanh toán thì khách hàng đang sử dụng chính số dư trong tài khoản của mình ở
ngân hàng nên ngân hàng không cần phải bỏ vốn kinh doanh mà vẫn phải thu được
lợi nhuận.
Chính vì vậy, hiện nay thị trường thẻ đang sôi động và có tính cạnh tranh cao.
Các ngân hàng bằng cách này hay các khác đều háo hức nhảy vào thị trường thẻ.
1.4.5. Đối với hoạt động khác
Phương thức thanh toán thẻ đã góp phần làm đa dạng hóa danh mục sản phẩm
dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Đây là phương thức thanh toán phổ biến và rất
được ưa chuộng làm tăng tính hấp dẫn của ngân hàng. Việc gia nhập các TCTQT,
ngân hàng đã tạo dựng cho mình những bước phát triển vững chắc trong quan hệ
kinh doanh với nhiều ngân hàng và tổ chức kinh doanh lớn, củng cố uy tín của ngân
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
hàng.
1.5. Các tiện ích khi sử dụng thẻ
1.5.1. Đối với chủ thẻ
Khi sử dụng thẻ, chủ thẻ đã được ngân hàng cung cấp một dịch vụ thanh toán có
độ bảo mật cao, độ tiện dụng lớn, do đó chủ thẻ có thể yên tâm hơn về tiền của mình.
Thêm nữa, khi những cơ sở thanh toán thẻ ngày càng nhiều, các máy ATM ngày càng
trở nên phổ biến, thẻ sẽ là một công cụ thanh toán lí tưởng cho các chủ thẻ.
Với việc ngân hàng có thẻ cấp tín dụng trước cho khách hàng để thanh toán
hàng hóa dịch vụ mà không bị tính bất kì một khoản lãi nào, ngân hàng giúp mở
rộng khả năng thanh toán cho khách hàng. Ngoài ra, khi khách hàng có số dư trên
tài khoản, nếu khách hàng không sử dụng, số dư này sẽ được hưởng mức lãi suất

quen tiêu dùng tiền mặt trong dân cư. Qua đó làm giảm khối lượng tiền trong lưu
thông góp phần tránh tình trạng lạm phát. Bên cạnh đó hệ thống ngân hàng sẽ dễ
dàng kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng tạo điều kiện cho NHNN hoạch định
chính sách tiền tệ cũng như chính sách vĩ mô khác có hiệu quả góp phần đưa nền
kinh tế phát triển ổn định.
1.6. Các rủi ro trong việc phát hành thẻ
Việc phát triển dịch vụ thẻ luôn đi kèm với rủi ro. Hiện nay vấn đề gian lận
trong phát hành và thanh toán thẻ trên thế giới đã lên đến con số báo động, chẳng
hạn ở Mỹ : thẻ tín dụng quốc tế rủi ro đến 856,3 triệu USD, ở Anh 509,8 triệu bảng
vào năm 2011… ở Việt Nam hiện nay những rủi ro này đang ngày càng tăng và cần
có những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn kip thời.
1.6.1. Rủi ro với chủ thẻ
Mỗi chủ thẻ có một mã PIN cá nhân để thực hiện giao dịch, nếu mã PIN này
bị lộ và bị lợi dụng khách hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Trường hợp thẻ bị
mất hoặc thất lạc mà khách hàng không báo cho ngân hàng trong thời gian quy
định, nếu có rủi ro thì khách hàng phải chịu thiệt hại. Khách hàng có thể gặp phải
rủi ro do không nhận được thẻ của ngân hàng phát hành bằng đường bưu điện hoặc
thẻ bị đánh cắp trên đường đi, lúc này thẻ bị lợi dụng mà chủ thẻ đích thực không
biết về việc thẻ của mình bị lợi dụng.
1.6.2. Rủi ro về phía ngân hàng
Rủi ro trong ngân hàng : rủi ro do ứng dụng công nghệ không phù hợp, nguy
hiểm nhất vẫn là rủi ro về đạo đức nghề nghiệp của một số nhân viên ngân hàng khi
cấu kết với kẻ xấu gắn trộm máy ghi hình, máy đọc thẻ để lấy dữ liệu sau đó là giả
thẻ để rút tiền.
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
Rủi ro ngoài ngân hàng: khách hàng cố tình đưa ra những thông tin không

NHG-K11
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
được tiến hành trong một khuôn khổ pháp lý nhất định. Các quy chế, quy định về
thẻ sẽ gây ra ảnh hưởng 2 mặt: có thể theo hướng khuyến khích việc kinh doanh và
sử dụng thẻ nếu có những quy chế hợp lý, nhưng mặt khác những quy chế quá chặt
chẽ, hoặc quá lỏng lẻo có thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực tới việc phát hành
và thanh toán thẻ.
Môi trường công nghệ: hoạt động thanh toán thẻ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi
trình độ KHCN, đặc biệt là CNTT. Đối với một quốc gia có KHCN phát triển, các ngân
hàng nước này có thể cung cấp dịch vụ thẻ với sự nhanh chóng và an toàn cao hơn.
Môi trường cạnh tranh: đây là yếu tố quyết định đến việc mở rộng và thu hẹp thị
phần của một ngân hàng khi tham gia vào thị trường thẻ. Nếu trên thị trường chỉ có
một ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ thì ngân hàng đó sẽ có được lợi thế độc quyền
nhưng giá phí lại có thể rất cao và thị trường khó trở nên sôi động. Nhưng khi nhiều
ngân hàng tham gia vào thị trường, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt thì sẽ góp
phần phát triển đa dạng hóa dịch vụ, giảm phí phát hành và thanh toán thẻ.
1.7.2. Nhân tố chủ quan
Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ: đội ngũ cán bộ có năng lực,
năng động và có nhiều kinh nghiệm là một trong những yếu tố quan trọng để phát
triển hoạt động dịch vụ thẻ.
Tiềm lực kinh tế và trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng thanh toán thẻ:
điều này gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nếu hệ thống máy móc này có
trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đã đưa ra dịch vụ thẻ, ngân
hàng phải đảm bảo một hệ thống thanh toán hiện đại, theo kịp yêu cầu của thế giới.
Không những thế việc vận hành bảo dưỡng, duy trì hệ thống máy móc phục vụ phát
hành và thanh toán thẻ có hiệu quả sẽ làm giảm giá thành của dịch vụ, từ đó thu hút
thêm người sử dụng.
Định hướng phát triển của ngân hàng: một ngân hàng nếu có định hướng phát

đại được phổ biến, đời sống đã và đang ngày đuợc tăng lên, việc chấp nhận thẻ đã trở nên
phổ biến. Việc mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ không chỉ đơn thuần cho việc đầu tư
lấy lãi mà còn phục vụ cho việc thanh toán hoặc cho các mục đích đầu tư khác. Khi những
chi phí chi việc bảo quản, sử dụng tiền mặt truyền thống và tính bất tiện, không an toàn của
chúng ngày càng được nhận rõ thì những tập quán này sẽ sớm được thay thế bằng các
phương thức thanh toán hiện đại, trong đó có thẻ thanh toán.
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ THANH TOÁN THẺ
TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
2.1. Khái quát về ngân hàng TMCP Công thương – chi nhánh Đống Đa
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa (CN NHCT Đống Đa) hiện nay
là ngân hàng thương mại quốc doanh trực thuộc Ngân hàng Công Thương Việt
Nam, có trụ sở chính tại 187 phố Tây Sơn – phường Quang Trung – Quận Đống Đa
– Hà Nội. CN NHCT Đống Đa đã phát triển qua rất nhiều giai đoạn, các giai đoạn
này có thể được khái quát như sau:
Năm 1955 – 1957: CN NHCT Đống Đa trước đây là Phòng công thương
nghiệp Ô Chợ Dừa thuộc chi nhánh ngân hàng nhà nước thành phố Hà Nội.
Năm 1957: Phòng công thương nghiệp Ô Chợ Dừa được nâng cấp thành Chi
điếm Ngân hàng Nhà nước khu phố Đống Đa có trụ sở đặt tại 237 phố Khâm Thiên
– Hà Nội.
Năm 1972 – 1987: Chi điếm ngân hàng nhà nước khu phố Đống Đa được đổi
tên thành chi nhánh ngân hàng nhà nước khu phố Đống Đa, có chức năng như một
ngân hàng trung ương cơ sở, hoạt động vừa mang tính kinh doanh vừa mang tính
quản lý nhà nước.
Năm 1988: Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự thay đổi lớn,

Tuy nhiên, chúng vẫn là một bộ phận không thể tách rời trong ngân hàng do đó
chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau.
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
P. quản lý nợ có vấn đề
Phòng kế toán
11 quỹ tiết kiệm
P.giao dịch Kim Liên
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng quản lý rủi ro
P. tổ chức hành chính
Phòng tổng hợp
P.thông tin điện toán
P.giao dịch Cát Linh
BAN
LÃNH
ĐẠO
1 GĐ
5 PGĐ
Phòng khách hàng 1.2
Phòng KH cá nhân
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
2.1.3. Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa trong thời
gian vừa qua
Trong những năm vừa qua, với sự biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội
diễn ra trên toàn thế giới. Bên cạnh những khó khăn nội tại đã bộc lộ, nền kinh tế
Việt Nam lại gánh chịu những ảnh hưởng bất lợi từ bên ngoài. Thị trường tài chính
toàn cầu lâm vào khủng hoảng dây chuyền, nhiều NH lớn của Mỹ và châu Âu phá

I/2012
2010/2009 2011/2010
+/- % +/- %
Tổng nguồn vốn huy động 4000 4150 7223 5034 150 3.75 3073 74
I-Phân theo đối tượng
1/ Tiền gửi doanh nghiệp 1880 1500 2833 1230 -380 -20.21 1333 89
2/ Tiền gửi dân cư 1740 2450 3550 3670 710 40.80 1100 45
3/ Huy động khác 380 200 840 134 -180 -47.37 640 320
II-Phân theo nguyên tệ
1/ VNĐ 3480 3650 6233 4314 170 4.89 2583 71
2/ Ngoại tệ 520 500 990 720 -20 -3.85 490 98
III-Phân theo kỳ hạn
1/ Không kỳ hạn 850 650 2336 602 -200 -23.53 1686 259
2/ Có kỳ hạn 3150 3300 4887 2002 150 4.76 1587 48
Qua bảng 2.1 , Chi nhánh đã chủ động khai thác tốt các nguồn vốn khác nhau.
Năm 2009, tình hình kinh tế đã có những đấu hiệu phục hồi nhưng khó khăn trong
giai đoạn này vẫn còn rất lớn, nhưng với sự nỗ lực vượt bậc, nguồn vốn huy động
của Chi nhánh đã đạt 4.000 tỷ đồng. Bước sang năm 2010, kinh tế Việt Nam đang
phải đối diện với nhiều thử thách, đặc biệt là những chính sách tài khóa của chính
phủ nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát đã làm giảm đi khả năng huy động nguồn
vốn của hệ thống các ngân hàng thương mại, tuy vậy NHCT Đống Đa vẫn đạt được
số vốn huy động 4.150 tỷ đồng (tăng 3,75%, tương đương với mức tăng năm 2009).
Đây thực sự là một kết quả đáng khích lệ. Trong năm 2011 đối mặt với một loạt khó
khăn và thách thức: Lạm phát tăng trở lại; kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn, bất động
sản đóng băng, nhưng về cơ bản kinh tế-xã hội phục hồi trong năm 2011 sau hơn
một năm bị tác động mạnh của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu. Vì
vậy NHCT Đống Đa đã đạt được tổng nguồn vốn huy động là 7223 tỷ đồng ( tăng
74% so với năm 2010), đây là một con số cao trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn
năm 2011, các ngân hàng thiếu vốn trầm trọng. Quý I/ 2012 NHCT Đống Đa đã
huy động được 5034 tỷ đồng, đây là một con số cao trong hoàn cảnh các ngân hàng

2.1.3.2. Hoạt động tín dụng
Công tác sử dụng vốn của chi nhánh luôn tuân thủ đúng quy chế quản lý vốn
do Ngân hàng Công Thương Việt Nam ban hành và thực hiện tốt phương châm an
toàn và hiệu quả. Ngoài việc tiếp tục đảm bảo cung ứng vốn cho khách hàng truyền
thống, chi nhánh còn tích cực mở rộng tìm kiếm và lựa chọn các khách hàng mới.
Thực hiện phân đoạn thị trường, chú ý tiếp cận để cho vay các dự án lớn.
Bảng 2.2 Hoạt động tín dụng
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
(Nguồn: Báo cáo KQHĐKD của NHCT Đống Đa)
Năm
Chỉ tiêu
2009 2010 2011
Tổng
số
Tỷ
trọng
(%)
Tổng
số
Tỷ
trọng
(%)
% so
với
2009
Tổng

quốc tế như hiện nay, cùng với tiến trình cổ phần hóa DN nhà nước và sự phát
triển mạnh mẽ của khối Ngân hàng ngoài quốc doanh thì sự thay đổi này là điều tốt,
chứng tỏ chi nhánh vẫn thu hút được sự tín nhiệm những DN trong nước.
Tóm lại, hoạt động tín dụng của NHCT Đống Đa đã đạt được những kết quả
tốt, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định, đòi hỏi phải có các biện pháp giải
quyết trong thời gian tới.
Nguyễn Hoàng Phương
NHG-K11
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
2.1.3.3. Hoạt động khác của chi nhánh
Về phát hành thẻ ATM là một trong những điểm sáng trong hoạt động của
Chi nhánh về mở tài khoản cho khách hàng. Hiện nay các ngân hàng đang cạnh
tranh và mở rộng hoạt động mở tài khoản cho khách hàng thông qua phát hành thẻ,
trong bối cảnh đó, để nâng cao tính hiệu quả và tiện lợi cho khách hàng đã liên
minh với hàng chục thương hiệu thẻ khác, tổ chức tốt công tác khuyến mại thẻ, mở
rộng đối tượng sử dụng thẻ hơn.
Nhờ sự tích cực và chủ động, sáng tạo mà năm qua chi nhánh đã đạt được con
số ấn tượng 11.776 thẻ, vượt năm năm 2010 2.776 thẻ, được trung tâm đánh giá thi
đua xếp thứu 5 trong 102 chi nhánh của toàn hệ thống có nguồn huy động số tiền
gửi đảm bảo thanh toán thẻ ATM tăng trưởng khá mạnh.
Trong tổng thu nhập của ngân hàng thì thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm
tỷ trọng lớn nhất. Nhưng hiện nay các ngân hàng hiện đại nói chung và NHCT
Đống Đa nói riêng đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu thu nhập, theo đó tỷ trọng
nguồn thu từ lĩnh vực dịch vụ sẽ dần tăng lên. Để thực hiện được điều đó, những
năm qua Chi nhánh đã cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhằm đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng như: mở rộng và phát triển hoạt động mua bán ngoại
tệ, chi trả kiều hối, phát hành và thanh toán L/C, các nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán
XNK nhờ đó mà tổng thu phí dịch vụ trong năm 2009 là 1.613 triệu đồng, và đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status