giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại quỹ tín dụng nhân dân thị trấn bút sơn - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Ngày …. Tháng … năm 2014
GIẢNG VIÊN
SVTH: Trịnh Lâm Hồng
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: ; Fabook: vttuan85
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN


DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
SVTH: Trịnh Lâm Hồng
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, vốn là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công
cuộc đổi mới kinh tế, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Đối
với doanh nghiệp, vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa sống còn đối với sự
thành bại của mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng, Quỹ tín
dụng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực đặc thù - kinh
doanh tiền tệ, do đó vốn đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại
và phát triển của mỗi Quỹ tín dụng nhân dân.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, tôi đã chọn đề tài:
” Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân thị
trấn Bút Sơn” làm đề tài báo cáo.
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA QŨY TÍN DỤNG
1.1. VỐN KINH DOANH CỦA QUỸ TÍN DỤNG.
Quỹ tín dụng là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ,
tín dụng - Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Sự ra
đời và phát triển của hệ thống Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam là kết quả tất yếu
của nền kinh tế thị trường, là yếu tố cấu thành thị trường tài chính và thị trường
tiền tệ.
Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn của Quỹ tín dụng là một trong những
vấn đề quan trọng, được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh
tế đang thiếu vốn như hiện nay không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các Quỹ
tín dụng mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế.

huy động bao nhiêu vốn trên thị trường và được sử dụng vào mục đích gì. Đối
với kinh doanh tiền tệ, Quỹ tín dụng có đủ vốn tự có, có vốn tự có lớn và duy trì
được vốn tự có là biểu hiện của một ngân hàng bền vững.
1.1.2.2. Vốn huy động.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Quỹ huy động được từ các tổ
chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ
tiền gửi, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh
doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Quỹ
tín dụng không có quyền sở hữu, chỉ có quyền sử dụng và có trách nhiệm hoàn
trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Vốn huy
động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của Quỹ tín
dụng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh cơ
sở.
 Vốn tiền gửi
Để huy động vốn, các quy tín dụng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác
nhau cho khách hàng lựa chọn phù hợp với nhu cầu của khách hàng trong việc
tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi
bao gồm: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác.
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
 Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng luôn
có nghĩa vụ phải thỏa mãn nhu cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để
thanh toán.Việc gửi và rút tiền có thể thực hiện bất cứ lúc nào, do đó ngân hàng
rất khó xác định trước.
 Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút. Về nguyên tắc, người gửi
chỉ có thể được rút theo thời hạn đã thỏa thuận, nhưng trên thực tế thường cho
phép khách hàng rút trước hạn và chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc lãi

Các hình thức HĐV của Quỹ tín dụng bao gồm :
Huy động vốn qua tiền gửi
Theo luật các TCTD, NHTM được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và
các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
không kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
 Theo đối tượng huy động
- Huy động vốn từ cá nhân, hộ gia đình: Là nguồn tiền huy động được chủ
yếu mang tính tiết kiệm, phi giao dịch. Do vậy nguồn tiền này thường khá ổn
định, huy động được dài hạn. Đối với hình thức này, Quỹ thường đưa ra những
sản phẩm tiết kiệm có mức lãi suất ưu đãi, kỳ hạn phong phú để phù hợp với nhu
cầu tiết kiệm, sử dụng nguồn vốn trong tương lai của khách hàng
 Theo thời gian huy động: Bao gồm
- Huy động vốn ngắn hạn: Bao gồm các nguồn tiền gửi không kỳ hạn và các
nguồn tiền gửi dưới 12 tháng, các nguồn vốn đi vay nóng đáp ứng sự thiếu hụt
vốn tạm thời. Hình thức huy động này có ưu điểm là linh hoạt về thời gian, kỳ
hạn. Sản phẩm này phù hợp cho những đối tượng là tổ chức, những cá nhân
thường có nhu cầu sử dụng vốn lưu động, sử dụng vốn trong thời gian ngắn hạn
trong tương lai.
- Huy động vốn dài hạn: Bao gồm các nguồn tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng
trở lên. Hình thức huy động này phù hợp cho những đối tượng có ý định tích lũy
nguồn vốn nhàn rỗi trong tương lai dài.
Hiện nay, các tổ chức tín dụng đều rất nỗ lực trong việc đa dạng hoá các
sản phẩm huy động của mình nhằm thu hút nguồn tiền gửi. Ngoài sự cạnh tranh
về lãi suất thông thường, các quỹ còn cố gắng đưa ra nhiều hình thức khuyến
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
mại, tặng quà tri ân khách hàng lâu năm. Đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn
thì cho phép người gửi tiền rút trước hạn hưởng lãi theo thời gian thực gửi, dễ
dàng chuyển đổi kỳ hạn, chuyển nhượng.
1.1.1.1. Huy động vốn qua thị trường vốn

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, thị trường tài
chính ngày càng được mở rộng, vai trò của các Quỹ tín dụng nhân dân ngày càng
quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Các nguồn vốn huy động
được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng phát triển của các Quỹ tín dụng,
do vậy nguồn vốn huy động giữ vị trí then chốt quyết định sự tồn tại và phát triển
của mỗi Quỹ tín dụng, đặc biệt trong tình hình cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa
các ngân hàng như hiện nay.
 Vốn là cơ sở nền tảng để Quỹ tín dụng tổ chức hoạt động kinh doanh.
Vốn là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Quỹ tín dụng,
nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Đặc trưng của
hoạt động Quỹ tín dụng: Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là
đối tượng kinh doanh chủ yếu của Quỹ tín dụng. Những quỹ tín dụng trường vốn là
qũy tín dụng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh, ngược lại những Quỹ tín dụng
không có hoặc có ít vốn sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh. Chính
vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Quỹ tín dụng,
và cũng là khâu cuối cùng của chu kỳ kinh doanh.
 Vốn quyết định khả năng thanh toán và uy tín của Quỹ tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt
động đòi hỏi các Quỹ tín dụng phải có uy tín lớn trên thị trường. Uy tín là điều
trọng yếu, uy tín đó được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả
cho khách hàng.
 Vốn quyết định năng lực canh tranh của Quỹ tín dụng.
Những Quỹ tín dụng có quy mô lớn, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ
nghiệp vụ cao, phương tiện kỹ thuật hiện đại có điều kiện thu hút nguồn vốn lớn
hơn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với quỹ tín dụng trong
việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối
lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức
lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng,
doanh số hoạt động của sẽ tăng lên nhanh chóng và sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 7

1.1.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn.
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
Quỹ tín dụng hoạt động trong cơ chế thị trường, chịu sự điều tiết của thị
trường và các quy luật canh tranh. Do đó, có rất nhiều nhân tố có thể tác động đến
hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng nói chung và hoạt động HĐV nói riêng.
Do vậy, để đánh giá một cách đúng đắn hiệu quả huy động vốn cần phải dựa trên cả
chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng.
1.1.3.1. Chỉ tiêu định tính
 Chất lượng của nguồn vốn huy động
Nguồn vốn rẻ: Nguồn vốn huy động có chất lượng là nguồn vốn huy động có
chi phí huy động thấp nhất và có tính ổn định trong một thời kỳ nhất định. Các tổ
chức tín dụng luôn tìm mọi biện pháp để giảm tối đa chi phí huy động vốn để cho
vay với lãi suất cạnh tranh có thể chấp nhận được trên thị trường, từ đó không
ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
Tỷ trọng vốn huy động lớn: Vốn huy động là nguồn vốn có tính ổn định cao và
chi phí huy động vốn là thấp hơn so với các nguồn vốn đi vay. Tỷ trọng vốn huy
động trong tổng nguồn vốn ngày càng cao đồng nghĩa với chất lượng vốn huy động
ngày càng tốt, tổ chức tín dụng sẽ giảm được chi phí sử dụng các nguồn vốn khác.
 Tính ổn định và sự gia tăng của vốn huy động
Khối lượng và cơ cấu vốn hiện tại: Việc HĐV của quỹ tín dụng được đánh giá
là không hiệu quả nếu việc HĐV không đáp ứng đủ nhu cầu vốn để kinh doanh của
Quỹ tín dụng. Vì vậy, hiệu quả của việc HĐV được thể hiện ở việc khối lượng vốn
huy động phải đạt quy mô nhất định để đáp ứng được yêu cầu về vốn trong từng
thời kỳ nhất định của Quỹ tín dụng.
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động: Nguồn vốn huy động có tốc độ tăng
trưởng ổn định, bền vững sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng hoạt
động kinh odanh. Nếu quy mô nguồn vốn hiện tại lớn nhưng kém tính ổn định thì
Quỹ tín dụng không kiểm soát được dòng vốn vào ra trong thời kỳ tiếp theo, gây sự

động kỳ này
-
Tổng NV huy
động kỳ trước
Tổng NV huy động kỳ trư
c
Tốc độ tăng trưởng
nguồn vốn
= x 100
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
Nhóm chỉ tiêu này cho thấy tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động tại
cơ sở tín dụng có ổn định hay không. Nếu nguồn vốn tăng trưởng ổn định trong
thời gian dài sẽ tạo điều kiện cho việc cân đối vốn để phục vụ cho nhu cầu đầu
tư và cho vay nhằm đạt mục tiêu sinh lời.
Chỉ tiêu 3: Tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn
Tỷ trọng từng loại nguồn vốn = x
10
0
Chỉ tiêu 4: Cơ cấu vốn huy động
Tỷ lệ loại vốn i = x 100
Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu và tỷ trọng các loại vốn huy động cho ta cái nhìn
tổng quan về cơ cấu vốn huy động của Quỹ tín dụng. Cho ta biết hiện trong cơ
cấu vốn huy động, từng loại vốn chiếm tỷ lệ bao nhiêu với cơ cấu có hợp lý hay
không. Một cơ cấu vốn huy động hợp lý là phải có sự cân đối với nhu cầu sử
dụng vốn về cả kỳ hạn, loại tiền. Nếu nhu cầu sử dụng vốn chủ yếu chỉ là cho
vay và đầu tư trung và dài hạn thì một tỷ lệ lớn vốn huy động kỳ hạn ngắn là
không hợp lý. Tuy nhiên cơ cấu vốn có thể thay đổi tùy từng thời kỳ và phù hợp
với những nhu cầu sử dụng vốn khác nhau.
 Chi phí huy động vốn
Việc xác định chi phí huy động vốn là yếu tố cơ bản nhằm xác định lợi

Xác định khe hở kỳ hạn giúp ngân hàng đánh giá được mức an toàn vốn khi
lãi suất thị trường biến động, giá trị thị trường của ngân hàng ảnh hưởng như thế
nào.
2. Khe hở nhạy cảm lãi suất
Hệ số này là thước đo mức độ rủi ro lãi suất
Khe hở nhạy cảm lãi suất =
Giá trị tổng TS
có nhạy cảm
-
Giá trị tổng TS
nợ nhạy cảm
- Khe hở >0, nếu lãi suất tăng thì thu nhập tăng.
- Khe hở <0, nếu lãi suất tăng thì thu nhập giảm.
3. Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay TDH
NV ngắn SD CV TDH = Tổng dư nợ TDH - Tổng NV TDH
Tổng NV huy động ngắn hạn
 Chỉ tiêu khả năng sinh lời
1. Chênh lệch lãi suất bình quân
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
Chênh lệch lãi suất bình quân là chỉ tiêu phản ánh chênh lệch giữa lãi suất
đầu ra bình quân (lãi thu được từ hoạt động cho vay, đầu tư) và lãi suất đầu vào
bình quân (lãi phải trả cho các khoản huy động được tính toán theo công thức
sau:
Chênh lệch
lãi suất bq
= -
Chênh lệch lãi suất bình quân đo lường khả năng sinh lời của Quỹ tín dụng
trong quá trình huy động vốn và cho vay, chỉ tiêu này càng cao khả năng sinh lời
của Quỹ tín dụng càng lớn, hiệu quả huy động vốn cũng như hiệu quả sử dụng

bảo uy tín của tổ chức tín dụng trên thị trường, từ đó quyết định năng lực cạnh
tranh của Quỹ tín dụng. Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các
Quỹ tín dụng phải giữ được chữ tín, mà uy tín của Ngân hàng được thể hiện
bằng khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào. Vốn khả dụng
càng cao thì khả năng thanh toán càng cao, nguồn vốn lớn giúp Quỹ tín dụng mở
rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín và vị thế trên
thị trường.
Tóm lại, vốn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối
với từng tổ chức tín dụng nói riêng. HĐV luôn là hoạt động được ưu tiên hàng
đầu
Đối với người dân

:
Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho họ một kênh đầu tư hiệu quả và rất
an toàn. Khi gửi tiền vào ngân hàng, họ không những yên tâm về nguồn tiết
kiệm của mình mà còn mang lại cho mình một nguồn thu nhập đáng kể, ngoài ra
họ có cơ hội tiếp cận nhiều hơn đến các dịch vụ, tiện ích ngân hàng, đáp ứng nhu
cầu ngày càng gia tăng của mình. Hơn nữa, khi số vốn này được đưa vào đầu tư
sẽ tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và
mức sống của họ.
-

Đối với toàn bộ nền kinh tế

:
Việc khơi thông nguồn vốn sẽ giúp cho việc cân đối giữa cung và cầu về
vốn, giúp cho cỗ máy kinh tế được bôi trơn, hoạt động một cách nhịp nhàng và
có hiệu quả. Góp phần thực hiện chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát trong nền
kinh tế thị trường. Ổn định tiền tế và kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Từ kinh nghiệm

hơn; nhất là khi tỷ lệ trượt giá cao hơn cả lãi suất huy động thì vấn đề khai thác
nguồn vốn lại càng khó khăn hơn.
Như vậy, môi trường pháp lý và chính sách của Nhà nước là nhân tố khách
quan có tác động rất lớn tới quá trình huy động vốn của quỹ tín dụng. Mục tiêu
hoạt động của quỹ được xây dựng vào các qui định, qui chế của Nhà nước để
đảm bảo an toàn và nâng cao niềm tin từ khách hàng.
 Tình hình kinh tế, xã hội
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
Môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của
Quỹ tín dụng. Ngân hàng hay tổ chức tín dụng là cầu nối giữa những người có
vốn nhàn rỗi trong xã hội và những người có nhu cầu về vốn. Nếu môi trường
kinh tế xã hội không ổn định, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh,
đình trệ trong sản xuất thì hoạt động cho vay của quỹ tín dụng cũng gặp khó
khăn, không cho vay được, không thu hồi được nợ, phải gia hạn nợ dẫn đến tỷ lệ
nợ xấu tăng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Môi trường kinh tế xã hội bất
ổn cũng ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền, mất niềm tin vào đồng tiền sẽ
khiến cho người dân tìm kiếm các kênh đầu tư tiết kiệm khác hơn như: vàng,
ngoại tệ mạnh, đất đai… Lượng tiền gửi vào quỹ tín dụng sẽ bị sụt giảm, cơ hội
mở rộng đầu tư của quỹ bị thu hẹp do không thu hút được nguồn tiền gửi tiết
kiệm để cho vay và các doanh nghiệp không muốn mở rộng sản xuất kinh doanh
trong điều kiện bị thua lỗ. Ngược lại nếu tình hình kinh tế xã hội ổn định, tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi, thu nhập của người dân
ổn định dẫn đến hoạt động của quỹ tín dụng cũng dễ dàng và ổn định hơn.
 Cạnh tranh giữa các ngân

hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác
Trong những năm trở lại đây, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đã
có hàng loạt các ngân hàng mới ra đời,khiến cho thị phần của các tổ chức tín
dụng ngày càng trở nên nhỏ hẹp và khó khăn. Sự cạnh tranh diễn ra trên mọi

1.1.4.2. Các nhân tố chủ quan
 Chính sách của tổ chức tín dụng
Trong các nhân tố, thì nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động huy
động vốn của tổ chức tín dụng là nhân tố chính sách, Quỹ tín dụng không chỉ cần
chính sách huy động vốn hiệu quả mà còn cần có chính sách sử dụng vốn hiệu
quả.
-

Chính sách lãi suất:
Bao gồm cả lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Việc duy trì lãi suất tiền
gửi cạnh tranh với các Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác đã trở nên cực kỳ
quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới và duy trì tiền gửi hiện có.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà cạnh tranh trong nghiệp vụ huy động vốn giữa
các Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác càng trở nên gay gắt thì việc áp dụng
một chính sách lãi suất linh hoạt, ưu đãi là vô cùng cần thiết. Đặc biệt trong các
giai đoạn khan hiếm tiền tệ, dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất
cũng sẽ thúc đẩy người dân gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, không phải đưa ra một
mức lãi suất cao là có thể thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế,
vấn đề là mức lãi suất cụ thể Quỹ tín dụng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiền
SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Lê Thùy Linh
mức lợi nhuận thực tế là bao nhiêu, mức độ thoả mãn thế nào, đặc biệt là khi có
lạm phát phải đảm bảo mức lãi suất đầu vào, đầu ra để quỹ kinh doanh có hiệu
quả. Vì vậy, khi đưa ra một mức lãi suất huy động cụ thể quỹ tín dụng phải căn
cứ vào tình hình phát triển của nền kinh tế, chính sách lãi suất của Quỹ tín dụng
Trung ương, chính sách tín dụng và xu hướng vận động của thị trường tài chính.
-

Chính sách sản phẩm:
Các ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì cần phải đa dạng hoá

được tặng, vừa thể hiện được hình ảnh của Quỹ tín dụng, vừa thể hiện những
dụng ý và mục đích của Quỹ.
 Uy tín của ngân

hàng
Khi gửi vốn vào Ngân hàng hay một tổ chức tín dụng, người gửi tiền luôn
muốn đồng tiền của mình được sinh lợi và an toàn nên họ phải chọn nơi nào
đáng tin cậy nhất. Uy tín, sự nổi tiếng vững mạnh của Quỹ là tài sản vô cùng
quý giá cho hoạt động kinh doanh, nó còn tạo mối quan hệ lâu dài không chỉ với
các khách hàng hiện có mà còn với các khách hàng tiềm năng. Một Ngân hàng
hay tổ chức tín dụng phải luôn cố gắng xây dựng thương hiệu của riêng mình và
củng cố uy tín với khách hàng vì nó ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động huy động
vốn. Những người gửi tiền ngoài việc kỳ vọng vào một khoản lãi khi đáo hạn
cũng có tâm lý sợ rủi ro mất vốn, lo lắng khi có việc cần không thể rút tiền ra
được. Do vậy đôi khi có những ngân hàng, tổ chức tín dụng trả lãi suất cao hơn
nhưng những người gửi tiền lại lựa chọn Ngân hàng, tổ chức tín dụng uy tín hơn
vì họ tin rằng khoản tiền của họ sẽ được an toàn hơn mặc dù lợi nhuận có thể
giảm đi đôi chút. Về phía Quỹ, tạo dựng được niềm tin từ phía khách hàng, tạo
ra một nhóm khách hàng thân thiết và trung thành sẽ giảm khả năng thất thoát
vốn và giảm chi phí huy động, tăng tính ổn định của nguồn vốn, tăng hiệu quả
huy động.
 Đội ngũ nhân

viên
Để giữ được chân khách hàng, bên cạnh các yếu tố về lợi ích, lợi nhuận thì
tác phong phục vụ của nhân viên là rất quan trọng và cần được quan tâm đúng
mực. Quỹ cần xây dựng một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, phục vụ nhiệt
tình, chu đáo, tạo nên hình ảnh về một tổ chức tín dụng chuyên nghiệp, hiện đại,
điều này sẽ khiến khách hàng tin tưởng, hài lòng với quỹ tín dụng hơn, giúp cho
lượng khách hàng mới đến với quỹ nhiều hơn. Bên cạnh việc đào tạo đội ngũ

SVTH: Trịnh Lâm Hồng Trang: 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status