Mục lục
Trang
Lời dẫn 2
Chơng 1 4
Những nhân tố tác động tới đờng lối đổi mới của Việt Nam
1.1. Tình hình thế giới những năm 80 và đầu thập kỷ 90
1.2. Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam sau 1975 đến 1986
Chơng 2 8
Quan hệ quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
2.1. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại đổi mới
2.2. Quá trình thực hiện đờng lối đối ngoại đổi mới
Chơng 3 25
Triển vọng quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỷ
XXI
3.1. Những thuận lợi và khó khăn
3.2. Triển vọng của quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế
kỳ XXI
Kết luận 30
Danh mục tài liệu tham khảo
1
Lời dẫn
Những năm cuối thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng
hoảng toàn diện và nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của bộ phận lớn làm thay
đổi cơ bản cục diện chính trị của thế giới. Bên cạnh đó, chủ nghĩa t bản tận
dụng đợc những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
nên đã thích nghi và vẫn tiếp tục phát triển.
Trật tự thế giới hai cực tan dã, quan hệ quốc tế chuyển dần từ đối đầu
sang đối thoại, từ đó làm nảy sinh xu hớng đa dạng hoá, đa phơng hoá trong
tiến trình hội nhập toàn cầu. Hoà bình, ổn định hợp tác để phát triển ngày
càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia. Toàn cầu hoá về kinh tế
chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia,kinh tê đợc u tiên phát
thơng mại, văn hoá, khoa học kỹ thuật, nhng quan trọng nhất là việc ký kết
hiệp ớc thủ tiêu tên lửa tầm trung ở Châu Âu năm 1987 (gọi tắt là INF). Cũng
từ năm 1987, hai nớc Mỹ và Liên Xô đã thoả thuận giảm một bớc quan trọng
cuộc chạy đua vũ trang, từng bớc chấm dứt cuộc diện Chiến tranh lạnh,
cùng hợp tác với nhau giải quyết các cụ tranh chấp và xung đột quốc tế.
Cuối năm 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Busơ và Gooc-Ba-
Chốp tại đảo Manta, hai nớc Xô - Mỹ đã chính thức tuyên bố chấm dứt cuộc
chiến tranh lanh kéo dài trên 40 năm giữa hai nớc này.
Mối quan hệ giữa 5 nớc lớn: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, là 5
thành viên thờng trực Hội đồng bảo an LHQ có vai trò quan tọng trong việc
duy trì hoà bình, an ninh và trật tự thế giới đã đợc thiết lập lên. Trong chiến
tranh lạnh mặc dù là 5 nớc lớn nhng vẫn chỉ là thế hai cực Xô - Mỹ đối đầu
nhau. Mối quan hệ giữa 5 nớc lớn sau năm 1989 đã chuyển từ hai cực đối
đầu sang đối thoại, hợp tác với nhau trong việc giải quyết những tranh chấp và
xung đột quốc tế, tiêu biểu nh cuộc chiến trung vùng vịch Pecxic (1991), và
việc giải quyết các cuộc xung đột vũ trang ở nhiều khu vực trên thế giới.
Sau sự kiện xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, dẫn đến
khối quân sự Vac-Sa-Va tự giải thể (1/7/1991) và Hội đồng tơng trợ kinh tế
(SEV) ngừng hàng hoạt động (28/6/1991). Xã hội chủ nghĩa tạm lâm vào
thoái trào, việc Liên Xô sụp đổ bắt đầu từ khủng hoảng về đờng lối chiến lợc
do nhận thức sai lầm về đờng lối đối ngoại nh việc Liên Xô thoả thuận với Mỹ
về việc giải quyết vấn đề Apganictan, Campuchia, những thoả thuận nhợng bộ
đó không có lợi cho các cách mạng thế giới. Liên Xô còn thực hiện chính sách
không can thiệp vào vấn đề thống nhất nớc Đức và các nớc Đông Âu, chính
sách không thực hiện những cam kết với các đồng minh cũ của Liên Xô
(ngừng viện trợ cho Cuba, Việt Nam, Mông Cổ)
1
. Những ngợng bộ đó đợc các
phơng Tây, nhất là Mỹ ngày các khai thác triệt để, để làm giảm thế cân bằng
1
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống xã
hội, làm cho tính chất tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng
mạnh mẽ. Cuộc cách mạng trên đã tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế, thúc
đẩy quá trình liên kết kinh tế và toàn cầu hoá. Nó vừa là thời cơ nhng cũng là
thách thức rất lớn đối với các nớc, là điểm mà bất cứ nớc nào cũng không thể
bỏ qua khi xây dựng đờng lối, xác định phơng hớng và mục tiêu phát triển.
các nớc đều đứng trớc những cơ hội để phát triển, nhng do u thế về vốn, công
nghệ, thị trờng thuộc về các nớc t bản chủ nghĩa và các công ty xuyên quốc
gia nên các nớc chậm phát triển đang đứng trớc những thử thách to lớn. Trong
5
tình hình đó nếu các nớc không nắm bắt đợc cơ hội, tranh thủ những khả năng
mới để phát triển thì sẽ bị tụt hậu.
Ngợc lại nếu nớc nào biết đón trớc, khai thác đợc thời cơ, nỗ lực phấn
đấu thì sẽ có thể vợt lên một cách nhanh chóng. Cuộc cạnh tranh kinh tế thơng
mại, khoa học công nghệ diễn ra gay gắt trên phạm vi toàn thế giới.
Tóm lại, hoà bình ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành
đòi hỏi búc xúc của các dân tốc và quốc gia trên thế giới. Các nớc giành u tiên
cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc
tăng cờng sức mạnh tổng hợp mỗi nớc.
Tình hình đó tác động mạnh mẽ đối với việc hoạch định chính sách đối
ngoại của các nớc cũnh nh ở Việt Nam. Kiến định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng và Nhà nớc ta khởi xởng
công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới chính sách đối ngoại trở thành
một nội dung quan trọng đối với sự ngiệp phát triển của Việt Nam.
1.2. Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam sau 1975 đến 1986.
Chiến thắng của Việt Nam sau 30/4/1975 là niềm vui thống nhất cả
giang sơn về một mối. Nhng hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài để lại
những khó khăn không nhỏ cho nhân dân Việt Nam: 1,1 triệu liệt sĩ, 60 vạn
thơng binh, 30 vạn ngời mất tích, gần 2 triệu ngời dân bị thiệt mạng, hơn 2
triệu ngời dân bị tàn tật và nhiễm chất độc hoá học
hội chủ nghĩa Đông Âu anh em cũng hết sức khó khăn và diễn ra ngày càng
phức tạp. Tình hình thế giới có nhiều thay đổi, cuộc chạy đua phát triển kinh
tế đã lôi kéo các nớc vào cuộc. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nớc ta nhận
biết đợc xu thế của thế giới và nhìn thấy nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh
tế so với thế giới nếu không phát triển đất nớc.
Thực tiễn tình hình trong nớc và quốc tế đặt ra một yêu cầu khách quan,
bức xúc có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp các mạng nớc ta, là để làm
xoay chuyển đợc tình thế, tạo ra một sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định
trên bớc đờng đi lên. Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo và chỉ đạo một cách
mạnh mẽ. Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đợc chuẩn bị và đáp ứng
những yêu cầu đó.
T tởng cốt lõi của Đại hội VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện
có, khai thác mọi tiềm năng của đất nớc và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ
quốc tế để phát triển lực lợng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa.
4
Với ý nghĩa đó, chính sách đối ngoại đổi mới phải phá thế bao vây cấm
vận, cô lập của các thế lực thù địch từ đó lấy lại vị thế của ta trên trờng quốc
tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nớc phát triển, góp sức mình vào sự nghiệp
chung của đất nớc.
2
2: Nguyễn Sinh 12 năm đổi mới (1986-1997). Tạp chí Cộng sản số 6 tháng 3 năm 1998, trang 3
3
3: Trích lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - NXB Giáo dục, 1997 trang1
4
4: Trích lịch sử Đảng CSVN - NXB Giáo dục - 1997 trang 167
7
Chơng 2
Quan hệ quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
2.1. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại đổi mới.
Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng: Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc
biệt giữa ba nớc Đông Dơng, đoàn kết và tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi
nớc, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc là quy
luật sống còn và phát triển của ba dân tộc anh em.
Chúng ta tiếp tục tăng cờng quan hệ hợp tác hữu nghị với các nớc thành
viên Hội đồng tơng trợ kinh tế. Chúng ta cũng mở rộng quan hệ với các nớc xã
hội chủ nghĩa anh em khác nh Anbani, Triều Tiên
Là một thành viên của phong trào không liên kết, chúng ta phấn khởi tr-
ớc sự trởng thành và vai trò của ngày càng to lớn của phong trào trong đời
sống chính trị quốc tế.
Đảng ta chủ trơng tích cực góp phần vào việc tăng cờng đoàn kết của
phong trào trên cơ sở chủ nghĩa Mac - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Chúng ta ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân và
nhân dân ở các nớc t bản chủ nghĩa phát triển. ủng hộ mạnh mẽ đối với nhân
dân Châu Phi đang kiên cờng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa
thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa Apacthai. Đoàn kết chặt
chẽ với nhân dân các nớc anh em nh: An-giê-ri và Cộng hoà dân chủ nhân dân
Y-ê-men đang xây dựng cuộc sống mới.
Đảng và Nhà nớc ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và
hữu nghị. Chúng ta chủ trơng và ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình giữ
các nớc có chế độ chính trị xã hội khác nhau, loại trừ chiến tranh xâm lợc và
mọi hình thức của chủ nghĩa khủng bố.
Với Trung Quốc, Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung quốc bất kỳ
lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thờng hoá quan hệ giữa hai
nớc, vì lợi ích của nhân dân hai nớc, vì hoà bình ở Đông Nam á và trên thế
giới.
Nhà nớc ta chủ trơng tăng cờng và mở rộng quan hệ hữu nghị với Thuỵ
Điển, Phần Lan, Pháp, Oxtraylia, Nhật Bản và với các nớc phơng Tây khác
trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải
quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ
thông qua thơng lợng.
Củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với Cu - Ba
và các nớc xã hội chủ nghĩa khác.
Đảng cộng sản Việt Nam chủ trng tăng cờng quan hệ với các Đảng
cộng sản và công nhân, góp phần tích cực vào sự đoàn kết và hợp tác giữa các
Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mac - Lênin, đấu tranh vì những mục tiêu
cao cả của thời đại.
10
Đoàn kết với lực lợng đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội, sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xã hội -
dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
Phát triển quan hệ đoàn kết, tin cậy và nâng cao hiệu quả hợp tác nhiều
mặt với ấn Độ. Tiếp tục mở rộng hợp tác với các nớc đang phát triển khác.
Tiếp tục củng cố và tăng cờng phong trào không liên kết. Phát triển quan hệ
hữu nghị với các nớc ở Đông Nam á và Châu á - Thái Bình Dơng, phấn đấu
cho một Đông Nam á hoà bình, hữu nghị và hợp tác.
Mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nớc Bắc Âu, Tây Âu,
Nhật Bản và các nớc phát triển khác. Thúc đẩy quá trình bình thờng quan hệ
với Hoa Kỳ.
Góp phần làm cho Liên Hợp Quốc phục vụ đắc lực hơn những mục tiêu
của nhân loại là hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Hợp tác với các tổ
chức chuyên môn của LHQ và các tổ chức phi chính phủ.
Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam
muốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập, phát triển.
Việc Liên Xô sụp đổ vào 22-12-1991 đã làm chấn động thế giới vì tốc
độ nhanh chóng của các sự kiện và ảnh hởng mạnh mẽ tới các Đảng cộng sản
trên thế giới. Đứng trớc tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng lần
thứ III khoá VII đã họp và đa ra 4 phơng châm xử lý trong hoạt động đối
ngoại của ta là:
ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển.
Tăng cờng quan hệ với các nớc láng giềng và các nớc trong tổ chức
ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nớc bạn bè truyền thống, coi
trọng quan hệ với các nớc phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên
thế giới. Đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nớc đang
phát triển ở Châu á, Châu Phi, Mỹ Latinh và phong trào không liên kết.
Tăng cờng quan hệ với các tổ chức của Liên Hợp Quốc và các tổ chức
quốc tế khác. Tích cực hoạt động ở các diễn đàn quốc tế, tham gia giải quyết
các vấn đề toàn cầu. ủng hộ cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân và các ph-
ơng tiện giết ngời hàng loạt khác.
Phát triển quan hệ với các Đảng sản và công nhân, các lực lợng cách
mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ, thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng
cầm quyền và các đảng khác
12
Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính
phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nớc, góp phần
thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển.
Trên đây là những nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại qua từng
thời kỳ tổ chức đại hội, chính sách đổi mới này đợc áp dụng trong bối cảnh
quốc tế có nhiều biến động và tác động trực tiếp đến Việt Nam. Nhng tựu
chung lại đây là đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phơng hoá
theo tinh thầm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trên thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển.
2.2. Quá trình thực hiện đờng lối đối ngoại đổi mới.
Chính sách đối ngoại đổi mới mà đại hội VI đề ra là kiên trì thực hiện
nhiệm vụ chiến lợc giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi,
tập trung cao nhất, nhằm từng bớc ổn định và tạo cơ sở cho phát triển kinh tế
trong vòng 25 năm đến 30 năm (tức đến năm 2020), xây dựng chủ nghĩa xã
hội, bảo vệ độc lập của tổ quốc góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung
cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu
nói đây là một tiền đề quan trọng cho sự hội nhập của Việt Nam sau này.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN,
đây là một thành công to lớn của ngoại giao Việt Nam, có ý nghiã quyết định
cho tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam.
Sau khi hội nhập ASEAN, Việt Nam đã trở thành nhân tố rất năng động
của tổ chức này, sau sự tổ chức thành công của hội nghị cấp cao ASEAN tháng
12/1998 ở Hà Nội, Việt Nam càng chứng tỏ là một hạt nhân tích cực của tổ
chức này. Quan hệ hợp tác kinh tế, thơng mại giữa Việt Nam và các nớc
ASEAN ngày càng đợc đẩy mạnh.
Năm 1994 thơng mại 2 chiều đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 28% tổng kim
ngạch ngoại thơng của Việt Nam. Đến năm 1996 tăng lên 6 tỷ USD chiếm
33% kim ngạch xuất khẩu và 27% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Cho
đến năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đang ở đỉnh cao thì các
nớc ASEAN vẫn chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu và 18% đầu t nớc ngoài vào
Việt Nam
7
.
Sau khi hội nhập ASEAN, chúng ta tham gia vào khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA). Tuy nhiên, do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa
Việt Nam và một số nớc trong khuôn khổ AETA nên Việt Nam cần có thời
gian để điều chỉnh. Các nớc ASEAN đã đồng ý kéo dài thời hạn giảm thuế
quan của Việt Nam đến năm 2006 thay vì 2003 nh các thành viên khác.
Mặc dù đợc đánh giá là khu vực phát triển năng động của Châu á -
Thái Bình Dơng và của thế giới, nhng cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã
ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển chung của khu vực, đối phó với vấn đề này
là rất khó, đòi hỏi các nớc ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng cần phải
6
6: Trích Lu Văn Lai: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995) Tập II - NXB Công an nhân dân trang 251-
252
giữa hai nớc đều giải quyết bằng thơng lợng hoà bình. Ngoài ra hai nớc còn
muốn khôi phục lại quan hệ ngoại giao truyền thống có từ lâu do hai lãnh tụ
Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vun đắp cho tình hữu nghị của hai dân tộc.
Cùng với việc nối lại mối quan hệ ngoại giao hai nớc còn tìm thấy ở
nhau những tiềm năng có thể hợp tác đợc trong vấn đề kinh tế, nh nhu cầu thị
trờng của hai bên đều lớn do hai nớc cùng thi hành chính sách phát triển kinh
tế dựa vào xuất khẩu là chính. Việt Nam mong muốn Trung Quốc giúp ta sửa
chữa nâng cấp một số nhà máy, xí nghiệp mà Trung Quốc giúp ta xây dựng tr-
15
ớc kia nh nhà máy gang thép Thái Nguyên và các nhà máy xi măng lò đứng
của Trung Quốc. Còn phía Trung Quốc có nhu cầu về nguồn nguyên liệu lớn
nhất là nguồn nguyên liệu than đá, trong khi Việt Nam có thế mạnh ở điểm
này, ngoài ra Trung Quốc cần một thị trờng tiêu thụ hàng hoá tiêu dùng do các
địa phơng giáp Việt Nam sản xuất Tính đến khi hai bên cùng mở cửa biên
giới cho hai bên giao lu buôn bán hàng hoá thì hàng hoá Trung Quốc tràn vào
Việt Nam rất nhiều, nhất là hàng tiêu dùng với giá cả mẫu mã phong phú.
Có thể đánh giá nhu cầu hai bên về việc bình thờng hoá quan hệ là rất
cần thiết. Nhất là đối với Việt Nam, việc bình thờng hoá quan hệ với Trung
Quốc giúp nớc ta có thêm bạn bè, tạo môi trờng thuận lợi để phá vỡ thế bao
vây cô lập Khôi phục và phát triển quan hệ với Trung Quốc là nhiệm vụ
trọng tâm của nớc ta trong chính sách đối ngoại đối nội.
Các cuộc gặp cấp cao Việt Trung từ tháng 9/1990 diễn ra tại Thành Đô
(Trung Quốc)
8
đã mở ra một trang sử mới trong việc khai thông quan hệ giữa
hai nớc, đến trung tuần tháng 11 năm 1991 tại Bắc Kinh hai bên đã ra thông
cáo chung: việc bình thờng hoá quan hệ Việt - Trung phù hợp với lợi căn bản,
lâu dài của nhân dân hai nớc, có lợi cho hoà bình ổn định ở khu vực, đây là sự
kiện khép lại quá khứ, mở ra tơng lai hai nớc là đồng chí, không phải là
đồng minh. Tranh chấp giữa hai nớc cần đợc đợc giải quyết theo hiến chơng
Ngày 26 - 12 - 2000 nhân chuyến thăm của Chủ tịch nớc Trần Đức L-
ơng đã ra một thông cáo chung về Hợp tác toàn diện và ký Hiệp ớc phân định
vị trí Bắc Bộ
* Đối với Mỹ.
Một thành công của công tác đối ngoại trong giai đoạn đổi mới là việc
Việt Nam bình thờng hoá quan hệ với Mỹ vào ngày 11-7-1995, khép lại một
quá khứ đau thơng và mở ra tơng lai trong quan hệ hai nớc.
Trớc sự thay đổi của thế giới, trớc chính sách đối ngoại đổi mới rộng
mở cùng tồn tại hoà bình của Việt Nam (1986) và những thiện chí của Việt
Nam trong vấn đề POW và MIA (ngời Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh ở
Việt Nam), chính quyền Mỹ đã phải thay đổi chính sách của mình, đã tuyên
bố xoá bỏ cấm vận đối với Việt Nam (3-2-1994). Thủ tớng Chính phủ nớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ra tuyên bố hoan nghênh tuyên bố
của Chính phủ Mỹ và bày tỏ sẵn sàng khép lại quá khứ, hớng tới tơng lai.
Ngày 11-7-1995, Tổng thống Mỹ Clinton tuyên bố về việc bình thờng
hoá quan hệ với Việt Nam Hôm nay tôi loan báo việc bình thờng hoá các
quan hệ ngoại giao với Việt Nam
10
Đầu tháng 8/1995, Hoa Kỳ và Việt Nam đã chính thức lập quan hệ
ngoại giao và mở đại sứ quán ở thủ đô hai nớc.
Có thể thấy rằng chiến lợc của Mỹ đối với Việt Nam hiện nay là một bộ
phận nằm trong chiếm lợc toàn cầu của Mỹ. Mỹ rất chú trọng đến vị trí chiến
lợc của Việt Nam ở khu vực Châu á Thái Bình Dơng trong đó bao gồm cả
Đông Nam á.
10
10: Trích Lu Văn Lợi: 50 năm NGVN Tập II - NXB Công an nhân dân trang 280
17
Nội dung chiến lợc của Mỹ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
bao gồm những trọng điểm sau:
- Bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam giúp cho Mỹ có cơ hội xoá bỏ
cùng có lợi và phù hợp với các nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế.
11
11
11: Tuyên bố của Thủ tớng CHXHCNVN Võ Văn Kiệt - Báo Nhân dân 13/7/1995
18
Đến ngày 19-7-2000 hai nớc Việt Nam - Mỹđã hoàn thành việc ký kết
Hiệp định thơng mại giữa hai nớc, đánh dấu sự phát triển hơn nữa quan hệ th-
ơng mại giữa hai nớc. Và gần đây nhất, chuyến đi thăm lịch sử lần đầu tiên
của Tổng thống Mỹ W.J.Clinton từ ngày 16 đến ngày 19-11-2000 đã đánh dấu
mong muốn hơn nữa phát triển trong quan hệ giữa hai nớc trên tinh thần
Khép lại quá khứ, hớng tới tơng lai phấn đấu vì lợi ích của nhân dân hai n-
ớc.
Tóm lại, bình thờng hoá quan hệ với Mỹ là một thành công quan trọng
của ngoại giao Việt Nam. Việt Nam đã đánh bại âm mu cô lập, cấm vận về
kinh tế của các thế lực thù địch đối với Việt Nam và các nớc, các tổ chức quốc
tế khác. Bình thờng hoá quan hệ Việt - Mỹ mở ra cho Việt Nam những cơ hội
mới, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới. Việt Nam cần khai thác
những mặt thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế đồng thời luôn phải cảnh
giác với âm mu Diễn biến hoà bình của Mỹ.
* Đối với EU.
Trong chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam, việc tăng cờng hợp
tác và mở rộng quan hệ với các nớc EU là rất quan trọng. Bởi đây là một trong
ba trung tâm kinh tế chính trị của thế giới có thế mạnh đặc biệt về vốn và công
nghệ. Tranh thủ đợc các nớc Tây, Bắc Âu này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc ta. Việc thi hành chính
sách đổi mới của Việt Nam đã tạo cơ sở, hành lang vững chắc cho quan hệ của
Việt Nam với các quốc gia trên khu vực này. Ngay từ khi Mỹ cha gỡ bỏ lệnh
cấm vận đối với Việt Nam, các quốc gia EU đã khởi động quan hệ kinh tế th-
ơng mại với nớc ta, nối lại ODA (viện trợ không hoàn lại) cho Việt Nam.
Ngay từ 22 - 10 -1990 nớc ta và EU ký hiệp định về lập quan hệ ngoại
Xơun (Hàn Quốc) - ASEM 3. Đây là một cơ chế hợp tác liên châu lục, giữa
một châu Âu hiện đại đang phát triển, giầu tiềm năng.
Tóm lại, việc mở rộng quan hệ, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Eu
là chủ trơng đúng đắn phù hợp với quan điểm đa dạng hoá, đa phơng hoá mà
Đảng ta đã đề ra cho công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Tăng cờng
quan hệ với EU sẽ có lợi rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của nớc ta.
Song chúng ta cũng không quên rằng đa số thành viên EU là đồng minh chiến
lợc của Mỹ, cùng chung những giá trị về dân chủ tự do kiểu phơng Tây.
Vì vậy, việc thúc đẩy, mở rộng quan hệ dựa trên cơ sở thận trọng, cân
nhắc kỹ lỡng, nắm vững nguyên tắc độc lập tự chủ vừa hợp tác vừa đấu tranh
trong cùng tồn tại hoà bình.
* Đối với Liên bang Nga.
Sau khi Liên Xô tan rã (1991), so với 14 nớc cộng hoà còn lại, Liên
bang Nga là nớc lớn nhất kế thừa Liên Xô về mọi mặt. Bớc lên vũ đài quốc tế
với một thể chế chính trị mới, với những hành trang trong đó có chính sách
đối ngoại Định hớng Đại Tây Dơng đợc áp dụng trong giai đoạn từ 1991-
1993. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại này là thân phơng Tây, tìm
kiếm sự công nhận về mặt ngoại giao và thu hút vốn đầu t từ phơng Tây để
khôi phục nền kinh tế. Vì vậy, quan hệ Việt - Nga thời kỳ này cơ bản là ngng
trệ, một phần do chính sách đối ngoại của Liên bang Nga, phần khác Việt
Nam cũng muốn có thời gian để nhận diện lại đối tác của minh.
Từ 1994 đến nay, quan hệ Việt - Nga đã có những chuyển biển tích cực,
trớc hết do sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Liên Bang Ngan và
các cuộc viếng thăm của lãnh đạo hai nớc.
20
Với việc phát triển quan hệ với Liên Bang Nga, một bạn hàng truyền
thống, Việt Nam có thể đi trớc các nớc trong khu vực trong việc tranh thủ thị
trờng gần 170 triệu dân, có thể tranh thủ các nớc SNG khác. Ngợc lại Nga
cũng muốn thông qua bạn hàng truyền thống là Việt Nam để vũ khí Nga thâm
nhập và thị trờng ASEAN.
13
. Có thể nói sự thật đây là
13
21
những đối tác quan trọng của Việt Nam. Ta không chỉ khai thác đợc ở họ vốn,
công nghệ hay các kỹ năng quản lý mà còn có thể học hỏi, rút kinh nghiệm từ
quá trình phát triển kinh tế của các nớc này.
Để mở rộng quan hệ hợp tác và phù hợp với chủ trơng đã đề ta, chúng ta
không dừng lại ở mức độ hợp tác song phơng mà còn đẩy mạnh quan hệ đa
phơng của khu cực. Tháng 6-1996 ta đã chính thức nộp đơn xin ra nhập tổ
chức Hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC). Với những nỗ lực
trong việc tham gia ASEAN, APEC chúng ta đã thực hiện thành công chính
sách đối ngoại khu vực và thế giới.
Cùng với việc tăng cờng và mở rộng quan hệ hợp tác với các nớc, các
khu vực trên thế giới trong thời gian qua, ngoại giao Việt Nam còn tham gia
tích cực vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu nh môi trờng, dân số, y tế,
giáo dục Năm 1997, Việt Nam đợc bầu làm phó chủ tịch Đại hội đồng Liên
Hợp Quốc khoá 52 (1997 - 1998). Việt Nam còn đợc bầu làm uỷ viên Hội
đồng kinh tế - xã hội của LHQ (ECOSOC), một cơ quan quan trọng vào bậc
nhất của LHQ. Là thành viên mới của Hội nghị giải trừ quân bị, Việt Nam đã
tham gia soạn thảo và ký kết hiệp ớc cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện
(CTBT). Bên cạnh đó ta cũng góp phần tích cực vào mục tiêu chung là đòi cải
tổ LHQ theo hớng dân chủ hoá, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các quốc gia.
Ngoài ra chúng ta tham gia tích cực và chủ động vào tổ chức không liên kết,
thúc đẩy hợp tác giữa các nớc G77 kêu gọi tăng cờng hợp tác Nam - Nam, đấu
tranh vì công bằng trong quan hệ Bắc - Nam. Không những thế chúng ta cũng
là một nhân tố năng động trong cộng đồng các nớc có sử dụng tiếng Pháp.
Điều này đã đợc chứng tỏ bằng việc tổ chức thành công Hội nghị thợng đỉnh
các nớc có sử dụng tiếng Pháp vào cuối tháng 5-1998 đã gây ấn tợng tốt đẹp
đối với các thành việc của tổ chức này.
trong điều kiện cho phép của Việt Nam.
Tóm lại: Từ sau những năm 1975, Việt Nam từ một nớc bị bao vây cấm
vận về kinh tế, cô lập chính trị. Đến những năm 1990 Việt Nam đã bình thờng
hoá quan hệ với Trung Quốc, ký hiệp định Paris về Campuchia, đặc biệt Việt
Nam bớc đầu thành công trong công cuộc đổi mới, thực hiện đa dạng hoá, đa
phơng hoá quan hệ đối ngoại trên cơ sở độc lập tự chủ nên đã mở ra thời kỳ
cải thiện quan hệ với hầu hết các nớc và các tổ chức quốc tế, phá đợc thế bao
vây, cô lập và cấm vận.
Hiện nay Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với 168 nớc và hơn 200
tổ chức chính trị trên thế giới, vị thế quốc tế của Việt Nam trên trờng quốc tế
ngày càng đợc nâng cao.
Thắng lợi của hoạt động đối ngoại trong những năm qua cùng với
những thắng lợi trên lĩnh vực đối ngoại đảm bảo cho các hoạt động của Đảng
và Nhà nớc dứng vững trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, đồng thời
những thắng lợi này cũng khẳng định chính sách Đa dạng hoá, đa phơng hoa
quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nớc Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn phù
hợp với mục tiêu Việt Nam là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng quốc tế
15
. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có quan hệ bình thờng với tất
15
15: Nguyễn Mạnh Cầm: 3 nét nổi bật của hoạt động ngoại giao năm 1993 - Tuần báo quốc tế 2/1994
23
cả các nớc lớn, các tổ chức quốc tế có vai trò quan trọng trên thế giới, đây là
nền tảng thuận lợi cho Việt Nam bớc vào thiên niên kỷ mới.
24
Chơng 3
Triển vọng quan hệ đối ngoại của Việt Nam
những năm đầu thế kỷ XXI
3.1. Những thuận lợi và khó khăn.
đẩy lùi. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng cảnh báo vẫn tồn tại và diễn biến phức
25