Cái đẹp trong tác phẩm Người lái đò sông Đà Nguyễn Tuân - Pdf 23


Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 4

MỞ ĐẦU Thưởng thức cái đẹp là một trong những nhu cầu tinh thần của con người dù
trong hoạt động nào, vui chơi hay học tập, lao động hay giải trí, trong gia đình cũng
như ngoài xã hội. Bởi cái đẹp là thước đo chuẩn mực và cái chân, thiện mĩ.
Cái đẹp có ở mọi nơi, trong thiên nhiên cũng như trong đời sống xã hội. Tuy
nhiên, do bản chất đặc trưng riêng biệt mà nghệ thuật là nơi mà cái đẹp biểu hiện
tập trung nhiều và phong phú hơn cả.
Khác với cái đẹp khách quan tồn tại bên ngoài cuộc sống, cái đẹp trong nghệ
thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ. Tuy nhiên cái đẹp trong tác phẩm văn
học xét đến cùng cũng xuất phát từ đời sống bởi vì sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng
nảy sinh từ hiện thực cuộc sống, hay nói cách khác, hiện thực là mảnh đất màu mỡ
sản sinh và nuôi dưỡng văn nghệ.
Khám phá cái đẹp trong một tác phẩm văn học là ta đi vào khám phá cái đẹp
trong thiên nhiên và trong cuộc sống xã hội mà nhà văn đã khám phá, yêu mến và sẻ
chia. Nó cũng giúp mỗi chúng ta bồi dưỡng lối sống đẹp, bồi dưỡng ý thức cảm
nhận về cuộc sống, về con người, vì rằng cái đẹp có thể thanh lọc tâm hồn con
người. Trong khuôn khổ một tiểu luận, em chọn tìm hiểu đề tài “Vẻ đẹp trong tác
phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân”.
ngược lại quan niệm của thầy mình. Trên cơ sở nhận thức riêng về thế giới, ông

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 6

thừa nhận đặc tính khách quan của cái đẹp. Trong công trình nổi tiếng Siêu hình
học, ông nói đẹp là trật tự của sự hài hòa, cân xứng. Trong Thi pháp học, ông đã bổ
sung thêm tính xác định, hữu hạn và thống nhất. Cũng như Platon, ông theo
thuyết “bắt chước” (nghĩa là tái hiện) vật thể cảm tính (thế giới hiện thực) trước hết
là cái đẹp của thực tại, trung tâm là vẻ đẹp của con người. Mỹ học của ông thấm
nhuần ý nghĩa nhân bản cao cả bên cạnh tính duy vật sâu sắc. Ông yêu cầu nghệ sỹ
phải “diễn tả cái có thể xảy ra” theo bản chất và quy luật tất yếu. Cao hơn, ông còn
trao cho nghệ sỹ cái quyền “bổ sung vào cái không có trong tự nhiên”. Tính lý
tưởng được khẳng định cùng với tính hiện thực. Ông đặc biệt đề cao ý nghĩa nhận
thức và ý nghĩa giáo dục của nghệ thuật. Lý thuyết về khả năng “thanh lọc
hóa” tâm hồn người xem của bi kịch được ông phát hiện cho đến nay vẫn còn
nguyên giá trị.
Qua thời trung đại, nhân loại bước sang thời Phục hưng - thời đại đã sản sinh
ra những “người khổng lồ” về tư tưởng, trong đó có tên tuổi của Leonardo da
Vinci - danh họa người Italia. Theo kiến giải của ông, cái đẹp tồn tại trong những
thuộc tính của chính bản thân sự vật, hiện tượng, trong sự kết hợp hài hòa giữa các
bộ phận, nhất là màu sắc và âm thanh của chúng. Trong cuốn Bàn về hội họa, ông
khẳng định: “Chúng ta học tập tự nhiên chứ không học tập các họa sỹ khác, những
người mà bản thân họ cũng chỉ là con đẻ của tự nhiên mà thôi”. Ông rõ ràng đã kế
thừa những tinh hoa tư tưởng của các bậc tiền bối. Ông phát triển khả năng chiếm
lĩnh cái đẹp ở người nghệ sỹ bằng việc vận dụng các phương tiện khoa học. Ông đặt
nghệ thuật, trươc hết là hội họa, ngang hàng với khoa học về ý nghĩa và phương
thức phản ánh thực tại là vì thế.
Diderot là đại diện xuất sắc cho thời Khai sáng khi nhiều vấn đề mỹ học được
nghiên cứu một cách sâu sắc. Ông là nhà triết học, nhà văn, nhà lý luận nghệ thuật
lừng danh người Pháp. Trong công trình Nghiên cứu triết học về nguồn gốc và bản

hiện tượng mà là những điều kiện cảm thụ chúng trong quan niệm về cái đẹp của
con người. Ông cả quyết viết: “Chúng ta có thể coi cái đẹp của tự nhiên là sự mô tả
khái niệm hợp lý về mặt hình thức (thuần túy chủ quan)”. Tính hợp lý ông nói tới ở
đây là hoàn toàn được suy xét trên cơ sở thị hiếu. Theo Kant, nghệ thuật là sự tạo
dựng cái đẹp nhờ ở một trò chơi thuần túy hình thức. Không thể học để sáng tạo
nghệ thuật được, vì nói đến nghệ thuật là nói đến thiên tài, mà thiên tài thì là lĩnh
vực hoàn toàn huyền bí, tiên nghiệm. Đã rõ là học thuyết này của Kant đầy mâu
thuẫn. Bên cạnh cái đúng có không ít cái sai, cái lầm lạc. Điều này cũng giống như

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 8

di sản mỹ học của một tên tuổi vĩ đại khác: Hegel – một trong những đại diện lớn
nhất cho nền mỹ học cổ điển Đức.
Quan niệm mỹ học của Hegel tập trung trong cuốn Những bài giảng về mỹ
học (1835). Ông quan niệm mỹ học chỉ nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật mà thôi
và chúng ta lập tức loại trừ cái đẹp của tự nhiên ra khỏi đối tượng của chúng ta. Vì
sao vậy? Ông giải thích: vì không có tiêu chuẩn gì thống nhất được cái đẹp của tự
nhiên vốn tồn tại một cách bàng quan, không có quy luật nào cả. Vậy là với Hegel,
cái đẹp nghệ thuật ưu việt hơn nhiều so với cái đẹp tự nhiên. Đặc trưng chủ yếu của
cái đẹp nghệ thuật, theo ông, là sự thống nhất giữa khái niệm và hiện thực của
nó mà ông gọi là tinh thần và ngoại hiện. Ông không dùng thuật ngữ nội
dung và hình thức bởi ông quan niệm trong thực tế, hai phạm trù cơ bản đó chuyển
hóa qua lại rất tinh tế. Có được sự thống nhất như thế, cái đẹp nghệ thuật sẽ đạt tới
tính tất yếu tự do. Tuy nhiên, tính tất yếu phải ẩn dưới hình thức một điều ngẫu
nhiên không có chủ ý. Đóng góp vô giá của mỹ học duy lý Hegel là hết mực đề cao
giá trị nhận thức của nghệ thuật. Ông viết: “Nghệ thuật thật sự trở thành vị thầy cao
nhất của các dân tộc”. Có thể nói, với Hegel, lần đầu tiên mỹ học được xác lập
thành một khoa học thật sự.
Đối với các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga, lý luận mỹ học đã trở thành
vũ khí đấu tranh chính trị hữu hiệu, gắn bó mật thiết với phong trào giải phóng con

tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Không phải ngẫu nhiên khi Marx đã coi ông là nhà bác
học và nhà phê bình vĩ đại của nước Nga.
1.3. Nguồn gốc, bản chất và quy luật của cái đẹp
Cái đẹp không chỉ là đối tượng nghiên cứu của mỹ học mà nó còn là một lĩnh
vực rất đa dạng phong phú của nhiều ngành khoa học khác. Khái niệm cái đẹp được
con người sử dụng một cách phổ biến dùng để chỉ ý nghĩa xã hội về mức độ của
sự hoàn thiện – hoàn mỹ trong tính đa dạng, phong phú của các quan hệ thẩm mỹ.
Thật khó khăn để định nghĩa cái đẹp, xây dựng những chuẩn mực của cái
đẹp. Vì thế, mà L.Tônxtôi đã viết: “Sách viết về cái đẹp đã chất lên thành núi,
nhưng cái đẹp vẫn là một câu đố giữa cuộc đời”. Hoặc như Hêghen thì hãy để mặc
cái đẹp trong “vương quốc của cảm giác”. Còn Cantơ thì hãy dành hoàn toàn cho sự
thưởng ngoạn trực tiếp, để khỏi phá vỡ tính toàn vẹn, đánh mất vẻ tươi nguyên vốn
có của nó. Vậy cái đẹp, nguốc gốc, bản chất và qui luật của cái đẹp là gì? Trong lịch
sử mỹ học có những cách thức tiếp cận cơ bản nào nghiên cứu cái đẹp?

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 10

Trước hết, cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực, có cơ sở khách quan trong đời
sống, nhưng đồng thời nó cũng dùng để đánh giá tất cả những hiện tượng thẩm mỹ
tích cực có tính hoàn thiện, hoàn mỹ. Cái đẹp được hình thành khi con người
biết đối chiếu, soi sánh với cái xấu. Từ những sự quan sát bình thường chỉ ra cái gì
đẹp, cái gì xấu, đến chỗ có thể định nghĩa về cái đẹp quả là một quá trình lâu dài,
khó khăn trong lịch sử mỹ học.
Chính vì vậy, lúc đầu con người đã biết dùng khái niệm cái đẹp để chỉ tất cả
những gì của đời sống thẩm mỹ có khả năng khơi dậy ở nới tâm hồn những cảm xúc
thẩm mỹ trong quá trình con người đồng hoá, sáng tạo và cảm thụ thẩm mỹ. Người
ta coi cái đẹp là sự hài hoà, sự đối xứng, sự tao nhã, sư linh hoạt, là cái có chất
lượng, là cái trật tự. Tiến dần lên, người ta coi cái đẹp gắn liền với sự tiến bộ, cách
mạng và mang tính nhân văn.
Cái xấu cũng bắt nguồn từ hiện thực, có cơ sở khách quan trong đời sống,

sinh ra cái đẹp của mọi sự vật và soi sáng cái đẹp nơi tâm hồn con người. Cái đẹp
tồn tại vĩnh cửu, nó không bị hủy diệt, không tăng không giảm, nó không đẹp ở chỗ
này mà xấu ở chỗ khác. Đối với cái gọi là sáng tạo thẩm mỹ chẳng qua chỉ là sự
“Thần nhập” hay “sự “mách bảo” của thần linh. Tư tưởng này được các nhà thần
học thời trung cổ khẳng định lại. Đó là tư tưởng của Tômát Đacanh, khi ông cho
rằng: cái đẹp là sự nhận thức mang lại sự thích thú. Cái đẹp chân chính là Chúa. Vì
thế muốn nhận thức được cái đẹp phải hòa mình vào Chúa.
Ở một hình thức khác, Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệt đối” vận động đến một
trình độ nào đó thì nảy sinh cái đẹp (cái đẹp trong nghệ thuật). Cái đẹp chính là sự
thể hiện đầy đủ của ý niệm trong một một sinh thể riêng lẻ, rằng cần phải loại bỏ cái
đẹp trong tự nhiên và nếu có cái đẹp trong tự nhiên thì nó chỉ là sự phản ánh cái đẹp
tinh thần.
Thứ hai, mỹ học duy tâm chủ quan cho rằng cái đẹp phụ thuộc vào ý thức chủ
quan của con người mà cụ thể hơn là ý thức chủ quan của mỗi cá nhân sản sinh ra
cái đẹp. Trong quá trình cảm thụ thẩm mỹ của các hiện tượng, sự vật cảm tính, con
người mang tính thẩm mỹ truyền vào nó và làm cho nó trở nên đẹp.
Một trong những đại diện tiêu biểu của mỹ học duy tâm chủ quan là Cantơ.
Theo Cantơ, vấn đề chủ yếu không phải cái gì là cái đẹp, mà phán đoán về cái đẹp
là gì. Phán đoán về cái đẹp là phán đoán về thị hiếu, không phải là sự phán đoán về

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 12

nhận thức, phán đoán về lôgíc mà phán đoán là tình cảm chủ quan. Phán đoán thị
hiếu thuần túy là sự thưởng ngoạn thẩm mỹ của cá nhân, là cái không vụ lợi và tự
do. Cho nên, không có khái niệm về cái đẹp và cũng không có qui tắc phán đoán về
cái đẹp. Vì vậy, mỹ học duy tâm chủ quan về cái đẹp coi tiêu chuẩn đánh giá cái
đẹp sẵn có trong mỗi cá nhân, là cái gì đó gợi lên khoái cảm thẩm mỹ thì đó là cái
đẹp. Ông nói: “cái đẹp không tồn tại trên đôi má hồng của người thiếu nữ, nó chỉ
tồn tại trong mắt của những kẻ si tình”.
Thứ ba, mỹ học duy vật trước thế kỷ XIX. Từ Arixtốt đến Điđơrô đến

không đánh giá đúng vai trò của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên – xã hội
và chính bản thân con người.
Các nhà mỹ học duy vật trước XIX đã tách rời tính lịch sử cụ thể của các hiện
tượng thẩm mỹ của cái đẹp khi họ đi tìm bản chất của cái đẹp ở mối quan hệ nội tại
giữa các yếu tố, các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tuợng trong khi lẽ ra phải tìm
cái đẹp, cũng như mọi hiện tượng thẩm mỹ khác, ở mối quan hệ giữa các sự vật,
hiện tượng với xã hội.
Trước khi có loài người, thì đã có sự tồn tại khách quan của các sự vật, hiện
tượng, hệ thống vật chất trong tính vô tận và vĩnh viễn của nó. Tất cả các hiện tượng
tự nhiên ấy đều có những thuộc tính đa dạng, phong phú và chúng không phải vì có
loài người hay không có loài người mà thay đổi cấu trúc tự nhiên của nó.
Trải qua một quá trình lâu dài, thông qua lao động con người phát hiện ra
những thuộc tính thẩm mỹ của sự vật hiện tượng và đồng hoá các thuộc tính ấy
trong đời sống thẩm mỹ. Sự đồng hoá này không chỉ giới hạn ở sự chiêm nguỡng
mà còn bao hàm cả sự sáng tạo thẩm mỹ nói chung của con người. Chính vì vậy,
trước mặt chúng ta giả sử có một bông hoa; nhưng nó được thể hiện dưới nhiều hình
thức và giá trị khác nhau: có thể là bông hoa sinh học, bông hoa y học, bông hoa
thương mại và bông hoa thẩm mỹ. Trong đó bông hoa thẩm mỹ là giá trị thẩm mỹ
của nó có tính xã hội của con người. Không có con người thì không có cái đẹp của
bông hoa và cái đẹp của bông hoa không phải do mầu đỏ, mầu trắng, mầu vàng, hay
sự đắt giá của nó quyết định mà do ý nghĩa xã hội trong quá trình đồng hoá thẩm
mỹ của con người.
Thứ tư, mỹ học hiện đại, nhất là quan điểm mácxít đã khắc phục được những
thiếu sót trong những quan điểm siêu hình của tư tưởng mỹ học duy vật trước đó;
đồng thời cũng phê phán những quan điểm không đúng của mỹ học duy tâm về cái

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 14

đẹp. Ý nghĩa cách mạng trong quan niệm của mỹ học hiện đại là đã khẳng định bản
chất của cái đẹp trong tính biện chứng và lịch sử – xã hội của nó.


Cái đẹp liên quan chặt chẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đến cái có ích nhưng nó
không đồng nhất với cái có ích. Rõ ràng quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực không
phải là quan hệ trực tiếp tiêu dùng. Môt bức tranh tĩnh vật vẫn đẹp mặc dầu trái
cam, trái quít vẽ trong tranh không thể đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người. Tuy
nhiên, cái đẹp và cái có ích không mâu thuẫn và không tách rời nhau; nhưng đồng
nhất cái đẹp với cái có ích thì rơi vào chủ nghĩa vụ lợi, thực dụng. Cái có ích, lợi ích
ẩn dấu trong cái đẹp và được cái đẹp biểu hiện không phải là lợi ích vật chất trực
tiếp mà lợi ích tinh thần.
Cái đẹp là cái có ích là nhờ vào ý nghĩa giáo dục của nó xét về nhiều khiá
cạnh khác nhau của đời sống tinh thần con người, như chính trị, đạo đức, pháp
quyền, khoa học, tôn giáo. Cantơ đã tuyên truyền cho chủ nghĩa hình thức trong
nghệ thuật và cho rằng quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” là sai lầm.
Cái đẹp phải dựa trên cái thật và cái tốt. Từ lâu người ta đã có quan niệm
cho rằng chân – thiện – mỹ là hệ giá trị cao nhất trong đời sống tinh thần của con
người cái mà con người cần phải vươn đến, phải đạt được để khẳng định sự hoàn
thiện và phát triển của con người. Quả thực cái giả không thể đep, cái xấu không thể
đẹp. Một tác phẩm nghệ thuât chỉ đẹp và có giá trị đích thực khi nó phản ánh sự thật
của cuộc sống, giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn xã hội. Cái đẹp
dựa trên cái thật, cái tốt (khiá cạnh đạo đức); nhưng có những cái thật cái tốt chưa
phải là cái đẹp, chúng chỉ trở thành đẹp khi hiện ra trong hình tượng cảm tính – cụ
thể và là một giá trị thẩm mỹ được xã hội thừa nhận.
Cái đẹp giữ vị trí trung tâm của quan hệ thẩm mỹ, dùng để khái quát những
giá trị xã hội tích cực, khách quan, rộng rãi của hiện thực thẩm mỹ, xuất phát từ
thực tiễn, tồn tại dưới dạng hình tượng toàn vẹn, cụ thể – cảm tính phù hợp với tình
cảm, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ của xã hội nhất định.
Như vậy, ngọn nguồn của bản chất vươn tới cái đẹp, sáng tạo theo qui luật
của cái đẹp, đầu tiên nằm trong bản chất tự nhiên, sinh học rồi phát triển rộng ra xã
hội trong tiến trình lịch sử của con người. Có hiểu như vậy mới khắc phục được tính
phiến diện trong sự cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.

ra chủ thể thẩm mĩ. Đồng thời, lao động đã giúp cho con người không chỉ sáng tạo,
những vật dụng hữu ích phục vụ cho cuộc sống con người, mà chính lao động còn

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 17

giúp con người tạo ra sản phẩm đẹp. Những sản phẩm đẹp này có khả năng tác động
vào chủ thể thẩm mĩ, có tính chất xã hội và tạo khoái cảm thẩm mĩ của con người.
Cũng chính thông qua lao động, thông qua hoạt động thực tiễn, những quan
hệ giữa người với người ngày càng phát triển và hoàn thiện, và quan đó mỗi người
cũng dần hoàn thiện chính mình và con người cảm thấy hứng thú trước những vẻ
đẹp kỳ diệu mà con người đã sáng tạo ra thông qua hoạt động thực tiễn, hoạt động
lao động.
Khi phạm vi hoạt động xã hội của con người được mở rộng, con người bắt
đầu đánh giá bản thân mình, đánh giá các mối quan hệ xã hội theo những tiêu chuẩn
của cái đẹp. Và khi ấy, cái đẹp trong đời sống xã hội, trong cuộc sống con người,
nhất là trong xã hội có giai cấp, thường gắn liền với tiêu chuẩn chính trị và những
chuẩn mực đạo đức của một thời đại nhất định, của một dân tộc nhất định.
Cái đẹp trong xã hội bao giờ cũng được xem xét, đánh giá từ những chuẩn
mực của các hiện tượng đó với nhân dân, đối với sự tiến bộ xã hội.
Cái đẹp trong đời sống xã hội gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng con
người thoát khỏi mọi xiềng xích, mọi áp bức, gắn liền với sự phát triển hài hòa, toàn
diện nhân cách con người. Do vậy, cái đẹp trong đời sống luôn chứa đựng nội dung
nhân đạo sâu sắc.
1.4.3 Cái đẹp trong nghệ thuật
Nghệ thuật là hình thức cao nhất của sự đồng hóa, sự chiếm lĩnh thẩm mĩ của
con người đối với thế giới. Hoạt động sáng tạo nghệ thuật vừa là một hoạt động
nhận thức, vừa là hoạt động tư tưởng của con người. Không có lĩnh vực nào mà cái
đẹp lại biểu hiện tập trung như trong nghệ thuật.
Gorki đã từng viết: “Ở đâu và bất cứ lúc nào, con người cũng sáng tạo cái
đẹp. Do bản chất của mình, con người là nghệ sĩ. Bất cứ ở đâu, con người cũng ra Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 19

Chương 2. BIỂU HIỆN CÁI ĐẸP
TRONG TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ 2.1. Giới thiệu về Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò Sông Đà
2.1.1. Nhà văn Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay
thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một
gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc thành chung (trung học cơ sở) thì bị đuổi vì
tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt
(1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới không có giấy phép. Ở
tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ
năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng
một thời, Một chuyến đi Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì
giao du với những người hoạt động chính trị.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham
gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.
Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.
Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông Đà
(1960), một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và
hương vị đất nước.
Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học

mĩ của nhà văn. Đối với Nguyễn Tuân, văn chương và nghệ thuật đứng trên mọi thứ
thiện ác ở đời. Ông quan niệm, “viết văn không khuynh hướng”. Khát vọng mà nhà
văn muốn vươn tới và thể hiện trong tác phẩm của mình là cái đẹp và chỉ cái đẹp mà
thôi. Suốt cuộc đời cầm bút của mình, kể cả những năm trước cách mạng cũng như
sau này, Nguyễn Tuân luôn khát khao vươn tới cái đẹp, tôn thờ cái đẹp. Nguyễn
Đình Thi đã từng khẳng định, Nguyễn Tuân là “Người đi tìm cái đẹp và cái thật”. Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 21

2.1.3. Tác phẩm Người lái đò Sông Đà
Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, là kết quả của
chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 – 1960 của nhà văn, in trong tập bút
ký Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã in đậm trong
hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.
Người lái đò Sông Đà là một trong những tác phẩm biểu hiện rõ nét quan
điểm, khuynh hướng sáng tạo, kiếm tìm cái đẹp của Nguyễn Tuân. Đó là cái đẹp
của thiên nhiên Tây Bắc mà ông gọi là vàng và con người Tây Bắc mà ông gọi lại
thứ “vàng mười” đã qua thử lửa.
2.2 Biểu hiện của cái đẹp trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà
Như đã khái quát ở trên, qua một đời văn Nguyễn Tuân, nhà văn Nguyễn
Đình Thi đã khái quát trong điếu văn truy điệu Nguyễn Tuân “Ông là người đi tìm
cái đẹp và cái thật”. Trong tiểu luận này, em chỉ đi vào tìm hiểu cái đẹp trong thiên
nhiên và con người trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà.
2.2.1 Cái đẹp của thiên nhiên trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà
Trong Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đi vào khám phá con sông Đà ở
hai vẻ đẹp, đó là sự hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên mà cụ thể là con sông Đà hung
bạo và nét đẹp trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc qua đoạn miêu tả con
sông ở vùng hạ lưu.
Cái hùng vĩ, dữ dội của con sông Đà nằm ở ngay cái điểm đầu của nó trên đất

bùng bùng…”.
Bằng thủ pháp nhân hóa, người đọc nhận ra từng sắc diện người trong những
hình thù đá vô tri. Nguyễn Tuân đã dùng sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để thổi
hồn vào từng thớ đá: “Cả một chân trời đá … mặt hòn nào trông cũng “ngỗ ngược”,
“nhăn nhúm”, “méo mó”. Những hòn đá vô tri vô giác nhưng qua cái nhìn của
Nguyễn Tuân chúng mang vẻ du côn của thiên nhiên hoang dại, hung dữ với tâm
địa hiểm ác không lường hết được.
Con sông ấy với đá ngàn năm mai phục và luôn biết bố trí trùng vi thạch
trận để triệt tiêu đối thủ.
Trùng vi thạch trận thứ 1: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”,
“mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào
hông thuyền”…
Trùng vi thạch trận thứ 2: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều
cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 23

Trùng vi thạch trận thứ 3: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng
chết, luồng sống ở ngay giữa.
Nhưng con Sông Đà, hay thiên nhiên Tây Bắc không chỉ có sự hùng vĩ, hung
bạo và hoang dã mà đó còn là một mảnh đất, dòng sông trữ tình, thơ mộng.
Cái vẻ thơ mộng của Sông Đà nhìn từ trên cao được Nguyễn Tuân cảm nhận
trong một cái nhìn tinh tế, thi vị “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc
trữ tình, đầu tóc chân tóc trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng
hai và cuồn cuộc mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Nước Sông Đà cũng làm nên
nét trữ tình riêng biệt “Mùa thu dòng xanh ngọc bích…mùa thu nước Sông Đà lừ lừ
chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ như da mặt một
người bất mãn, bực bội vì mỗi độ thu về”.
Khác với bản tính gắt gỏng, hung bạo, nét trữ tình của Sông Đà và thiên
nhiên bên bờ sông Đà đẹp bởi nét hoang sơ, mộc mạc “Thuyền tôi trôi trên Sông

Nguyễn Tuân là nhà văn đi tìm cái đẹp, và cái đẹp ở những con người Tây Bắc
trước hết là lao động, những người chèo đò trên dòng sông hung bạo.
Khi được tác giả hỏi chuyện, người lái đò đã 70 tuổi, làm nghề đò dọc mười
năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chục năm. Nhưng mười năm người lái đò đã in
dấu ấn khá đậm ở ngoại hình ông lão: Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc
nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông
ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhãn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng
mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Những dòng này được nhà văn viết ra
không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu
quý nghề ở chính người đó. Nguyễn Tuân là nhà văn luôn nén câu văn của mình
nhiều điều muốn nói, “hàm lượng thông tin” ở đó không bao giờ chỉ ở một tầng
hiển ngôn.
Nét đẹp đầu tiên của người lao động ấy trước hết là sự từng trải, những
nét tả ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự là người từng trải, thành
thạo nghề. Chưa đủ, Nguyễn Tuân còn cho biết: người lái đò còn là một linh hồn
muôn thuở của sông nước này; ông làm nghề đò đã mười năm liền, trên sông Đà,
ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông giữ lái độ sáu chục
lần… Sự từng trải của người lái đò còn thể hiện, dòng sông Đà với bảy mười ba con
thác nhưng ông đã lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào lòng tất cả những luồng
nước của tất cả các con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy,
như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái chấm than

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 25

chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Không phải bỗng dưng mà nhà văn nổi
tiếng tài tử lại đưa vào trang viết của mình tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò
làm nghề. Phải chi li, cụ thể như vậy mới thấy hết sự từng trải, gắn bó của với nghề
đến độ kỳ lạ ở ông lão lái đò. Đấy cũng là cách nhà văn bày tỏ nỗi thán phục của
chính mình về một con người như được sinh ra từ những con sóng, ngọn thác hung
dữ ở sông Đà.

“tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng
đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như
một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn
được. Thế là kết thúc.
Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ
sĩ tài hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa
rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề
chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ
đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã
xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra
hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ
được nó nên có tự do.
Song, quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu
bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà
ngay ở những khúc sông không có thác nó dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ như
người Mèo kêu mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo. Chung quy lại,
nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ
đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì
thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba.
Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác.
Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: Sóng thác
xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa
trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về
những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra
đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua
nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi
vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công
sức của mình. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: Cuộc sống của họ là
ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ


Sông Đà đẹp! Đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng với Nguyễn Tuân dòng sông
mang một vẻ đẹp hoàn mĩ. Nó không chỉ đơn giản là một dòng sông chảy tràn qua

Cái đẹp trong Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Trang 28

núi rừng Tây Bắc mà trở thành một sinh thể sống động, một linh hồn tinh tế và nhạy
cảm. Dòng sông Đà hùng vĩ, hiểm trở là kẻ thù, là thách thức, là một kẻ “hằng năm
đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người” ; vượt qua đoạn thượng nguồn
nó đã trở thành một cố nhân. Và khi trước cảnh: “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh-
Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” Sông Đà trở thành “người tình nhân chưa quen
biết”… Cứ thế, bằng ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Tuân đã dẫn dắt người đọc
chiếm lĩnh vẻ đẹp của con sông bằng tất cả niềm say mê, tình yêu với sông núi,
giang san. Nhà văn đã hát lên những lời ngợi ca say sưa về vẻ đẹp trữ tình tuyệt vời
của Sông Đà như một khúc ca hùng tráng, ngập tràn yêu thương đối với một vùng
thiên nhiên tươi đẹp của đất nước.
Vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà thể hiện qua ngòi bút tài hoa, uyên bác chủ yếu
ở vẻ đẹp hoang dại của thiên nhiên nhằm thỏa mãn thú ham xê dịch. Sông Đà được
miêu tả từ góc nhìn địa lý đã mang đến cho người đẹp một cái nhìn mới mẻ, đa dạng
về vẻ đẹp của thiên nhiên Tổ quốc.
Tùy bút với ưu thế của thể loại trung gian giữa tự sự và trữ tình, linh hoạt, đa
năng tạo điều kiện để nhà văn phát huy và thể hiện những khám phá phong phú và
độc đáo của mình, mang đến cho độc giả một dòng sông sinh động, ấn tượng và có
hồn. Đồng thời, chính sự linh hoạt của tùy bút đã giúp cho ngòi bút phóng túng, tài
hoa của Nguyễn Tuân có đủ không khí vẫy vùng mà khám phá và thể hiện cái đẹp.
Với thể tài tùy bút, nhà văn có được cái tự do phóng túng trong lối viết, điều
đó nó không chỉ phù hợp với tính cách Nguyễn Tuân mà còn phù hợp với nhân vật
người lái đò mà ông khám phá dưới góc độ tài hoa, nghệ sĩ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status