đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian vùng đồng bằng sông cửu long - Pdf 23

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRUYỀN THUYẾT
DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN TP Hồ Chí Minh – 2013

3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian có vị trí quan trọng trong
nền văn học của mỗi dân tộc. Nghiên cứu về truyền thuyết cũng chính là
nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của dân tộc, quốc gia. Việc phân loại và
nghiên cứu về đặc trưng của hệ thống các tác phẩm truyền thuyết dân gian
vùng ĐBSCL là chưa được đặt ra.
Nghiên cứu về thể loại truyền thuyết dân gian của người Việt ở vùng
ĐBSCL là việc làm cần thiết và có ý nghĩa đối với giảng viên, giáo viên, sinh
viên và học sinh trong quá trình giảng dạy, học tập phần văn học địa phương
tại các trường phổ thông, cao đẳng, đại học trong khu vực ĐBSCL.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vì đề tài có liên quan đến vấn đề lý thuyết thể loại truyền thuyết nên ở
phần này chúng tôi sẽ đề cập đến những công trình nghiên cứu liên quan
đến vấn đề đặc trưng của thể loại truyền thuyết và những công trình nghiên
cứu về thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
3. Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là truyền thuyết dân gian người
Việt được hình thành và lưu truyền ở vùng ĐBSCL.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu

nhất. Từ đó góp phần khẳng định giá trị, vị trí của thể loại truyền thuyết dân
gian vùng ĐBSCL trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Chương 1
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG –
CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐẶC TRƯNG VÀ MỘT SỐ TIÊU CHÍ
ĐỂ NHẬN DIỆN THỂ LOẠI
1.1. Cơ sở hình thành đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian
vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
1.1.1. Cơ sở lịch sử - xã hội: Luận án (LA) đã xác định được những cơ
sở lịch sử - xã hội cơ bản góp phần hình thành đặc trưng thể loại truyền
thuyết dân gian vùng ĐBSCL như đặc điểm dân cư và thành phần dân tộc,
5
lịch sử hình thành vùng đất, lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm v.v.
1.1.2. Cơ sở văn hóa: LA đã tiến hành nghiên cứu các đặc điểm dân
cư, thành phần dân tộc, đặc điểm tâm lý, tính cách, đặc điểm tôn giáo, đặc
điểm môi trường tự nhiên của vùng ĐBSCL. Những đặc điểm này đã có tác
động, ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo, lưu truyền, tiếp nhận đồng thời góp
phần tạo nên những đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian trên vùng
đất mới phía Nam.
1.2. Một số tiêu chí nhận diện thể loại truyền thuyết dân gian vùng
ĐBSCL
1.2.1. Cơ sở xác định các tiêu chí để nhận diện thể loại truyền thuyết
dân gian
LA khảo sát và phân tích các tài liệu, các công trình nghiên cứu bàn về
vấn đề đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian để làm cơ sở xác định các
tiêu chí nhận diện thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
1.2.2. Một số tiêu chí để nhận diện thể loại truyền thuyết dân gian vùng
ĐBSCL
Thứ nhất, xét về mặt nội dung, truyền thuyết dân gian ở vùng ĐBSCL
phải chứa đựng nội dung dân tộc – lịch sử. Thứ hai, trong thể loại truyền

được sưu tầm).
2.2. Phân loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL
2.2.1. Cơ sở phân loại
LA tiến hành khảo sát và phân tích các cách phân loại truyền thuyết dân
gian của các nhà nghiên cứu đi trước như Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu, Kiều
Thu Hoạch, Phạm Thu Yến, Nguyễn Bích Hà, Lê Trường Phát, Trần Thị An,
Lê Chí Quế v.v. LA chọn cách phân loại của tác giả Kiều Thu Hoạch làm cơ
sở phân loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
2.2.2. Phân loại
Bảng 1. Phân loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL
ST
T
Loại Tiểu loại
Số
lượng
Ghi chú
1
Truyền
thuyết
địa
danh
1.Truyền thuyết địa danh liên quan
đến những nhân vật tiền hiền có
công khai phá, xây dựng vùng
ĐBSCL.
20 truyện


2
Truyền
thuyết
nhân
vật
1. Truyền thuyết về các nhân vật tiền
hiền khai phá, xây dựng vùng
ĐBSCL.
2. Truyền thuyết về các nhân vật
chống giặc ngoại xâm.
3. Truyền thuyết về các danh nhân
văn hoá.
4. Truyền thuyết về các nhân vật tôn
giáo.
5. Truyền thuyết về các nhân vật là
tướng cướp.
6. Truyền thuyết về các nhân vật là
tay sai cho giặc Pháp
Tổng cộng:
20 truyện
88 truyện08 truyện09 truyện

vùng ĐBSCL.
2. Truyền thuyết về một số phong tục
ở vùng ĐBSCL

Tổng cộng:
08 truyện 03
truyện

11
truyện

Phụ lục
10

Tổng cộng:

210
truyện Tiểu kết chương 2
1. Các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá, các công trình sưu tầm,
sưu khảo về văn học dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng của các nhà
khoa học, nhà sử học, nhà nghiên cứu folklore là những công trình nghiên

3.1.2. Các yếu tố tự sự của thể loại truyền thuyết
Các yếu tố tự sự của thể loại truyền thuyết bao gồm: Hệ thống nhân vật,
các motif, các chi tiết, các sự kiện lịch sử và lời kể trong tác phẩm truyền
thuyết.
Trong quá trình phân tích đặc trưng cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức
9
các yếu tố tự sự của các tiểu loại trong bảng phân loại, chúng tôi sẽ đồng
thời tiến hành khảo sát và so sánh với một số truyền thuyết ở một số vùng
miền khác của Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án sẽ chỉ ra những đặc điểm
mang tính đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
3.2. Đặc trưng cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của
truyền thuyết địa danh
Về khái niệm Truyền thuyết địa danh, chúng tôi thống nhất sử dụng theo
khái niệm Truyền thuyết địa danh của tác giả Kiều Thu Hoạch: “Truyền thuyết
địa danh chủ yếu là chỉ loại truyền thuyết giải thích tên gọi, tức là nói về
nguồn gốc tên gọi của các địa danh ở các địa phương mà có gắn với các sự
kiện, nhân vật lịch sử có liên quan”[86, tr.35-36].
3.2.1. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của tiểu
loại truyền thuyết địa danh liên quan đến những nhân vật tiền hiền có
công khai phá, xây dựng vùng ĐBSCL (Ký hiệu : TL1A)
Ở TL1A, chúng tôi sưu tầm được 20 truyện (Phụ lục 1). Những truyền
thuyết này được phân bố khá đều ở hầu hết 13 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL.
Khảo sát 20 truyền thuyết thuộc TL1A, chúng tôi nhận thấy mỗi câu
chuyện kể của TL1A thường được triển khai bằng sự lắp ghép của các lớp
truyện. Khái niệm lớp truyện mà chúng tôi sử dụng trong luận án này là một
danh từ dùng đề chỉ cho các phần của một câu chuyện truyền thuyết. Các
phần này được cấu tạo theo kiểu phần này tiếp theo phần kia, theo thứ tự
trước sau giữa các phần.
Trong TL1A, mỗi cốt truyện thường gồm có 04 lớp truyện, cụ thể như sau:
Lớp truyện thứ nhất, tác giả dân gian thường miêu tả, định vị địa danh.

ở miền Tây Nam của Tổ quốc được nhiều tầng lớp người trong xã hội cùng
tham gia. Đặc điểm này trong truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL đã phản
ánh chân thực lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, trong đó có
vùng ĐBSCL. Đây là một đặc điểm mang tính đặc trưng của cấu tạo cốt
truyện của truyền thuyết địa danh TL1A nói riêng, của thể loại truyền thuyết
dân gian vùng ĐBSCL nói chung.
Cảm hứng chủ đạo trong mảng truyền thuyết địa danh thuộc TL1A này
là cảm hứng ngợi ca những con người đã đóng góp, đã hy sinh trong quá
trình khai phá vùng đồng bằng hoang sơ, thấp trũng, đầy cỏ lác thành những
11
cánh đồng bằng phẳng, mênh mông. Đây cũng là cảm hứng bao trùm của
loại truyền thuyết địa danh người Việt.
Điểm tương đồng về nội dung giữa truyền thuyết địa danh TL1A so với
một số truyền thuyết địa danh của một số tỉnh miền Bắc, miền Trung Việt
Nam là cảm hứng ngợi ca và tôn vinh những con người đã có công lao chiến
đấu để chiến thắng kẻ thù bốn chân, chinh phục tự nhiên, khai phá, xây dựng
quê hương, đất nước. Hành trạng, công tích và tên tuổi của họ đã được nhân
dân ghi dấu lên mọi miền của đất nước.
Một điểm tương đồng nữa được thể hiện trong nội dung cốt truyện giữa
truyền thuyết địa danh TL1A so với một số truyền thuyết địa danh của một số
tỉnh miền Bắc, miền Trung đó là việc tác giả dân gian luôn chú ý ca ngợi
những người phụ nữ trong công cuộc khai phá, chinh phục tự nhiên, xây
dựng quê hương đất nước.
Bên cạnh những nét tương đồng được thể hiện trong cấu tạo cốt truyện
của truyền thuyết địa danh TL1A so với một số truyền thuyết của một số tỉnh
ở miền Bắc và miền Trung thì cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố
tự sự của truyền thuyết địa danh TL1A này vẫn có những nét đặc trưng riêng.
Thứ nhất, khảo sát truyền thuyết địa danh TL1A, không thấy xuất hiện
những kiểu xung đột, những sự kiện tranh chấp đất đai vốn khá phổ biến
trong một số truyền thuyết địa danh ở một số tỉnh thuộc vùng Trung Bộ và

đặc điểm của nhân vật có liên quan đến địa danh  Diễn biến sự kiện
lịch sử hoặc hành trạng, công tích của nhân vật  Đoạn kết của sự kiện
lịch sử hoặc đoạn kết của nhân vật và việc lý giải tên gọi của địa danh.
Việc khai thác mối quan hệ giữa con người với cộng đồng là nét đặc
trưng của thể loại truyền thuyết so với thần thoại và cổ tích. Đây cũng là đặc
điểm nội dung mang tính tương đồng nổi bật nhất của truyền thuyết địa danh
vùng ĐBSCL so với truyền thuyết địa danh cùng tiểu loại ở các vùng miền khác
trong cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh điểm tương đồng về nội dung so với truyền thuyết
địa danh ở các vùng miền khác như vừa nêu, truyền thuyết địa danh TL1B
còn có những nét đặc trưng riêng.
Nét đặc trưng thứ nhất thể hiện ở cảm hứng sáng tác. Truyền thuyết địa
danh vùng ĐBSCL không chỉ chứa đựng cảm hứng ca ngợi và tôn vinh mà
13
còn có cả cảm hứng bi tráng khi kể về những mất mát, đau thương của nhân
dân, đặc biệt là trong thời kỳ chống giặc Pháp xâm lược. Đặc điểm mang tính
đặc trưng này của truyền thuyết địa danh TL1B có cơ sở từ đặc điểm lịch sử,
xã hội của vùng ĐBSCL, đặc biệt là giai đoạn lịch sử Pháp xâm lược Nam Bộ
1858 – 1918. Thứ hai, khảo sát truyền thuyết địa danh TL1B, chúng tôi nhận
thấy sự vắng bóng của yếu tố thần kỳ trong cấu tạo cốt truyện. Thứ ba,
những nhân vật xuất hiện trong truyền thuyết địa danh TL1B thường không
có những công trạng lớn đối với lịch sử cộng đồng.
3.2.3. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của tiểu
loại truyền thuyết địa danh có liên quan đến nhân vật Nguyễn Ánh (Kí
hiệu: TL1C)
Truyền thuyết địa danh ở vùng ĐBSCL có liên quan đến nhân vật
Nguyễn Ánh hiện chúng tôi mới sưu tầm được 19 truyện. Những truyền thuyết
này được phân bố ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL cụ thể như sau:
Bảng 2: Tình hình phân bố truyền thuyết địa danh có liên quan
đến nhân vật Nguyễn Ánh

Điểm tương đồng được thể hiện ở nội dung của những câu chuyện đều kể
về quá trình Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn, gặp khó khăn, nguy hiểm.
Tuy nhiên, ở type truyện thứ hai này không thấy có sự xuất hiện của yếu tố
thần kỳ trợ giúp Nguyễn Ánh trong cấu tạo cốt truyện. Nhân vật Nguyễn Ánh
cùng quan quân vượt qua mọi khó khăn là nhờ vào việc giúp đỡ chủ yếu của
con người, của nhân dân ở mỗi địa phương thuộc vùng ĐBSCL mà Nguyễn
Ánh đã từng lưu trú.
Chúng tôi sơ đồ hoá cấu tạo cốt truyện của type truyện thứ hai như sau:
Mô hình 2: Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn → gặp khó khăn →
nhờ nhân dân → được trợ giúp → vượt qua khó khăn → khi lên ngôi,
Nguyễn Ánh nhớ ơn nên đặt tên địa danh, di tích mang tên nhân vật đã
giúp đỡ Nguyễn Ánh.
Type truyện thứ ba cũng kể về sự kiện Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng
vừa chạy trốn quân Tây Sơn vừa tích cực chuẩn bị các điều kiện về cơ sở
vật chất để chuẩn bị chống lại quân Tây Sơn. Dân gian lý giải việc hình thành
tên gọi các địa danh luôn có sự gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động, sinh hoạt
của Nguyễn Ánh.
Trong type truyện thứ ba của truyền thuyết địa danh TL1C chúng tôi
nhận thấy có sự xuất hiện của yếu tố thần kỳ trong cốt truyện. Chúng tôi mô
15
hình hóa thành hai dạng như sau:
Mô hình 3: Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi → trên đường
bôn tẩu, Nguyễn Ánh và đoàn tuỳ tùng dừng chân ở một số địa phương
để chuẩn bị cho việc khôi phục cơ đồ → chiến thắng Tây Sơn → Vua
nhớ ơn đất và người ở các địa phương đã giúp nhà vua lúc khó khăn nên
đặt tên cho những địa danh ấy.
Mô hình 4: Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi → trên đường
bôn tẩu, Nguyễn Ánh và đoàn tuỳ tùng dừng chân ở một số địa phương
để chuẩn bị cho việc khôi phục cơ đồ → Nhân dân ở các địa phương
đặt tên cho địa danh phù hợp với hoàn cảnh của nhân vật Nguyễn Ánh

So với truyền thuyết địa danh ở vùng Bắc Bộ, truyền thuyết địa danh
vùng ĐBSCL có một số điểm tương đồng và dị biệt. Điểm tương đồng thể
hiện chủ yếu ở nội dung dân tộc lịch sử, ở cốt lõi lịch sử của tác phẩm luôn
gắn bó chặt chẽ với những đặc điểm lịch sử - xã hội và văn hóa ở một vùng
miền cụ thể. Điểm dị biệt thể hiện ở xu hướng bám sát hiện thực lịch sử của
tác phẩm, yếu tố thần kỳ xuất hiện thưa thớt trong hệ thống truyền thuyết địa
danh vùng ĐBSCL, cốt truyện thường đơn giản và ít tình tiết.
Chương 4
ĐẶC TRƯNG CẤU TẠO TRUYỀN THUYẾT NHÂN VẬT
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Khái niệm Truyền thuyết nhân vật là một khái niệm dùng để chỉ các câu
chuyện kể trong dân gian trực tiếp đề cập đến các nhân vật lịch sử trong quá
khứ. Các nhân vật này có vai trò, sự ảnh hưởng, tác động nhất định đối với đông
đảo quần chúng nhân dân ở một vùng miền hoặc ở một địa phương cụ thể.
4.1. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của truyền
thuyết về các nhân vật tiền hiền có công khai phá, xây dựng vùng ĐBSCL
(Ký hiệu: TL2A)
Cấu tạo cốt truyện của truyền thuyết nhân vật TL2A thường bao gồm 3
lớp truyện, được triển khai cụ thể như sau:
Lớp truyện thứ nhất: Tác giả dân gian kể về nguồn gốc, đặc điểm nhân vật.
Lớp truyện thứ hai: Sự nghiệp, hành trạng và công đức của nhân vật.
Lớp truyện thứ ba: Đoạn kết của nhân vật.
Chúng tôi sơ đồ hóa cấu tạo cốt truyện của truyền thuyết nhân vật TL 2A
17
như sau:
Mô hình 1: Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật  Sự nghiệp, hành trạng,
công đức của nhân vật  Đoạn kết của nhân vật.
Nhìn chung, cấu tạo cốt truyện của các tác phẩm truyền thuyết nhân
vật TL2A đơn giản, tuân theo cấu tạo cốt truyện mang tính đặc trưng của thể
loại truyền thuyết. Nội dung chủ đạo trong các truyền thuyết này chính là sự

Tên truyện
I
Nguồn gốc, đặc điểm
của nhân vật
1. Truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực
2. Sức khoẻ và võ nghệ của ông Nguyễn.
II
Hành trạng và chiến
công của nhân vật
1. Tài trí của Nguyễn Trung Trực
2. Lòng hiếu thảo và khí phách lẫm liệt
của Nguyễn Trung Trực
3. Nguyễn Trung Trực và trận đánh trên
sông Nhựt Tảo.
4. Ông Nguyễn diệt giặc ở Kiên Giang.
5. Ông Soái nghi binh
6. Nguyễn Trung Trực cứu cô Ba Đỏ
7. Nguyễn Trung Trực và nỗi đau mất vợ,
con.
III
Đoạn kết của nhân
vật
1. Ông Nguyễn trong giờ phút bị bao vây
ở Phú Quốc.
2. Ông Nguyễn.
3. Nguyễn Trung Trực chịu thụ hình
4. Ông Soái phi ngựa trên biển giết giặc.
Về nhân vật Đốc Binh Kiều, chúng tôi sưu tầm được 03 truyền thuyết kể
về nhân vật này, mỗi câu chuyện kể tương ứng với một lớp truyện, cụ thể
như sau:

1. Truyền thuyết về Thiên Hộ Dương
2. Thiên Hộ Dương thuở nhỏ
3. Sức khoẻ và võ nghệ của Thiên Hộ Dương.
19
4. Thiên Hộ Dương với đường roi song đôi.
II
Hành trạng và
chiến công của
nhân vật
1. Thiên Hộ Dương dẹp mối bất hoà giữa các
tướng cận vệ.
2. Thiên Hộ Dương đấu gươm với đô đốc Bạc

3. Thiên Hộ Dương và đạo binh rắn.
4. Trận Mỹ Trà năm Ất Sửu
III
Đoạn kết của
nhân vật
1. Thiên Hộ Dương lâm nạn.
2. Đoạn cuối cuộc khởi nghiã Thiên Hộ Dương
3. Ngày giỗ của ông Thiên Hộ Dương
Về chuỗi truyền thuyết Trương Định, chúng tôi đã sưu tầm được 07
truyền thuyết, cụ thể như sau:
Bảng 6. Truyền thuyết về Trương Định
Lớp
truyện
Nội dung của lớp truyện

Tên truyện
I

Ở lớp truyện thứ hai, Kể về tài năng và chiến công của nhân vật. Đây
cũng là nội dung cơ bản trong các truyền thuyết về nhân vật anh hùng chống
giặc ngoại xâm của người Việt nói chung. Chiến công của các nhân vật anh
hùng trong truyền thuyết TL2B ở vùng ĐBSCL được tạo nên chủ yếu do
nhân vật có sức khỏe phi thường hoặc do mưu trí, các nhân vật biết phát huy
lối đánh dân gian, lối đánh bí mật, bất ngờ và ít bị tiêu hao lực lượng.
Khảo sát lớp truyện thứ ba, lớp truyện kể về đoạn kết của các nhân vật
anh hùng chống giặc ngoại xâm, chúng tôi nhận thấy có 14/86 truyền thuyết
thuộc tiểu loại 2B có motif hoá thân, motif nhân vật hiển linh, âm phù, 72
truyền thuyết còn lại kể về cái chết của các nhân vật thường tuân thủ theo
đúng thực tế, nếu có thay đổi thì cũng không đáng kể.
Motif nhân vật bị giặc chém đầu là motif phổ biến trong truyền thuyết
nhân vật anh hùng chống giặc ngoại xâm ở vùng ĐBSCL. Theo thống kê, có
17/86 truyền thuyết về nhân vật anh hùng chống ngoại xâm có motif nhân vật
hy sinh do bị giặc chém đầu. Những truyền thuyết kể về người anh hùng hy
sinh do bị giặc chém đầu vừa mang tính bi tráng, vừa mang đậm tính anh
hùng ca.
Cũng ở lớp truyện thứ ba của nhóm truyền thuyết 2B, có 11/86 truyền
thuyết mà trong đó tác giả dân gian kể về sự hiển linh, âm phù của các nhân
vật anh hùng.
Nhìn chung, motif hiển linh xuất hiện trong phần kết của các tác phẩm
truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL đã làm nổi bật quan niệm của tác giả
dân gian về chất thiêng của người anh hùng.
Sau đây là mô hình thứ nhất về cấu tạo cốt truyện của truyền thuyết nhân
vật TL2B (truyền thuyết nhân vật TL2B có motif nhân vật hiển linh, âm phù):
Mô hình 1: Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật → tài năng, chiến công
của nhân vật → nhân vật hi sinh → hiển linh, âm phù → được nhân dân
thờ cúng.
Tuy nhiên, đa số truyền thuyết dân gian thuộc tiểu loại 2B này đều kể về
đoạn kết của các nhân vật anh hùng chống giặc ngoại xâm theo đúng thực tế,

hoá ở vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ này.
22
Truyền thuyết nhân vật TL2C có cấu tạo cốt truyện cụ thể như sau:
Đa số các truyền thuyết TL2C (5/8 truyện) gồm có đầy đủ cả 3 lớp truyện
mang tính đặc trưng của thể loại truyền thuyết đó là:
- Lớp truyện thứ nhất : Kể về nguồn gốc, lai lịch, đặc điểm của nhân vật.
- Lớp truyện thứ hai: Kể về sự nghiệp, hành trạng của nhân vật.
- Lớp truyện thứ ba: Kể về đoạn kết của nhân vật.
Ngoài ra, có 3/8 truyền thuyết về các danh nhân văn hoá chỉ có 01 hoặc
02 lớp truyện trong cấu tạo cốt truyện. Ở đây xuất hiện vấn đề mang tính lý
luận về thể loại truyền thuyết dân gian đó là truyền thuyết dân gian Việt Nam
nói chung, truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL nói riêng có hai dạng tồn tại
song song: Dạng thứ nhất tồn tại với một cốt truyện hoàn chỉnh (bao gồm 3
lớp truyện); Dạng thứ hai tồn tại ở dạng mẩu chuyện (chỉ bao gồm 1 hoặc 2
lớp truyện).
Đặc điểm cấu tạo cốt truyện của truyền thuyết về danh nhân văn hoá ở
vùng ĐBSCL có nhiều điểm tương đồng với một số truyền thuyết mới được
sưu tầm ở vùng Lam Sơn, Liễu Đôi.
Tuy nhiên, so với một số truyền thuyết danh nhân văn hoá ở một số tỉnh
ở phía Bắc thì cấu tạo cốt truyện của truyền thuyết danh nhân văn hoá ở
vùng ĐBSCL vẫn có những đặc điểm riêng. Cụ thể, trước hết phải kể đến
yếu tố thần kỳ, yếu tố này rất hiếm gặp trong cốt truyện của truyền thuyết
danh nhân văn hoá vùng ĐBSCL nói riêng và cả hệ thống truyền thuyết dân
gian vùng ĐBSCL nói chung. Xét ở cả 3 lớp truyện trong một cốt truyện hoàn
chỉnh, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết nhân vật TL2C chỉ có 1/8 truyền
thuyết có yếu tố thần kỳ xuất hiện trong các lớp truyện (Truyền thuyết về Bà
Tư Có), còn lại là 7/8 truyện đều không có yếu tố thần kỳ xuất hiện trong các
lớp truyện.
Ở lớp truyện thứ hai, truyền thuyết danh nhân văn hoá vùng ĐBSCL
tập trung kể về sự nghiệp, hành trạng, tài năng của nhân vật. Đa số các nhân

nhiều (Phụ lục 8). Cấu tạo cốt truyện của truyền thuyết nhân vật TL2E được
triển khai như sau:
Lớp truyện thứ nhất: Nguồn gốc và đặc điểm của nhân vật.
Lớp truyện thứ hai: Hành trạng, chiến công của nhân vật.
Lớp truyện thứ ba: Đoạn kết của nhân vật.
24
Trong lớp truyện thứ ba của truyền thuyết nhân vật TL2E ở vùng ĐBSCL
đều không thấy xuất hiện các motif hoá thân hay các motif hiển linh, âm phù
như một số truyền thuyết nhân vật khác. Đặc điểm này có nét tương đồng so
với phần kết của truyền thuyết Chàng Lía được sưu tầm ở vùng Nam Trung Bộ.
4.6. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của truyền
thuyết về các nhân vật làm tay sai cho thực dân Pháp (Ký hiệu: TL2F)
Truyền thuyết nhân vật TL2F bao gồm những câu chuyện kể về các
nhân vật làm tay sai cho thực dân Pháp trong giai đoạn lịch sử 1858 – 1945.
Trong quá trình sưu tầm, điền dã, đồng thời căn cứ vào các tiêu chí để
nhận diện các tác phẩm truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL, chúng tôi đã
sưu tầm được 09 truyền thuyết nhân vật thuộc TL2F hiện vẫn đang được lưu
truyền trong đời sống của cư dân vùng ĐBSCL (Phụ lục 9). Cấu tạo cốt
truyện của truyền thuyết nhân vật TL2F gồm 03 lớp truyện, được triển khai
như sau:
Lớp truyện thứ nhất: Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật.
Lớp truyện thứ hai: Hành trạng của nhân vật.
Lớp truyện thứ ba: Đoạn kết của nhân vật.
Khảo sát 09 truyền thuyết thuộc tiểu loại 2F này, chúng tôi nhận thấy ở
lớp truyện thứ nhất không thấy xuất hiện motif thụ thai hoặc sinh nở thần kì.
Đây cũng là điểm tương đồng với nhiều tiểu loại truyền thuyết dân gian khác
ở vùng ĐBSCL.
Chúng tôi mô hình hoá cốt truyện của truyền thuyết nhân vật TL2F như sau:
Mô hình 1: Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật  Hành trạng của nhân vật.
Mô hình 2: Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật  Hành trạng của nhân

2. Cảm hứng chủ đạo trong các truyền thuyết nhân vật vùng ĐBSCL là
ca ngợi và tôn vinh những giá trị của cộng đồng trong lịch sử: Ca ngợi và tôn
vinh các bậc tiền hiền, nhân vật anh hùng chống giặc ngoại xâm, các danh
nhân văn hóa, các nhân vật tôn giáo. Bên cạnh đó, trong nhiều các tác phẩm
truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL còn xuất hiện cảm hứng lên án, phê
phán các nhân vật là tay sai đắc lực của giặc Pháp xâm lược.
3. Truyền thuyết nhân vật vùng ĐBSCL tồn tại với nhiều dạng cấu tạo
cốt truyện khác nhau. Tồn tại ở dạng kết cấu chuỗi, kết cấu đơn và tồn tại ở
cấp độ chi tiết (mẩu chuyện). Trong cốt truyện của các tác phẩm truyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status