LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGÔ TÚ QUYÊN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 4
TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 4
1.1. Khái quát công ty tài chính 4
1.1.1. Khái niệm, hoạt động cơ bản của công ty tài chính 4
1.1.2. Khái niệm, phân loại rủi ro tín dụng 7
1.2. QuẢn trỊ rỦi ro tín dỤng tẠi công ty tài chính 10
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 10
1.2.2. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng 10
1.2.3. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng 11
1.3. HiỆu quẢ quẢn trỊ rỦi ro tín dỤng tẠi công ty tài chính 21
1.3.1. Khái niệm hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng 21
1.3.2. Đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng 22
CHƯƠNG 2 28
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM 28
2.1. TỔng quan vỀ TỔng Công ty Tài chính CỔ phẦn DẦu khí ViỆt Nam 28
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí
Việt Nam 28
2.1.2. Lĩnh vực hoạt động và mô hình tổ chức của Tổng Công ty Tài chính Cổ
phần Dầu khí Việt Nam 29
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh thời gian qua (2009 – 2012) 32
2.2. ThỰc trẠng quẢn trỊ rỦi ro tín dỤng tẠi TỔng Công ty Tài chính CỔ phẦn
STT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 CBTD Cán bộ tín dụng
3 CTTC Công ty tài chính
4 DK, NL, KS Dầu khí, năng lượng, khoáng sản
5 ĐVT Đơn vị tính
6 HĐQT Hội đồng Quản trị
7 KD Kinh doanh
8 NHNN Ngân hàng Nhà nước
9 NHTM Ngân hàng Thương mại
10 PVFC
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí
Việt Nam
11 PVN Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
12 QTRR Quản trị rủi ro
13 QTRR TD Quản trị rủi ro tín dụng
14 RRTD Rủi ro tín dụng
15 TCTD Tổ chức tín dụng
16 TSĐB Tài sản đảm bảo
17 XHTDNB Xếp hạng tín dụng nội bộ
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1. Phân loại rủi ro tín dụng 8
Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức của PVFC 30
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009 – 2012 32
Biểu đồ 2.1. Tăng trưởng tổng tài sản qua các năm 2009-2012 34
Biểu đồ 2.2. Tăng trưởng tín dụng qua các năm 2009 – 2012 35
Sơ đồ 2.2. Bộ máy tổ chức hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 37
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp phân loại nợ 47
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp nợ xấu tại PVFC 48
có hiệu quả thực sự, PVFC luôn chú trọng quản trị rủi ro tín dụng (QTRR
TD) bởi lẽ hoạt động này sẽ góp phần hạn chế được RRTD. Tuy nhiên trên
2
thực tế, hoạt động QTRR TD tại PVFC vẫn còn nhiều bất cập (như bộ máy
QTRR TD chưa hoàn thiện, chưa ban hành quy trình QTRR TD,…). Xuất
phát từ nhận thức đó, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi
ro tín dụng tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam”.
Luận văn nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp dựa trên các luận cứ
khoa học và thực tiễn đang là vấn đề nóng hiện nay, góp phần vào việc nâng
cao hiệu quả QTRR TD tại các CTTC nói chung và tại PVFC nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu, hệ thống hoá lý luận cơ bản về QTRR TD và hiệu quả
QTRR TD tại các TCTD;
- Đánh giá thực trạng QTRR TD tại PVFC. Trên cơ sở đó luận văn đánh
giá hiệu quả QTRR TD tại PVFC trong giai đoạn từ 2009 – 2012;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QTRR TD
tại PVFC trong thời gian tới.
3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên
cứu, trên cơ sở yêu cầu và với khả năng nghiên cứu, luận văn lựa chọn đối
tượng nghiên cứu là QTRR TD, tập trung vào: bộ máy QTRR TD; chính sách
QTRR TD và quy trình QTRR TD.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: tại PVFC
+ Về thời gian: giai đoạn từ năm 2009 - 2012
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp luận duy vật biện chứng được
sử dụng, kết hợp sử dụng với các phương pháp thống kê, phương pháp so
sánh, tổng hợp, bảng biểu, sơ đồ minh hoạ để phân tích và làm rõ thực trạng
QTRR TD tại PVFC.
rộng quy mô hoạt động cũng như phát triển các loại hình sản phẩm dịch vụ đã
gây khó khăn trong việc phân biệt các loại hình này, đặc biệt là giữa CTTC và
NHTM. Tại Việt Nam hiện có tới 18 CTTC, phần lớn thuộc các Tập đoàn
kinh tế Nhà nước, các Tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam đều có CTTC riêng
như PVN có PVFC, Tập đoàn Điện lực có Công ty Tài chính Cổ phần Điện
lực, Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam có Công ty TNHH MTV Tài chính
Than – Khoáng sản Việt Nam, Ưu điểm của các CTTC là đem lại một
5
nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án trọng điểm từ đó thúc đẩy
cũng như nâng cao hoạt động theo chiều sâu của tổng công ty.
1.1.1.2. Hoạt động cơ bản của công ty tài chính
Với vai trò giúp các Tập đoàn quản trị nguồn tài chính của mình tốt nhất,
đặc biệt là đối với những Tập đoàn có nguồn vốn và dòng tiền lớn, với chức
năng là một trung gian tài chính, CTTC có thể huy động vốn ở những công ty
thừa vốn và cho vay đối với những doanh nghiệp thiếu vốn trong tập đoàn,
việc này làm cho nguồn vốn luân chuyển một cách hiệu quả hơn. Dựa trên
chức năng và vai trò như trên, CTTC có các hoạt động cơ bản như sau:
* Hoạt động huy động vốn:
CTTC được huy động vốn từ các nguồn sau:
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN);
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá
khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo
quy định của NHNN Việt Nam;
- Vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và
các tổ chức tài chính quốc tế;
- Tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và
ngoài nước.
* Hoạt động tín dụng:
CTTC được cho vay dưới các hình thức:
7
1.1.2. Khái niệm, phân loại rủi ro tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Sự xuất hiện của quan hệ tín dụng gắn liền với sự phát triển của nền sản
xuất kinh doanh hàng hoá, vì trong nền kinh tế luôn tồn tại một bộ phận
những doanh nghiệp thừa hoặc thiếu vốn tạm thời. Khi hai cực này được tiếp
cận với nhau thì sẽ nảy sinh quan hệ tín dụng. Vì thể có thể hiểu bản chất của
tín dụng là sự vận động của vốn từ nơi thừa tạm thời đến nơi thiếu tạm thời để
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Một cách hiểu chung nhất về quan hệ
tín dụng đó là: Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho
vay, trong đó người cho vay nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay
dựa trên sự tín nhiệm và theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi sau một thời
gian nhất định. Sự hoàn trả này không chỉ bảo tồn giá trị mà còn được tăng
thêm dưới hình thức lợi tức. Quá trình vận động mang tính chất hoàn trả của
hoạt động tín dụng là biểu hiện về sự khác biệt giữa hoạt động tín dụng và các
hoạt động kinh tế khác [12].
Những lĩnh vực hoạt động kinh doanh có khả năng mang lại càng nhiều
lợi nhuận thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro. RRTD là một trong những loại rủi ro
lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, nó thường xuyên xảy ra và
gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động của CTTC vì các khoản cho vay
thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu
của các tổ chức này song cũng mang lại những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn
đến phả sản CTTC.
“Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi
không đùng kỳ hạn” [10, tr32].
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN
Việt Nam thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của CTTC là khả năng xảy
8
ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của CTTC do khách hàng không thực
9
Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá
khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình thẩm định và phân
tích tín dụng, khi CTTC lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra
quyết định cho vay hay từ chối cho vay. Việc thẩm định, phân tích tín dụng và
quyết định cho vay là khâu hết sức quan trọng trong quy trình cho vay, bởi nó
quyết định chất lượng tín dụng của khoản vay.
+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức
cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,… Các tiêu chuẩn đảm bảo
được xem như là căn cứ cho sự “tin tưởng” của CTTC đối với khách hàng, từ
đó quyết định xem có chấp nhận cấp tín dụng cho khách hàng hay không. Các
tiêu chuẩn đảm bảo này cũng là tài sản cuối cùng thay thế cho nghĩa vụ trả nợ
của khách hàng nếu khách hàng không có khả năng trả nợ khi đến hạn.
+ Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
quản trị hoạt động cho vay, như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để
định hướng cho việc thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay, bao
gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay
có vấn đề.
- Rủi ro danh mục là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn
chế trong quản lý danh mục cho vay của CTTC, được phân thành:
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có mang tính
riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó
xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng
vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: rủi ro do CTTC tập trung cho vay quá nhiều vào một
số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định
10
và cùng một loại hình cho vay có độ rủi ro cao. Để giảm thiểu loại hình rủi ro
nhằm mục đích quản lý RRTD, được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ,
toàn diện và liên tục trong công tác QTRR TD của CTTC.
Các TCTD có năng lực QTRR TD có khả năng khống chế nợ xấu ở một
tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ xây dựng một bộ máy QTRR TD hiệu quả,
phù hợp với môi trường hoạt động để hạn chế được những RRTD mang tính
chủ quan, xuất phát từ yếu tố con người và những RRTD khác có thể kiểm
soát được.
Bộ máy QTRR TD có thể sử dụng một trong hai phương pháp, đó là
phương pháp QTRR TD tập trung hoặc phương pháp QTRR TD phân tán.
* Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng tập trung:
Phương pháp này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý
rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp. Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu
hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ
năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng [13].
Quản trị rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn tổ chức, đảm bảo tính
cạnh tranh lâu dài; Thiết lập và duy trì môi trường QTRR đồng bộ, phù hợp với
quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng
lực đo lường giám sát rủi ro; Xây dựng chính sách QTRR thống nhất cho toàn
hệ thống; Thích hợp với CTTC có quy mô lớn. Tuy nhiên, điều kiện để áp
dụng QTRR TD tập trung đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.
12
* Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng phân tán:
Phương pháp này chưa có sự tách bạch giữa chức năng QTRR, kinh doanh
và tác nghiệp. Trong đó, phòng tín dụng của CTTC thực hiện đầy đủ 3 chức
năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay [13].
Tổ chức QTRR theo phương pháp này tạo nên bộ máy gọn nhẹ, cơ cấu tổ
chức đơn giản, thích hợp với các CTTC có quy mô nhỏ. Tuy nhiên, thiếu sự
chuyên sâu; đồng thời việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức
từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua
chính sách tín dụng.
dịch lần đầu tiên với CTTC và đánh giá lại định kỳ hàng năm;
+ Hạn mức tín dụng: được coi là một công cụ trong quản lý RRTD.
Trong CTTC, hạn mức tín dụng cần phải được thiết lập nhằm kiểm soát các
khoản tín dụng cấp cho một hay một nhóm khách hàng vay có liên quan đến
nhau. Hạn mức còn được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu sự đa dạng hóa của
danh mục tín dụng với các yếu tố ngành nghề, thành phần kinh tế, vị trí địa lý
và sản phẩm của CTTC. Ngoài ra, hạn mức tín dụng đặt ra tại một CTTC phải
đảm bảo tuân thủ các quy định và hạn mức tín dụng của NHNN.
+ Quy định phân cấp thẩm quyền: việc phân cấp rõ ràng và phù hợp
trong việc quyết định giúp đảm bảo các quyết định tín dụng là thận trọng và
hợp lý. Việc phân cấp bao gồm phân cấp thẩm quyền phê duyệt giới hạn tín
dụng cho một khách hàng, thẩm quyền quyết định trong một lần cấp tín dụng
cho một khách hàng hay một nhóm khách hàng liên quan, thẩm quyền xử lý
miễn giảm lãi, thẩm quyền xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Việc phân cấp, ủy quyền phải thể hiện bằng văn bản rõ ràng và ít nhất
phải bao gồm mức giới hạn thẩm quyền phê duyệt tín dụng, giao trách nhiệm
14
cho từng vị trí và khả năng giao trách nhiệm của người nhận trách nhiệm có
thể ủy quyền cho các cấp dưới. Để chính sách tín dụng hiệu quả, cơ cấu phân
cấp trong hoạt động tín dụng phải được thiết lập để đảm bảo các khoản vay
được quyết định bởi cá nhân có đủ kinh nghiệm, kiến thức và có quan hệ độc
lập với người vay. Thông thường, các CTTC sử dụng một tiến trình phê duyệt
tín dụng tăng tiến liên tục theo cấp bậc trách nhiệm tăng dần từ chi nhánh tới
các phòng ban tại Hội sở chính và cấp lãnh đạo cao nhất của CTTC.
+ Quy định về phân vùng đầu tư: Một CTTC luôn có một mạng lưới các
chi nhánh trực thuộc. Việc phân vùng đầu tư giúp cho các chi nhánh có sự tập
trung thích hợp cho công tác quản lý tín dụng tại chi nhánh của mình. Ngoài
ra, biện pháp này cũng giúp cho bộ phận quản lý tại Hội sỏ chính có thể thực
hiện quản lý các chi nhánh sát sao hơn. Tất nhiên, việc phân vùng đầu tư
không phải công cụ để hạn chế sự phát triển của các chi nhánh. Trong các
mại cho các hoạt động phát triển dài hạn; chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ
đắt nhất, ví dụ: thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải
trả (factoring); giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; các hệ số
thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu; có biểu hiện giảm vốn điều lệ,
- Công tác tổ chức quản lý của khách hàng: Cơ cấu hệ thống quản trị
hoặc ban điều hành thường xuyên có sự thay đổi. Ngoài ra, hệ thống quản trị
hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán
hoặc ngược lại quá phân tán. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được
điều hành bởi Hội đồng Quản trị (HĐQT) hoặc Giám đốc ít hay không có
kinh nghiệm; HĐQT hoặc Giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia
quá sâu vào vấn đề thường nhật; Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ
nợ; Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên; lập kế hoạch xác định
16
mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó
với những thay đổi. Đặc biệt công tác quản lý có tính gia đình cũng thể hiện
sự thiếu chuyên nghiệp trong công tác tổ chức quản lý.
* Nhóm các yếu tố liên quan tới TCTD:
- Năng lực và trình độ của cán bộ tín dụng: CBTD thiếu năng lực, trình
độ yếu kém, không xác định phân tích được rủi ro khi tiến hành thẩm định
phương án tín dụng cũng như trong suốt thời hạn cấp tín dụng.
- Mức độ tập trung của danh mục tín dụng: một nhân tố tác động tiêu cực
đến khoản vay có thể gây ra tổn thất nghiêm trọng hơn nhiều nếu danh mục
tín dụng của CTTC quá tập trung vào một nhóm khách hàng nào đó, đặc biệt
là nhóm khách hàng hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề của độ rủi ro cao.
Rủi ro loại này có thể hạn chế được thông qua sự đánh giá thường xuyên mức
độ rủi ro của ngành, khu vực, sản phẩm, loại hình TSĐB, loại ngoại tệ, thời
hạn cho vay,…
b) Đo lường rủi ro tín dụng
Sau khi nhận dạng được các rủi ro, CTTC cần xem xét cụ thể hóa dưới
những chỉ tiêu định lượng giúp Ban điều hành xác định được rủi ro cần được
hàng trung ương theo từng thời kỳ.
+ Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của
luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người
vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn
của CTTC không?
CTTC xem xét nhiều tiêu chí trong việc cấp tín dụng cho khách hàng,
tuy nhiên, trong thực tế thường tập trung vào 6 tiêu chí cơ bản, gọi là “6C”.
18
* Chấm điểm RRTD: Đây là một phương pháp tương đối khoa học khi
đo lượng rủi ro, không chỉ hỗ trợ cho quá trình ra quyết định cấp vốn mà còn
sử dụng để theo dõi khách hàng. Trên thế giới, các TCTD coi hệ thống cho
điểm và xếp loại rủi ro là một phương thức căn bản trong việc xây dựng
khung QTRR TD cho TCTD. Chấm điểm tín dụng sử dụng các phương pháp
định lượng về tình hình hoạt động và đặc tính cúa các khoản tín dụng trong
quá khứ để dự đoán hoạt động tín dụng có những đặc tính tương tự trong
tương lai. Hệ thống chấm điểm tín dụng rất quan trọng trong việc quản lý và
kiểm soát RRTD và cần được sử dụng ở nhiều giai đoạn trong chu kỳ tín dụng
(giai đoạn xem xét cấp vốn vay, giai đoạn giám sát khoản vay).
* Nợ xấu: Theo Khoản 6 Điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước, “nợ xấu là các khoản nợ thuộc các
nhóm 3 (dưới chuẩn), 4 (nghi ngờ) và 5 (có khả năng mất vốn)”. Cụ thể nhóm
3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc trả gốc trên 90 ngày,
đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các TCTD căn cứ
vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các
nhóm thích hợp. Như vậy, nợ xấu được xác định theo 02 yếu tố: đã quá hạn trên
90 ngày; và khả năng trả nợ đáng lo ngại. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được sử
dụng để đo lường RRTD, là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD.
* Tỉ lệ Dự phòng tổn thất/ Dư nợ: CTTC ước tính tổn thất tín dụng trên
tổng số dư nợ cho vay hiện thời. Đây là tổn thất ước tính dựa trên đánh giá
một hay kết hợp nhiều nhân tố rủi ro. Để có sự đánh giá chính xác, CTTC
CTTC còn phải giám sát chất lượng toàn bộ danh mục tín dụng theo định kỳ.
Để thực hiện điều này, người thực hiện giám sát cần tiến hành những phân