đánh giá sự đa dạng di truyền của một số giống đậu tương (glycine max merril) địa phương - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Pi

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC


ĐINH NGỌC HƯƠNG ĐÁNH GIÁ SỰ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU
TƯƠNG (GLYCINE MAX MERRILL) ĐỊA PHƯƠNG Chuyên ngành: Công nghệ sinh học
Mã số: 60.42.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

cũng rất đa dạng, phong phú cả về kiểu hình và kiểu gen. Đây là nguồn vật
liệu quý cho công tác chọn tạo giống đậu tương phù hợp với điều kiện sản
xuất của từng vùng, miền khác nhau [10].
Đánh giá sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương địa phương tạo
cơ sở cho công tác chọn tạo giống đã và đang được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu. Hiện nay, các nhà khoa học đã sử dụng nhiều phương pháp
mới trong nghiên cứu sự đa dạng di truyền của các giống cây trồng nói chung
và của cây đậu tương nói riêng như RAPD, RFLP, AFLP, SSR, STS, Các
phương pháp này không những phát huy hiệu quả mà còn khắc phục nhược
điểm của các phương pháp chọn giống truyền thống bởi hiệu quả sàng lọc
cao, tiết kiệm thời gian và tin cậy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Trên thế giới, kỹ thuật RAPD đã được nhiều tác giả sử dụng để nghiên
cứu quan hệ di truyền của một số giống đậu tương như: [26], [32], [34],
[43], [49], [50]. Ở Việt Nam, Vũ Anh Đào (2009), đánh giá sự đa dạng di
truyền ở mức phân tử của 16 giống đậu tương với 10 mồi ngẫu nhiên bằng kỹ
thuật RAPD tổng số phân đoạn DNA thu được là 766. Trong phạm vi vùng
phân tích có 56 phân đoạn DNA được nhân bản, trong đó có 21 băng vạch
cho tính đa hình (tương ứng 37,5%) [4], Chu Hoàng Mậu và đtg (2002) đã
sử dụng kỹ thuật RAPD để phân tích sự sai khác về hệ gen giữa các dòng
đậu tương đột biến với nhau và với giống gốc, tạo cơ sở cho chọn dòng đột
biến có triển vọng [12]
.
Nhằm tạo cơ sở cho việc lựa chọn giống đậu
tương có chất lượng tốt phục vụ công tác lai tạo giống, chúng tôi lựa chọn
và tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ là: “Đánh giá sự đa dạng di
truyền của một số giống đậu tƣơng (Glycine max (L.) Merrill) địa

bướm Papilionoideae và bộ Phaseoleae. Đậu tương có tên khoa học là
Glycine Max (L) Merrill, có bộ NST 2n = 40 [5], [2].
Do xuất phát từ những yêu cầu, căn cứ và tiêu chí phân loại khác nhau
nên cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng đến nay, hệ thống phân
loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc
thể được nhiều người sử dụng [5].
Hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý
và số lượng (NST) nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984) xây dựng.
Theo hệ thống này ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja. Chi Glycine
được chia ra thành 7 loài hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm
2 loài: loài đậu tương trồng Glycine (L.) Merr và loài hoang dại hàng năm G.
Soja Sieb và Zucc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
1.1.2. Đặc điểm nông sinh học của cây đậu tƣơng
Cây đậu tương là cây trồng cạn thu hạt, gồm các bộ phận chính: rễ,
thân, lá, hoa, quả và hạt.
Rễ đậu tương
Rễ cây đậu tương có rễ chính và rễ phụ. Rễ chính có thể ăn sâu 30-50cm
và có thể trên 1m. Trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ, rễ phụ cấp 2, cấp 3 tập
trung nhiều ở tầng đất 7-8 cm rộng 30-40 cm
2
. Trên rễ chính và rễ phụ có
nhiều nốt sần. Bộ rễ phân bố nông sâu, rộng hẹp, số lượng nốt sần ít hay
nhiều phụ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu và kỹ thuật trồng.
Quá trình phát triển của bộ rễ có thể phân ra làm 2 thời kỳ: (i) Ở thời kỳ thứ
nhất, lớp rễ đầu tiên được phát triển, rễ cái và rễ phụ đầu tiên phát triển mạnh
kéo dài ra và sinh nhiều rễ con. Thời kỳ này thường kéo dài từ 30-40 ngày sau
mọc. (ii) Ở thời kỳ thứ hai, lớp rễ đầu tiên phát triển chậm dần, rễ con không nhú

đậu tương trong vụ hè thường có lóng dài hơn vụ xuân và vụ đông. Chiều dài
của lóng góp phần quyết định chiều cao của thân. Thân cây đậu tương thường
cao từ 0,3 m - 1,0 m. Giống đậu tương dại cao 2-3 m. Những giống thân nhỏ
lóng dài dễ bị đổ hay mọc bò thường làm thức ăn cho gia súc. Những giống
thân to thường là thân đứng và có nhiều hạt và chống được gió bão. Toàn thân
có một lớp lông tơ ngắn, mọc dày bao phủ từ gốc lên đến ngọn, đến cả cuống
lá. Thực tế cũng có giống không có lông tơ. Những giống có mật độ lông tơ
dày, màu sẫm có sức kháng bệnh, chịu hạn và chịu rét khoẻ. Ngược lại những
giống không có lông tơ thường sinh trưởng không bình thường, sức chống
chịu kém. Thân có lông tơ nhiều ít dài ngắn, dày thưa là một đặc điểm phân
biệt giữa các giống với nhau[19].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Căn cứ vào tập tính sinh trưởng và đặc điểm của thân người ta chia ra
làm 4 loại: (i) Loại mọc thẳng: thân cứng, đường kính thân lớn, thân không
cao lắm, đốt ngắn, quả nhiều tập trung thường là giống ra hoa hữu hạn; (2)
Loại bò: thân chính phân cành rất nhỏ, mềm, phủ trên mặt đất thành đám dây,
thân rất dài, đốt dài, quả nhỏ phân tán; (3) Loại nửa bò: là loại trung gian giữa
2 loại mọc thẳng và mọc bò trên; (4) Loại mọc leo: thân nhỏ rất dài, mọc bò
dưới đất hoặc leo lên giá thể khác.
Thân đậu tương có khả năng phân cành ngay từ nách lá đơn hoặc kép.
Những cành trên thân chính phân ra gọi là cành cấp 1, trên cành cấp 1 có thể
phân ra cành cấp 2. Số lượng cành trên một cây nhiều hay ít thay đổi theo
giống, thời vụ, mật độ gieo trồng và đ iều kiện canh tác. Trung bình trên 1 cây
thường có 2-5 cành, có một số giống trong điều kiện sinh trưởng tốt có thể có
trên 10 cành. Thường sau mọc khoảng 20-25 ngày thì cây đậu tương bắt đầu
phân cành. Vị trí phân cành phù hợp là cao trên 15cm, nếu thấp quá không có
lợi cho việc cơ giới hoá. Giống đậu tương có góc độ phân cành càng hẹp thì

phiến lá phát triển to, rộng, mỏng, phẳng, có màu xanh tươi là biểu hiện cây
sinh trưởng khoẻ có khả năng cho năng suất cao [5].
Hoa đậu tương
Hoa đậu tương nhỏ, không hương vị, thuộc loại cánh bướm. Màu sắc của
hoa thay đổi tuỳ theo giống và thường có màu tím, tím nhạt hoặc trắng. Đa
phần các giống có hoa màu tím và tím nhạt. Các giống đậu tương có hoa màu
trắng thường có tỷ lệ dầu cao hơn các giống màu tím. Hoa phát sinh ở nách lá,
đầu cành và đầu thân. Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có từ 1-10 hoa và
thường có 3-5 hoa. Hoa đậu tương ra nhiều nhưng tỷ lệ rụng rất cao khoảng
30% có khi lên tới 80%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Hoa đậu tương thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tính trong hoa có nhị và
nhụy, mỗi hoa gồm 5 lá đài, 5 cánh hoa có 10 nhị và 1 nhụy.
- Đài hoa có màu xanh, nhiều bông.
- Cánh hoa: Một cánh to gọi là cánh cờ, 2 cánh bướm và 2 cánh thìa.
- Nhị đực: 9 nhị đực cuốn thành ống ôm lấy vòi nhuỵ cái và 1 nhị riêng lẻ.
- Nhụy cái: Bầu thượng, tử phòng một ngăn có 1-4 tâm bì (noãn) nên thường
quả đậu tương có 2-3 hạt [5].
Các cánh hoa vươn ra khỏi lá đài từ ngày hôm trước và việc thụ phấn
xẩy ra vào sáng ngày hôm sau lúc 8-9 giờ sáng trước khi nụ hoặc hoa chưa nở
hoàn toàn. Mùa hè hoa thường nở sớm hơn mùa đông và thời gian nở hoa rất
ngắn sáng nở chiều tàn. Hoa đậu tương thường thụ phấn trước khi hoa nở và
là cây tự thụ phấn, tỷ lệ giao phấn rất thấp chiếm trung bình 0,5 - 1% [2].
Thời gian bắt đầu ra hoa sớm hay muộn, dài hay ngắn tuỳ thuộc vào giống
và thời tiết khác nhau. Giống chín sớm sau mọc trên dưới 30 ngày đã ra hoa và
giống chín muộn 45-50 ngày mới ra hoa. Thời gian ra hoa dài hay ngắn theo giống
và theo thời vụ. Có những giống thời gian ra hoa chỉ kéo dài 10-15 ngày. Kết quả

hơn. Quả có màu sắc biến động từ vàng trắng tới vàng sẫm, nâu hoặc đen. Màu
sắc quả phụ thuộc vào sắc tố caroten, xanthophyll, màu sắc của lông, sự có mặt
của các sắc tố antocyanin. Lúc quả non có màu xanh nhiều lông (có khả năng
quang hợp do có diệp lục) khi chín có màu nâu. Hoa đậu tương ra nhiều nhưng tỷ
lệ đậu quả thấp 20-30%. Ví dụ trong vụ xuân 1 cây có thể có 120 hoa nhưng chỉ
đậu 30-40 quả là cao, trên một chùm 5-8 hoa chỉ đậu 2- 3 quả. Những đốt ở phía
gốc thường quả ít hoặc không có quả, từ đốt thứ 5-6 trở lên tỷ lệ đậu quả cao và
quả chắc nhiều. Trên cành thường từ đốt 2-3 trở lên mới có quả chắc, những quả
trên đầu cành thường lép nhiều. Sau khi hoa nở được 2 ngày thì cánh hoa héo và
rụng, ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau hoa nở đã hình thành quả và 7 -8 ngày sau là
thấy nhân quả xuất hiện. Trong 18 ngày đầu quả lớn rất nhanh sau đó chậm dần,
vỏ dày lên và chuyển từ màu xanh sang màu vàng. Hạt lớn nhanh trong vòng 30-
35 ngày sau khi hình thành quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Hạt có nhiều hình dạng khác nhau: Hình tròn, hình bầu dục, tròn dẹt
vv Giống có màu vàng giá trị thương phẩm cao. Trong hạt, phôi thường
chiếm 2%, 2 lá tử điệp chiếm 90% và vỏ hạt 8% tổng khối lượng hạt. Hạt to
nhỏ khác nhau tuỳ theo giống, khối lượng một nghìn hạt (M1000 hạt) thay đổi
từ 20-400g trung bình từ l00g-200g. Rốn hạt của các giống khác nhau thì có
màu sắc và hình dạng khác nhau, đây là một biểu hiện đặc trưng của của các
giống[5].
1.1.3. Thành phần hoá sinh của hạt đậu tƣơng
Protein
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung
bình khoảng từ 35,5 - 40%. Trong khi đó hàm lượng protein trong gạo chỉ 6,2
- 12%; ngô: 9,8 - 13,2% thịt bò: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17 - 20% và trứng: 13
- 14,8%, lipit từ 15-20%, hydrat các bon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và
muối khoáng quan trọng cho sự sống [7]. Hạt đậu tương là loại thực phẩm

v.v Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng
cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg [7]. Hiện nay, từ hạt đậu
tương người ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có
hơn 300 loại làm thực phẩm được chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền,
thủ công và hiện đại dưới dạng tươi, khô và lên men vv như làm giá, đậu
phụ, tương, xì dầu vv đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đậu tương,
bánh kẹo và thịt nhân tạo vv Đậu tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc
biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột.
Đậu tương là thức ăn tốt cho những người bị bệnh đái đường, thấp khớp, thần
kinh suy nhược.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Giá trị về mặt công nghiệp
Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như:
chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất
đốt lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương
được dùng để ép dầu. Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về
cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu
thực vật. Đặc điểm của dầu đậu tương: khô chậm, chỉ số iốt cao : 120- 127 ;
ngưng tụ ở nhiệt độ: - 15 đến -18
o
C. Từ dầu này người ta chế ra hàng trăm sản
phẩm công nghiệp khác như: làm nến, xà phòng, ni lông v.v
Giá trị về mặt nông nghiệp
Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc 1 kg hạt đậu tương đương với
1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi. Toàn cây đậu tương (thân, lá, quả, hạt) có hàm
lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân lá tươi có thể làm thức
ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp của gia súc. Sản

Kỹ thuật RAPD (Random Amplified Polymorphic DNA - đa hình các
đoạn DNA được khuếch đại ngẫu nhiên) do William phát minh năm 1990,
Welsh và cộng sự hoàn thiện năm 1991. Kỹ thuật này cho phép phát hiện tính
đa hình các đoạn DNA được nhân bản ngẫu nhiên bằng việc sử dụng mồi đơn
chứa trật tự nucleotide ngẫu nhiên [17]. Đến nay, kỹ thuật này đã và đang
được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của sinh học phân tử. Người ta
đã sử dụng kỹ thuật này để thiết lập bản đồ di truyền, đánh giá hệ gen của
giống và sự đa dạng di truyền của tập đoàn giống [27].
Về nguyên lý, kỹ thuật RAPD có cơ sở là kỹ thuật PCR, nhưng sử dụng mồi
ngẫu nhiên để nhân bản những đoạn DNA hoàn toàn ngẫu nhiên trong hệ gen.
Các yếu tố cần thiết để tiến hành phản ứng RAPD bao gồm:
- DNA khuôn (DNA template) với nồng độ 5 - 50 ng trong 20 - 25 µl.
DNA khuôn là vật liệu khởi đầu cho phản ứng RAPD, được tách từ các mẫu:
virus, vi khuẩn, tế bào thực vật, động vật… DNA có độ tinh sạch, có thể là sợi
đơn, sợi đôi, mạch vòng hoặc mạch thẳng. DNA khuôn được khuếch đại dưới
dạng thẳng có hiệu quả hơn dạng vòng. Kích thước DNA khuôn nhỏ hơn 3 kb
cho kết quả tốt nhất [8].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
- Đoạn mồi (primer): chỉ sử dụng một mồi đó là một oligonucleotide có
trật tự nucleotide ngẫu nhiên và có chiều dài 8 - 10 nucleotide (thường sử
dụng mồi dài 10 nucleotide). Nhiệt độ gắn mồi trong phản ứng RAPD
thấp (32
0
- 40
0
C). Nồng độ mồi phải thích hợp để đảm bảo kết quả phản ứng
(phù hợp với lượng DNA cần tổng hợp) tạo nên lượng sản phẩm cần thiết.
Nếu nồng độ mồi quá cao có thể làm cho hiệu quả phản ứng kém chính xác,

, KCl, Tris HCl Thành phần của dung dịch đệm của phản ứng bao
gồm: Tris HCl 10mM (pH = 8.3 ở nhiệt độ phòng), KCl 50mM, MgCl
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
1,5mM khi ủ ở nhiệt độ phòng. Nồng độ MgCl
2
có thể dao động từ 0,5 -
5mM. Thành phần này đóng vai trò quan trọng đến khả năng bắt cặp và
gắn các mồi với mạch khuôn [1], [8].
Chu kỳ phản ứng
Phản ứng RAPD được tiến hành qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn biến tính DNA: Ở nhiệt độ 95
0
C trong 30 - 60 giây làm cho các
liên kết hydro giữa 2 mạch bị đứt. Khi đó DNA sợi đôi tách thành 2 sợi đơn
tạo điều kiện cho sự bắt cặp mồi.
- Giai đoạn tiếp hợp mồi: Nhiệt độ hạ xuống 32
0
- 40
0
C, mồi bám vào đầu
3

OH của mạch khuôn DNA và bắt đầu quá trình tổng hợp sợi mới.
- Giai đoạn tổng hợp: Nhiệt độ được nâng lên 72
0
C thì các đoạn mồi đã bắt
cặp với các mạch đơn sẽ được kéo dài với sự tham gia của Taq - polymerase.

hoặc dị hợp trong một cá thể. Vì vậy, RFLP là một chỉ thị tin cậy trong phân
tích liên kết và chọn giống [51]. Tuy nhiên, kỹ thuật này có nhược điểm là tốn
kém và mất thời gian. Kỹ thuật này đòi hỏi phải có một lượng DNA lớn (50 -
200 ng từ mỗi cá thể).
1.2.1.4. Kỹ thuật SSR
SSR (Simple Sequence Repeats - trình tự lặp lại đơn giản) hay còn gọi
là vi vệ tinh (microsatellites). Kỹ thuật này được Litt và Luty phát triển năm
1989 dựa trên nguyên tắc của phản ứng PCR. Trong cấu trúc hệ gen của sinh
vật nhân chuẩn tồn tại một loạt các trình tự nucleotide lặp lại, chúng đặc trưng
cho loài. SSR gồm 2 - 5 nucleotide lặp lại nhiều lần. Thông thường, các SSR
có mặt chủ yếu ở các vùng dị nhiễm sắc của NST, như vùng tâm động hoặc
các đầu mút. Chúng giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa hoạt động của
các gen, góp phần làm tăng tính ổn định cơ học của NST trong các quá trình
phân bào và có thể chứa đựng những thông tin di truyền liên quan đến sự xác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
định giới tính ở cả động vật và thực vật. Do sự khác nhau về số lượng
nucleotide trong mỗi đơn vị lặp lại mà sự đa hình về độ dài của SSR được
nhân bản sẽ được phát hiện sau quá trình điện di trên gel agarose hay
polyacrylamide.
SSR là công cụ hữu ích trong phân tích hệ gen và chọn giống cây
trồng, do khả năng phát hiện tính đa hình rất cao. Song chỉ thị này có nhược
điểm là sự phức tạp trong thiết kế mồi và giá thành thiết kế mồi cao. Trong
thực tế, chỉ thị này đã được sử dụng để nghiên cứu một số tính trạng liên quan
đến năng suất, bệnh hại, xác định giới tính, phân tích quan hệ di truyền, lập
bản đồ gen… [20], [39].
1.2.2. Sử dụng kỹ thuật RAPD trong nghiên cứu sự đa dạng và mối quan
hệ di truyền ở thực vật
Hiện nay, kỹ thuật RAPD đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong

Hoàng Thị Thao (2010), bằng kỹ thuật RAPD với việc sử dụng 10 mồi
ngẫu nhiên đã nhận được 1208 phân đoạn DNA được nhân bản ngẫu nhiên từ
hệ gen của 30 giống đậu xanh. Trong 10 mồi ngẫu nhiên sử dụng thì cả 10
mồi biểu hiện tính đa hình. Kết quả phân tích cho thấy, 30 giống đậu xanh
nghiên cứu chia thành 2 nhóm chính, hệ số tương đồng di truyền giữa 2 nhóm
là 67% (tức sai khác 33%) [18].
Kỹ thuật RAPD còn là một công cụ rất có hiệu quả trong việc tìm ra
các chỉ thị phân tử để phân biệt các giống hay các loài khác nhau.
Orozco và đtg (1996), đã ứng dụng kỹ thuật RAPD để khảo sát mối
quan hệ di truyền và tiến hóa của các giống cà phê được lai tạo từ các loài bố,
mẹ ở các vùng sinh thái khác nhau, làm cơ sở cho việc ghép cặp lai với mục
đích tạo con lai có đặc điểm quý [36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Raghunathachari và đtg (2000), đã xác định được sự đa dạng di truyền của
18 giống lúa nhờ kỹ thuật RAPD. Nhóm tác giả đã sử dụng 10 mồi và thu được
144 băng DNA, trong đó các băng thể hiện tính đa hình chiếm 95,1% [40].
Ranade và đtg (2001), sử dụng 40 mồi ngẫu nhiên để nghiên cứu đặc
điểm của 12 giống đậu đen. Kết quả phân tích sản phẩm RAPD chỉ ra được
một số băng đặc hiệu tương ứng với các mồi ngẫu nhiên để phân biệt một số
giống trong nhóm nghiên cứu [42].
Raina và đtg (2001) đã sử dụng chỉ thị RAPD - SSR để phân tích sự đa dạng
hệ gen và xác định mối quan hệ họ hàng giữa các giống lạc trồng và lạc dại [41].
Jorge và đtg (2003), đã đánh giá sự tương đồng di truyền giữa các
giống chè ở Hy Lạp nhờ kỹ thuật RAPD. Họ sử dụng 25 mồi ngẫu nhiên để
khuếch đại các đoạn DNA của 7 giống chè. Kết quả cho 282 băng, trong đó
có 195 băng thể hiện tính đa hình. Nghiên cứu cho thấy những giống chè ở
Hy Lạp có thể hiện tính đa dạng di truyền [33].
Paulo (2004) xác định mối quan hệ di truyền của 81 giống ngô (Zea

ở Nam Ấn Độ nhờ chỉ thị RAPD và ISSR. Phản ứng RAPD được thực hiện
với 50 mồi và ISSR với 12 mồi. Kết quả thu được 641 băng DNA, có kích
thước 200 - 3100 bp, trong đó có 382 băng thể hiện tính đa hình, tương ứng
với 60% tính đa dạng sinh học [47].
Gyu-Taek Cho và đtg (2008) cũng công bố kết quả nghiên cứu về sự đa
dạng di truyền và cấu trúc quần thể đậu tương ở Hàn Quốc [32].
Ở Việt Nam, quan hệ di truyền ở cây đậu tương cũng đã được nghiên
cứu, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu chưa nhiều.
Chu Hoàng Mậu và đtg (2002) đã sử dụng 10 mồi ngẫu nhiên để so sánh
hệ gen của các đậu tương đột biến bằng kỹ thuật RAPD cho thấy ba đoạn mồi
có biểu hiện đa hình và 6 dòng đậu tương đột biến có mức độ sai khác về
DNA trong hệ gen [13].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Pham Thi Be Tu và cs (2003), Sử dụng 20 chỉ thị RAPD đánh giá 50
mẫu giống đậu tương đã ghi nhận sự đa hình ở 17 chỉ thị [38].
Đinh Thị Phòng và Ngô Lam Giang (2008), Sử dụng 25 chỉ thị RAPD
đánh giá sự đa hình của 19 giống đậu tương phát hiện 17 mồi chỉ ra tính đa
hình trong đó 3 mồi có tính đa hình cao[15].
Vũ Anh Đào (2009), đánh giá sự đa dạng di truyền ở mức phân tử của 16
giống đậu tương với 10 mồi ngẫu nhiên bằng kỹ thuật RAPD tổng số phân
đoạn DNA thu được là 766. Trong phạm vi vùng phân tích có 56 phân đoạn
DNA được nhân bản, trong đó có 21 băng vạch cho tính đa hình (tương ứng
37,5%) [4].
Trên thế giới, Doldi và đtg (1997) sử dụng 33 mồi ngẫu nhiên để phân
nhóm 18 giống đậu tương có đặc tính chín sớm. Kết quả đã phân nhóm được
một số giống có hàm lượng protein cao, sử dụng cho chương trình nghiên cứu
nhằm mục đích nâng cao hàm lượng đạm các giống đậu tương thích nghi với
điều kiện Châu Âu [29].

Các loại thiết bị máy móc: Các thiết bị máy móc phục vụ sinh học phân
tử như máy PCR, máy quang phổ UV - Visible Spectrometer (cintra 40) của
Australia, máy li tâm lạnh eppendorf của Đức, nồi hấp khử trùng, máy soi gel,
bộ điện di, box cấy, máy lắc, lò vi sóng, cân điện tử, tủ sấy, tủ lạnh, bể ổn nhiệt,
pipetman, máy làm khô DNA (Speed Vac) và một số thiết bị, máy móc cần
thiết khác.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm được tiến hành tại Bộ môn Sinh học phân tử và Công
nghệ gen - Viện Khoa học Sự sống - Đại học Thái Nguyên. Phòng thí nghiệm
sinh học - Khoa Khoa học sự sống - Trường Đại học khoa học - Đại học Thái
Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
Bảng 2.1. Nguồn gốc các giống đậu tương nghiên cứu
TT
Tên giống
Ký hiệu
Nguồn gốc
1
Hoằ ng Hó a
VNlc1
Hoằ ng Hó a – Thanh Hó a
2
Phú Lâm
VNlc2
Phú Lâm – Hà Tây – Hà Nội
3
Cúc và ng Yên Sơn

11
Đen Bắc Hà
VNlc11
Cao Bằng
12
Xanh lơ
VNlc12
Bắc Giang
13
Vàng Bắc Hà
VNlc13
Cao Bằng
14
Nâu Cao Bằng
VNlc14
Cao Bằng
15
Cọc chùm
VNlc15
Sơn La
16
Ba Vì 83
VNlc16
Ba Vì, Hà Nội
17
Tây Nguyên
VNlc17
Tây Nguyên
18
Xanh Cao Bằng

26
Lông trắng Cao bằng
VNlc26
Cao Bằng
27
Cúc mắt trắng
VNlc27
Bắc Giang
28
Thường Tín
VNlc28
Hà Nội
29
Cúc mắt đen
VNlc29
Bắc Giang
30
Thái Nguyên
VNlc30
Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
Hình 2.1. Hình ảnh hạt của các giống đậu tương nghiên cứu VNlc16
VNlc17
VNlc18
VNlc19
VNlc20 VNlc21
VNlc22
VNlc23
VNlc24
VNlc25 VNlc26
VNlc27
VNlc28
VNlc29
VNlc30

Trích đoạn Kết quả nhân bản các phân đoạn DNA bằng kĩ thuật RAPD Hệ số đa dạng di truyền và các phân đoạn DNA đặc trƣng của các Mối quan hệ và khoảng cách di truyền giữa các giống đậu tƣơng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status