Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
“Phát triển quy trình định giá sản
phẩm bàn phẫu thuật ở công ty cổ
phần thương mại vật tư ngành y I
trên địa bàn Hà Nội“
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
1
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
Mục Lục
Nguồn thông tin bên ngoài 15
Danh mục bảng biểu ……………………………… …………………………. 38
Lời Mở Đầu
Với vai trò quyết đinh trong việc bán, phân phối, và hoạch định cụ thể chiến
lược cũng như thị phần. Giá trong hoạt động của các công ty thương mại đóng vai
trò quan trọng trong sự phát thị phần, và doanh số. Hiện nay, nó cũng là hoạt động
chính của các công ty thương mại để tạo ra lợi nhuận, đây là lĩnh vực tiềm ẩn rất
nhiều rủi ro. Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập, cạnh tranh giữa các công ty ngày
càng gay gắt thì mục tiêu an toàn và sinh lời được đặt lên hàng đầu. Nếu như trước
đây, giá chủ yếu do nhà nước quy định nhất là đối với các ngành nghề thiết yếu như y
tế, nhà nước bù giá cho các mặt hàng và cung ứng trực tiếp về các bệnh viện thì hiện
nay với những chính sach thông thoáng giúp cho các công ty thương mai, tư nhân
đóng vai trò không nhỏ trong hoạt động thiết bị y tế.
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. chuyên đề
của em được kết cấu theo 3 chương.
Chương 1 : Tổng quan về nghiên cứu đề tài “ phát triển quy trình định giá sản
phẩm bàn phẫu thuật ở công ty cổ phần thương mại vật tư ngành y I trên địa bàn Hà
Nội
Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu kết quả phân tích tình hình phát triển
quy trình định giá sản phẩm bàn phẫu thuật ở công ty.
Chương 3 : Các kết luận và đề xuất phát triển quy trình định giá sản phẩm bàn
phẫu thuật ở công ty cổ phần thương mại vật tư ngành y 1 địa bàn Hà Nội
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
3
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
Năm vừa qua với chính sách mở của thị truờng của chính phủ cũng kích thích
thị trường ngành y thay đổi bộ mặt.tuy gặp nhiều khó khăn nhưng qua các bệnh viện
các trung tâm y tế chúng ta có thể nhìn nhận rằng với các trang thiết bị hiện đại được
cung cấp cho các bệnh viện, các trung tâm y tế góp phần không nhỏ vào việc khám
chữa bệnh cho người dân được tốt hơn. sức khoẻ của người dân việt nam được nhà
nước coi trọng
1.2 Xác lập và truyên bố đề tài
Hiện nay hầu hết các công ty thương mại về y tế ở việt nam vẫn còng ở mức
vùa và nhỏ. hầu hết nhập trang thiết bị từ nứơc ngoài nhất là các thiết bị máy móc ở
Mỹ, Hà Lan, Nga và mọtt số nước châu âu. các máy móc này nhập về hầu như là các
máy móc cũ hoặc đã qua một thời gian sử dụng với về việt nam. một điều nữa các
bệnh viện và tổ chức y tế với nguồn kinh phí hạn hẹp nên cũng đủ khả năng nhập các
thiết bị cũ của nứơc ngoài. các loai linh kiện máy móc này so với xu hướng thế giới
thì hầu hết là thiết bị đã lỗi thời so với công nghệ hiện đại như hiện nay.
Trong quá trình thực tập ở công ty cổ phần thuơng mại vật tư ngành y I, em đã
có cơ hội để kết hợp những kiến thức chuyên ngành đã học tại trường đại học với
những thực tế tại cơ sở, từ đó em đã quyết định chọn đề tài: “Phát triển quy trình
định giá sản phẩm bàn phẫu thuật ở công ty cổ phần thương mại vật tư ngành y I trên
địa bàn Hà Nội“
1.3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đề tài nhằm giải quyểt một số vấn đề sau :
Chuyên đề nhằm tổng kết, xác lập những lý luận cơ bản sản phẩm, quy trình và
phương pháp định giá giá sản phẩm , căn cứ vào những lý luận chung để phân tích,
đánh giá thực trạng vấn đề định giá sản phẩm và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện quy trình và phương pháp định giá sản phâm tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại
Vật Tư Ngành Y I.
1.4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu:
nhuận. Khối lượng bán, thị phần trên thị trường
Mục tiêu lợi nhuận: là mục tiêu tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp hay có lợi
nhuận cao nhất
Lợi Nhuận = Doanh thu – Chi phí
Doanh thu = Số lượng sản phẩm + giá
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
5
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
Lợi nhuận tăng lên có thể do giá của sản phẩm tăng lên hoặc do số lượng của sản
phẩm tăng lên trong khi chi phí của sản phẩm giảm đi.
Mục tiêu về doanh số bán hàng : mục tiêu tăng khối lượng bán của sản phẩm được
bán ra trên thị trường.theo mục tiêu này giá được xác định sao cho mức hàng hóa
được bán ra đạt mức cao nhất mà doanh nghiệp mong muốn trong trường hợp này
trọng tâm cần đáp ứng là số lượng bán hàng được hoặc khả năng bán hàng . lợi nhuận
ít được quan tâm
Định giá nhằm mục tiêu đối đầu : mục tiêu là đưa ra một mức giá tốt nhất dưới con
mắt của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.trong trường hợp này
sản phẩm phải có chất lượng đồng nhất hoặc khá rõ ràng.
Mục tiêu cạnh tranh không mang tính chất giá cả : xác định giá trong mục tiêu này
được thực hiện trên cơ sở kết hợp vai trò của giá trong kinh doanh với các tham số
khác nhau của marketing hỗn hợp trong kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp phải
đảm bảo khả năng cạnh tranh với đối thủ trên thị trường mới thực hiện được mục tiêu
này.
Định giá nhằm phân đoạn thị trường : trọng tâm cần đáp ứng theo mục tiêu này là
giúp cho doanh nghiệp có khả năng đứng vững ,mở rộng hoặc kiểm soát các phân
đoạn thị trường và đảm bảo tính cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh.
Các mục tiêu của định giá có thể xác định cho cả chu kỳ kinh doanh,có thể xác định
cho từng mặt hàng, từng loại hình kinh doanh.
1.5.2.2 phân tích cầu thị trường
Chi phí tạo nền cơ sở cho việc định giá, còn thị trường và nhu cầu tạo ra mức
Thị Trường cạnh tranh có độc quyền gồm nhiều người bán cho nhiều người mua
những sản phẩm phân biệt trong một khoảng giá nhất định. Những người bán cố gắng
đa dạng hóa sản phẩm và tạo nên sự khác biệt về chất lượng,đặc điểm công dụng kiểu
dáng hay dịch vụ kèm theo đem lại cho người mua những khả năng lựa chọn , đặc
điểm công dụng, kiểu dáng hay dịch vụ kèm theo đem lại cho người mua những khả
năng lựa chọn thích hợp và sẵn sàng trả giá cao hơn, nhờ đó người bán có thể thu
được lợi nhuận trên mức bình quân.
Thị trường độc quyền có cạnh tranh (nhóm độc quyền) gồm một số ít người bán cho
nhiề u người mua những sản phẩm đồng nhất hay phân biệt. Những người bán trong
thị trường này rất nhạy cảm với những chiến lược marketing và định giá của các đối
thủ cạnh tranh và phản ứng một cách linh hoạt trước các hành vi ứng xử của họ. cần
nghiên cứu một cách toàn diện những xu hướng vận động của thị trường và hoạch
định các chiến lược phù hợp, chủ động thích ứng với những thay đổi của khách hàng
cũng như đối thủ cạnh tranh.Trong thị trường độc quyền, chỉ có một doanh nghiệp
duy nhất bán cho nhiều người mua một loại sản phẩm nhất định.
Ở đây không có cạnh tranh, và hầu như không có sản phẩm thay thế. Nếu người bán
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
7
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
là doanh nghiệp độc quyền nhà nước thì việc định giá có thể nhằm vào những mục
tiêu rất khác nhau, mà không phải bao giờ lợi nhuận cũng là mục tiêu hàng đầ u.
Doanh nghiệp độc quyền nhà nước có thể định giá thấp hơn mức chi phí sản xuất và
phân phối sản phẩm hay dịch vụ và được Nhà nước bù lỗ, vì sản phẩm hay dịch vụ đó
quan trọng đối với đa số người tiêu dùng, và họ không thể mua được chúng nếu phải
trả đủ chi phí. Hoặc doanh nghiệp độc quyền nhà nước có thể định giá ở mức đủ trang
trải chi phí, hay có lãi thậm chí đạt mức lãi cao, trong trường hợp Nhà nước muốn tiết
giảm mức cầu về các sản phẩm và dịch vụ đó.
1.5.2.3 Lập giá theo chi phí
Chi phí tạo nền cho việc định giá sản phẩm. Các doanh nghiệp đều muố n định
ra một mức giá có thể trang trải cho mọi chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm, bao
mức lời cao có thể thu hút sự cạnh tranh, trong khi một chiến lược giá thấp, mức lời
thấp có thể làm nản lòng các đối thủ cạnh tranh hay làm họ rút lui khỏi thị trường.
Một khi một doanh nghiệp đã biết rõ giá cả và các sản phẩm của những đối thủ
cạnh tranh, doanh nghiệp đó có thể sử dụng những hiểu biết đó như một điểm định
hướng cho việc định giá của mình. Nếu sản phẩm của h ọ tương tự như sản phẩ m của
đối thủ quan trọng, doanh nghiệp sẽ phải định giá sát với mức giá của đối thủ cạnh
tranh đó, nếu không thì sẽ bị thiệt về doanh số. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp kém
hơn, doanh nghiệp sẽ phải định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Nếu sản phẩm của
doanh nghiệp tốt hơn, doanh nghiệp có thể định giá cao hơn đối thủ cạnh tranh. Tuy
nhiên, doanh nghiệp phải ý thức được rằng các đối thủ cạnh tranh cũng có thể thay
đổi giá cả của họ để đáp ứng lại với mức giá của doanh nghiệp.
1.5.2.4 kĩ thuật định giá
Phần lớn các doanh nghiệp giải quy ết việc định giá bằng cách chọn một trong các
phương pháp định giá thích hợp nằm trong khoảng từ giá sàn đến giá trần: định giá
dựa trên chi phí, định giá dựa trên người mua, định giá dựa trên sự cạnh tranh
a. Định giá dựa trên chi phí
Định giá cộng thêm vào chi phí một mức lời định trước
Phương pháp định giá đơn giản nhất là cộng thêm một mức lời định trước (m.AC) vào
chi phí tính trên đơn vị sản phẩm (chi phí trung bình AC) để có mức giá bán (P). Các
mức lời đị nh trước thay đối tùy theo những loại sản phẩm khác nhau. Hệ số m được
gọi là tỉ lệ sinh lời trên chi phí.
P = (1 + m)AC
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
9
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
Thự c ra việc dùng mức lời đị nh trước để định giá sản phẩm là không hoàn toàn hợp
lý, mặc dù nó dễ làm. Vì phương pháp định giá này chưa xem xét một cách đầy đủ
nhu cầu hiện tại của thị trường và tình hình cạnh tranh trong cùng một ngành và giữa
các sản phẩm thay thế.
Tuy vậy, cách định giá cộng thêm một mứ c lời định trước v ẫn còn phổ biến vì một
bán là cơ sở quan trọng để định giá. Họ sử dụng những yếu tố phi giá cả trong
marketing - mix để xây dựng giá trị được cảm nhận trong tâm trí của người mua. Giá
được định ra căn cứ vào giá trị được cảm nhận đó.
Điều cốt lõi của phươ ng pháp định giá theo giá trị nhận thức được là xác định đúng
nh ận thức của khách hàng về giá trị sản phẩm. Nếu người bán định giá bán cao hơn
mức giá trị được người mua thừa nhận, doanh số của doanh nghiệp sẽ bị sụt giảm,
thay vì đạt mức lẽ ra có thể có được.
Định giá theo giá trị
Một số doanh nghiệp lại chọn phương pháp định giá theo giá trị cho các sản phẩm của
mình, mà thực chất là định giá thấp cho sản phẩm chất lượng cao.
Có sự khác nhau giữa hai phương pháp định giá theo giá trị nhận thức được và định
giá theo giá trị. tức là doanh nghiệp phải định giá ở mức mà người mua nghĩ rằng sản
phẩm của doanh nghiệp xứ ng đáng được như vậy. Còn phương pháp định giá theo
giá trị thì chủ trương là giá phải đảm bảo đặc biệt có lợi cho người tiêu dùng.
c. Định giá dựa vào cạnh tranh
Định giá theo mức giá hiện hành
Theo ph ương pháp định giá theo mức giá hiện hành doanh nghiệp căn cứ chủ yếu vào
giá của đối thủ cạnh tranh, ít chú trọng đến nhu cầu hay chi phí của mình. Doanh nghi
ệp có thể định giá bằng, cao, hay thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của
mình.
Việc định giá theo mức giá hiện hành rất phổ biến. Trong những tình huống mà doanh
nghiệp khó xác định được chi phí hay khó tiên lượng những phản ứng của đối thủ
cạnh tranh, thì phương pháp định giá theo mức giá hiệ n hành là một giải pháp dễ
chấp nhận. Các doanh nghiệp cảm thấy rằng việc định giá theo mức giá hiện hành sẽ
bảo toàn được sự hòa hợp của cả ngành và có thể tạo ra được cho họ một mức doanh
thu và lợi nhuận thỏa đáng.
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
11
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
Định giá đấu thầu
thu thập thông tin sơ cấp. Thông tin sơ cấp là những thông tin mới thu thập lần đầu
cho một mục đích nghiên cứu nào đó.
Về mặt lý thuyết có 3 phương pháp nghiên cứu tại hiện trường đó là:
Phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm và thăm dò.
Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin bằng cách người nghiên cứu theo dõi, quan sát,
nghe ngóng những thái độ, lời nói, phản ứng của khách hàng về sản phẩm, hàng hoá
của doanh nghiệp và về đối thủ cạnh tranh sau đó ghi nhận và đánh giá. Để quan sát
được tốt, quan sát viên có thể sử dụng các thiết bị phụ trợ như camera hoặc máy ghi
âm. Với phương pháp này thì phải tôn trọng tính khách quan của sự vật, hiện tượng và
người quan sát không được đưa vào những nhận thức, tư duy chủ quan. Nhiệm vụ của
người quan sát là sao chép các đặc điểm của hiện trường và các thao tác quan sát phải
được tiêu chuẩn hoá, nghĩa là trước khi tới hiện trường người quan sát phải xác định
đối tượng quan sát là ai ? Đặc điểm của đối tượng quan sát ? Khi nào tiến hành quan
sát ? quan sát ở đâu và bằng cách nào ? …
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
13
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
Nội dung của phương pháp này là bằng cách nào đó doanh nghiệp có những biến số
xác lập, sau đó tiến hành kiểm tra, xác định trình độ, ý nghĩa của những biến số khác
nhau được theo dõi. Phương pháp này đòi hỏi người quan sát phải tuyển chọn các đối
tượng có thể so sánh được với nhau để nghiên cứu, chẳng hạn như nhóm khách hàng
cùng mua một sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Để tiến hành nghiên cứu người
nghiên cứu phải tạo ra được các nhóm có hoàn cảnh khác nhau khi họ mua hàng phát
hiện những điểm tương đồng và đưa ra mức độ quan trọng của các đặc điểm được
nghiên cứu. Mục tiêu của phương pháp này là khám phá các mối quan hệ nhân quả
bằng cách tuyển chọn, sàng lọc những giải thích đối lập nhau của các kết quả theo
dõi.
Phương pháp thăm dò dư luận:
vừa dễ tìm. Nguồn thông tin này đặc biệt có ý nghĩa trong việc đánh giá tiềm năng
của doanh nghiệp. Sau khi đã xác định cụ thể trong nội bộ công ty để tìm kiếm dữ liệu
thứ cấp, nhà nghiên cứu sẽ thấy được những khoảng trống thông tin và tiếp tục tìm
kiếm ở ngoài công ty.
Nguồn thông tin bên ngoài
Bao gồm rất nhiều thông tin khác nhau như : các ấn phẩm của cơ quan Nhà nước,
các tạp chí xuất bản định kỳ, các ấn phẩm của các Tổ chức Quốc tế, khai thác trên
mạng internet.
Ưu điểm
- Dễ tìm kiếm và tìm kiếm nhanh
- Chi phí cho việc thu thập dữ liệu ít hơn so với dữ liệu sơ cấp
- Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu đã được xử lý do đó khi sử dụng không mất thời
gian cho việc xử lý, hiệu chỉnh.
Nhược điểm.
Với bản chất là loại dữ liệu được thu thập cho mục đích khác với mục đích của
người nghiên cứu nên dữ liệu thứ cấp không tránh khỏi những hạn chế.
- Dữ liệu thứ cấp được lưu trữ trong các đơn vị đo lường không phù hợp với dữ liệu
mà nhà nghiên cưú cần.
- Đôi khi nghiên cứu có thể tìm thấy những thông tin với đơn vị đo lường không
mong muốn hoặc sự phân loại thích hợp nhưng dữ liệu đã quá hạn, đã lạc hậu.
- Dữ liệu thứ cấp được thu thập một cách gián tiếp thông qua các tài liệu nghiên cứu
hoặc được tìm thấy trong lần nghiên cứu thứ 2, làm biến đổi lớn ý định ban đầu của
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
15
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
cuộc điều tra.
2.2 Tổng quan về công ty cổ phần thương mại vật tư ngành y 1
2.2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển c ủa công ty cổ phần thương mại
vật tư ngành y 1
2.2.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển
nghiệp vụ theo dõi giám sát việc mua bán hàng hoá, thanh toán, nhận trả và chuyển
trả tiền.
Phòng tổ chức hành chính: Thực hiện quản lý nhân sự, mua sắm, quản lý trang thiết
bị cơ sở hạ tầng và các hồ sơ có liên quan đến công ty.
Phòng kinh doanh: Thực hiện các chức năng tìm kiếm khách hàng tiềm năng, chăm
sóc khách hàng
Lập kế hoạch triển khai các kế hoạch kinh doanh,bán các mặt hàng mà công ty hiện
có và tìm kiếm sản phẩm mới.xây dựng và triển khai các kế hoạch marketing đẩy
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
Phó Giám Đốc
Phòng kế
toán
Phòng hành chính Phòng kĩ thuật Phòng kinh Doanh
Giám đốc
17
Chủ tịch hội dồng quản trị
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
mạnh công tác bán hàng, tổng hợp phân tích thông tin về thị truờng xác định chiến
lược và kế hoạch nghiên cứu phát triển thị trường trong thời gian ngắn hạn và dài hạn
Phòng kĩ thuật : Lắp đặt duy trì bảo dưỡng và hướng dẫn cho khách hàng
2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
2.3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh
Công ty cổ phần thương mại vật tư ngành y 1 hoạt động trên địa bàn Thành
Phố Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Đây là điều kiện rất
thuận lợi trong việc tiếp cận và tiếp thị khách hàng. Tuy nhiên đây lại là địa bàn có sự
cạnh tranh gay gắt và chịu ảnh hưởng trực tiếp sự biến động kinh tế xã hội.
Hai năm trở lại đây tình hình khủng hoàng kinh tế ảnh hưởng đến việt nam
không nhỏ. Công ty cũng gặp không ít khó khăn trong kinh doanh, hơn nữa ngành y
tế là một trong những ngành thiết yếu cho cuộc sống. Chính sách của nhà nước cũng
có nhiều thay đôi và quy định về giá cả của các loại sản phẩm này. Hiện nay cơ chế
thuốc và trang thiết bị y tế. Ðặc biệt các Trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, đã
triển khai ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, sử dụng nhiều phương tiện
hiện đại trong khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức
khỏe nhân dân.
Từng bước đổi mới công tác quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hệ thống Công ty, Xí
nghiệp thiết bị y tế, các Viện nghiên cứu và Trường đào tạo, bước đầu lập lại trật tự
trong lĩnh vực kinh doanh, xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế Một số nhà máy, xí
nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế đã được đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ. Những
trang thiết bị y tế thông thường, thiết bị nội thất bệnh viện sản xuất trong nước đã
được tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của ngành Y tế và
bước đầu xuất khẩu.
Tại các bệnh viện tỉnh, các khoa chủ yếu như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh
hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu đã được trang thiết bị một số thiết bị cơ bản: máy
X-quang cao tần - tăng sáng truyền hình, máy siêu âm, máy nội soi, máy xét nghiệm
sinh hoá nhiều chỉ số, máy huyết học, máy gây mê, máy thở, máy sức tim, máy theo
dõi bệnh nhân v.v
Các Trung tâm y tế huyện đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết
đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán và xe Ô tô cứu
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
19
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
thương. Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ
chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân số và kế hoạch hoá gia
đình.
Những tồn tại và thách thức lớn:
Trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc
hậu so với các nước trong khu vực. Hầu hết trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các
cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn.
vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu
hao. Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết công suất
lớn mạnh. Nhất là hiện nay khi Việt nam vào WTO các công ty thiết bị y tế nước
ngoài bắt đầu thâm nhập vào thị trường việt nam.
Công ty gặp rất nhiều khó khăn khi khả năng vốn có hạn,hầu như nguồn vốn chỉ quay
vòng khi có đơn đặt hàng.công ty lại là công ty vừa và nhỏ nguồn nhân lực chưa được
chú trọng phát triển mạnh mẽ. các sản phẩm khi được định giá chủ yếu dựa vào cán
bộ kỹ thuật, phân bố và đặc thù cho ngành cũng theo quy định của nhà nước.chi phí
bỏ ra cho một sản phẩm còn khá nhiều.
2.4.2Phân tích kết quả dữ liệu về thực trạng Quy trình định giá sản phẩm của
công ty
2.4.2.1 Xác định mục tiêu
Sản phẩm của công ty áp dụng với thị trường hà nội xác định rõ thị trường của công
ty đang hoạt động kinh doanh như sau:
Chủ yếu tập trung vào các Bệnh viện và các tổ chức y tế tư nhân.
Sản phẩm của công ty nhập khẩu từ nước ngoài là chủ yếu vì vậy mức chi phí
còn khá cao.nhu cầu đáp ứng thị trường một cách nhanh nhất cũng là phần không thể
thiếu vì hiện nay tất cả các đơn hàng mà công ty đạt được mới liên hệ với đối tác bên
kia để chuyển trang thiết bị về Việt nam.mục tiêu cụ thể như sau:
Mục tiêu mở rộng Thị phần cho công ty trong địa bàn hà nội được mở rộng
phát triển một cách nhanh chóng và tương đương với đối thủ mạnh như Công ty thiết
bị y tế Minh Tâm, Công ty thiêt bị y tế hà Nội.tiến đến năm 2013 phát triển thị phần
ra các tỉnh lân cận và các khu vực trong cả nước
Ðảm bảo đủ trang thiết bị y tế cho các tuyến. Từng bước hiện đại hoá trang
thiết bị y tế nhằm nâng cao chất lượng. Phấn đấu đến năm 2010 đạt trình độ kỹ thuật
về trang thiết bị y tế hiện đại và có thể mở cơ sở sản xuất thiết bị y tế ngang tầm các
nước trung bình tiên tiến trong khu vực. Ðào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
21
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
ngành để khai thác sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa và .kiểm chuẩn trang thiết bị y tế.
Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng hoá sản
22
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
so với các mặt hàng được nhập khẩu từ nước ngoài về.
Công ty có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên địa bàn Hà Nôi. Nhưng đối thủ cạnh tranh
lớn nhất là Công ty TNHH trang thiết bị y tế BMS
Công ty BMS đã lâu năm và phát triển dựa vào nguồn vồn nước ngoài, có
nhiều thị trường trong và ngoài nước với giá cả cung cấp cho các bệnh viện và cá
nhân tô chức y tế lớn trong cả nước. Ví dụ giá của công ty BMS đưa ra cho 1 sản
phẩm bàn mổ “bàn phẫu thuật điện 8.801” được sản xuất tại trung quốc với giá
9.800 usd so với giá công ty đưa ra cho sản phẩm tương tự nhưng nhập từ Mỹ về
với giá 11200 usd. Qua trên có thể nhìn nhận sức cạnh tranh của các mặt hàng
và định vị thương hiệu cho doanh công ty nhất là các công ty phát triển mạnh về
các loại sản phẩm đã có thị trường ở việt nam
2.4.2.4 Lựa chọn kĩ thuật định giá
Hiện tại với quy mô vừa và nhỏ công ty CPTM VT ngành y I lựa chọn khi định
giá sản phẩm của mình dựa vào chi phí.do mặt hàng bàn phẫu thuật dựa trên nguyên tác
khách hàng đặt hàng thì công ty mới tiến hành triển khai sản phẩm, hơn nữa công ty chỉ
là phân phối các sản phẩm nhập về từ Mỹ và Hà Lan nên khi khách hàng có yêu cầu thì
mới bắt đầu liên hệ với nhà cung cấp.
Giá của sản phẩm của công ty có mặt tai thị trường không phải là các bệnh viện hay tổ
chức y tế thay thế liên tục và thường xuyên.đối với bàn phẫu thuật khách hàng có thể sử
dụng 3 năm – 5 năm. Do tính chất đặc thù trong ngành công ty dựa vào đây định giá cho
sản phẩm này theo tinh hinh cụ thể và biến động của thị trường để có chính sách định giá
cho sản phẩm một cách chính xác và tùy vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của từng
vùng miền, khu vưc trong địa bàn.với tình hình hiện nay các đối thủ cạnh tranh mạnh
hơn so với mức phát triển hiện tại của công ty cả quy mô lẫn thị phần do đó công ty đưa
ra giá cho sản phẩm theo riêng cho doanh nghiệp là rất khó khăn hiện nay công ty mà
thì trường quy định cho sản phẩm trên thị trường tùy thuộc vào tình hình cụ thể để công
ty có thể định giá cao hơn hay thấp hơn để mở rộng thị trường hơn nữa với việc thẩm
định giá do nhà nước quy định về các sản phẩm về y tế cũng là vấn đề mà công ty quan
Như vậ y, xem xét toàn bộ marketing -mix khi đị nh giá. vì sản phẩm được định
vị dựa trên những yếu tố phi giá cả, thì các quyết định về chất lượng, quảng cáo và
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
24
Chuyên đề tốt nghiệp Gv hướng dẫn : T.S NGuyễn Tiến Dũng
phân phối sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên giá cả. Nếu giá cả là một yếu tố định vị chính
yếu thì giá cả sẽ ảnh hưởng mạnh lên những quyết định đối với các yếu tố khác của
marketing.
Sinh viên: Trinh Đình Tân Lớp: K41C2
25