đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian vùng đồng bằng sông cửu long - Pdf 24

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH

ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRUYỀN THUYẾT
DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

TP Hồ Chí Minh – 2013



3
MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

8

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

10

3. Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

17

4. Phương pháp nghiên cứu

19

5. Đóng góp của luận án

20

6. Cấu trúc của luận án

20


50

Tiểu kết chương 1

56

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI
4
2.1. Tình hình tư liệu truyền thuyết dân gian vùng đồng bằng sông Cửu Long

59

2.1.1. Nhóm tư liệu sưu tầm văn học dân gian

61

2.1.2. Nhóm tư liệu sưu khảo địa chỉ, sưu khảo lịch sử

74

2.1.3. Nhóm tư liệu nghiên cứu văn học, nghiên cứu lịch sử

82

2.1.4. Nhóm tư liệu điền dã



3.2.1. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của truyền thuyết địa danh
liên quan đến những nhân vật tiền hiền có công khai phá, xây dựng vùng đồng
bằng sông Cửu Long

100

3.2.2. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của truyền thuyết địa danh
liên quan đến những sự kiện lịch sử và nhân vật có công chống giặc ngoại xâm

110

3.2.3. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của truyền thuyết địa danh
liên quan đến nhân vật Nguyễn Ánh
119

Tiểu kết chương 3

135

CHƯƠNG 4

ĐẶC TRƯNG CẤU TẠO TRUYỀN THUYẾT NHÂN VẬT
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
4.1. Cấu tạo cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của truyền thuyết về các
137

5
nhân vật tiền hiền có công khai phá, xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long


199

Những công trình của tác giả đã công bố

204

Tài liệu tham khảo

205

PHỤ LỤC

222

Phụ lục 1: Truyền thuyết địa danh liên quan đến những nhân vật tiền hiền có
công khai phá, xây dựng vùng ĐBSCL (TL1A)

222

Phụ lục 2: Truyền thuyết địa danh liên quan đến những sự kiện lịch sử và nhân
vật có công chống giặc ngoại xâm vùng ĐBSCL (TL1B)

223

Phụ lục 3: Truyền thuyết địa danh liên quan đến nhân vật Nguyễn Ánh (TL1C)
224

Phụ lục 4: Truyền thuyết về các nhân vật tiền hiền có công khai phá, xây dựng
vùng ĐBSCL (TL2A)


237 7
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH

tế đã cho thấy những đặc điểm của các thể loại văn học dân gian ở mỗi vùng miền
(trong đó có truyền thuyết) thường bị chi phối bởi các yếu tố về lịch sử, văn hóa, xã
hội của một “vùng văn hóa” cụ thể.
9
So với nhiều vùng văn hóa của Việt Nam, tiểu vùng văn hóa đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL) thuộc vùng văn hóa Gia Định – Nam Bộ có những sắc thái văn
hóa tiêu biểu mang tính đặc trưng. Mặc dù ĐBSCL được các nhà nghiên cứu về văn
hóa, lịch sử xem là vùng đất mới – được hình thành trong khoảng gần 400 năm trở
lại đây – nhưng nơi đây đã chứa đựng cả một kho tàng truyền thuyết dân gian phong
phú với sự hiện diện của nhiều biến thể khác nhau, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa
mang đậm nét sắc thái địa phương. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thể loại truyền
thuyết ở vùng đất này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm và tổng hợp các văn
bản kể, khảo sát một vài bộ phận riêng lẻ. Việc phân loại và nghiên cứu về đặc
trưng của hệ thống các tác phẩm truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL là chưa được
đặt ra. Những vấn đề như: Truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL được hình thành
trên những cơ sở lịch sử -xã hội, văn hóa nào? Hệ thống tác phẩm truyền thuyết có
những đặc điểm gì đáng chú ý so với các tác phẩm truyền thuyết ở các vùng miền
khác trong cả nước? v.v. dù đã được các nhà nghiên cứu folklore quan tâm và
nghiên cứu nhưng chắc vẫn còn những khiếm khuyết cần phải bổ sung.
Mặt khác, hiện nay trong chương trình giảng dạy Ngữ văn ở các trường trung
học cơ sở, trung học phổ thông, ở các trường cao đẳng, đại học đều có phần văn học
dân gian địa phương. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phần văn học dân
gian địa phương được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông, cao đẳng và đại
học chính là hệ thống các tác phẩm văn học dân gian được ra đời và lưu hành tại địa
phương, nơi mà trường phổ thông, cao đẳng hay đại học đang hiện diện tại đó.
Nghiên cứu về thể loại truyền thuyết dân gian của người Việt ở vùng ĐBSCL
nhằm góp phần xác định những đặc điểm của một thể loại tự sự có vị trí quan trọng
trong hệ thống các thể loại văn học dân gian ở vùng đất mới phía Nam. Đây cũng là
việc làm cần thiết và có ý nghĩa đối với giảng viên, giáo viên, sinh viên và học sinh
trong quá trình giảng dạy, học tập phần văn học địa phương tại các trường phổ

dung lịch sử của thể loại này: “Xã hội công xã nguyên thủy tan rã thì truyền thuyết
trở nên thịnh hơn so với thần thoại. Truyền thuyết nặng về đề tài lịch sử hơn thần
thoại” [86, tr.24]. Năm 1971, công trình “Truyền thống anh hùng trong loại hình tự
11
sự dân gian” gồm một số bài viết có giá trị khoa học về thể loại truyền thuyết.
Trong tài liệu này công trình nghiên cứu: “Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ
phong kiến” của tác giả Kiều Thu Hoạch được xem như viên gạch đầu tiên đặt nền
móng cho việc nghiên cứu truyền thuyết theo góc độ đặc trưng thể loại. Trong công
trình này, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đặt truyền thuyết trong sự đối sánh với thể loại
thần thoại, cổ tích để từ đó chỉ ra đặc điểm mang tính đặc trưng của thể loại này:
“Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân
gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải
thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân; biện pháp
nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng
những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không
nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường
phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia dân tộc rộng hơn, nó khác thần
thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở lịch sử cụ thể chứ không phải
hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng”[83, tr.172-175]. Ở đây, tác
giả xem xét thể loại truyền thuyết ở cả hai lĩnh vực: Đặc trưng nội dung và đặc
trưng nghệ thuật.
Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, tiếp tục khám phá thể loại truyền thuyết
từ phương diện nghệ thuật, tác giả Bùi Quang Thanh đã chú ý nghiên cứu kết cấu
của các truyền thuyết về nhân vật anh hùng với bài viết: “Tìm hiểu kết cấu của dạng
truyền thuyết anh hùng” (Tạp chí Văn học, số 3, 1981).
Năm 1992, trên tạp chí Văn hóa Dân gian (Số 2, 1992) tác giả Chiêng Xom
An có bài: “Bàn thêm về thể loại truyền thuyết”. Trong bài viết này, tác giả đã bàn
luận và đưa ra một số tiêu chí để phân biệt ba thể loại thần thoại, truyền thuyết và
cổ tích. Việc đưa ra một số tiêu chí trong bài viết này đã góp phần khẳng định vấn
đề đặc trưng của thể loại truyền thuyết đã được tác giả thực sự quan tâm.

được văn bản hóa. Tác giả Kiều Thu Hoạch đã đánh giá về luận án này như sau:
“Công trình của Trần Thị An tuy chưa phải là công trình nghiên cứu toàn diện về
truyền thuyết người Việt, do khuôn khổ một luận án, có những vấn đề còn bỏ ngỏ;
13
song đây thực sự là một công trình khoa học có tìm tòi, có đóng góp”[86, tr.27].
Những vấn đề lý luận về đặc trưng thể loại truyền thuyết được trình bày trong luận
án của tác giả Trần Thị An là những tiền đề quan trọng giúp chúng tôi thực hiện
việc khảo sát, phân tích, đánh giá về đặc trưng thể loại truyền thuyết ở một vùng
miền cụ thể.
Giáo trình Văn học Dân gian (2002) do tác giả Phạm Thu Yến làm chủ biên
cũng có sự thống nhất với các tác giả đi trước về việc thừa nhận đặc trưng quan
trọng nhất của truyền thuyết là sự gắn bó với lịch sử, lịch sử hóa mọi sự kiện có liên
quan đến làng, đến nước, có tính khái quát một thời đại hoặc những biến động sâu
sắc trong lịch sử dân tộc.
Vào năm 2003, công trình nghiên cứu “Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể
loại” của tác giả Hồ Quốc Hùng đã khẳng định truyền thuyết là một loại hình tự sự
dân gian có những đặc trưng riêng so với các thể loại tự sự dân gian khác, đồng thời
tác giả đã nêu lên 4 đặc điểm mang tính đặc trưng của thể loại này đó là: Vấn đề
niềm tin, vấn đề cảm hứng sáng tác, vấn đề đề tài, vấn đề cấu tạo cốt truyện. Ngoài
ra, tác giả của công trình này còn tiến hành khảo sát truyền thuyết thời Hùng
Vương, thời Bắc Thuộc và các triều đại phong kiến tự chủ. Nhìn chung, đây là công
trình vừa có tính kế thừa những đóng góp của công trình đi trước, vừa có những
phát hiện mới về đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian.
Năm 2004, nhóm biên soạn do tác giả Kiều Thu Hoạch chủ biên đã xuất bản
Tổng tập Văn học Dân gian người Việt gồm 19 tập. Đây là công trình được tổ chức
sưu tầm và biên soạn rất công phu các tác phẩm văn học dân gian của người Việt.
Trong đó, tập 4 và tập 5 dành cho thể loại truyền thuyết. Trong hai tập sách này, các
tác giả đã tổng hợp được 573 truyền thuyết dân gian ở các vùng miền trong cả nước.
Có 7 truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL hiện diện ở tập 5 của bộ sách này. Trong
tập 4, phần Khải luận, các tác giả đã nêu lên khái niệm truyền thuyết và vấn đề phân

thuyết dân gian vẫn là một điểm mờ chưa được xác định rõ trong chuyên luận này.
Mặc dù vậy, những ý kiến của tác giả Phương Thảo trong chuyên luận này về đặc
15
trưng truyện dân gian người Việt ở Nam Bộ vẫn là những gợi ý cần thiết và có ý
nghĩa đối với chúng tôi khi thực hiện luận án này.
Ở một phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, công trình nghiên cứu “Ý thức lịch sử và
cảm hứng thế sự qua một số truyện và giai thoại địa danh Cần Thơ”(2008) của tác
giả Trần Văn Nam đã quan tâm khám phá đặc điểm nội dung của một số truyện,
giai thoại dân gian có liên quan đến một số địa danh ở Cần Thơ như: Cần Thơ, Cái
Răng, Xà No, Bình Thủy, Đầu Sấu, Cái Da. Trong công trình nghiên cứu này, tác
giả đã khẳng định: “Tình yêu quê hương bao giờ cũng gắn với ý thức lịch sử.
Không phải bất cứ sự kiện lịch sử nào cũng được móc nối vào truyện địa danh mà
thường là những sự kiện có ảnh hưởng nhất định đối với nhân dân một địa phương
hoặc cả nước” [181, tr.106]. Đây là một nhận định hoàn toàn phù hợp với đặc điểm
nội dung của loại truyền thuyết địa danh nói chung. Nhận định này đã góp phần
định hướng giúp chúng tôi trong quá trình khảo sát và lựa chọn các tư liệu truyền
thuyết địa danh ở vùng ĐBSCL.
Vấn đề quan tâm khám phá thể loại truyền thuyết ở một địa phương cụ thể
trong khu vực ĐBSCL còn có luận văn thạc sĩ: “Truyền thuyết dân gian Đồng Tháp
về nhân vật lịch sử và văn hóa” (2010) của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh Hoa. Trong
luận văn này, tác giả đã tiến hành sưu tầm và tập hợp những truyền thuyết, giai
thoại dân gian về các nhân vật lịch sử và văn hóa ở tỉnh Đồng Tháp, đồng thời tìm
hiểu về nội dung và thi pháp của truyền thuyết dân gian Đồng Tháp về các nhân vật
lịch sử và văn hóa. Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu, tác giả Nguyễn Ngọc
Quỳnh Hoa chủ yếu chỉ nghiên cứu truyền thuyết dân gian về các nhân vật lịch sử,
văn hóa ở tỉnh Đồng Tháp, tác giả không đề cập đến truyền thuyết nhân vật ở các
tỉnh khác trong khu vực ĐBSCL.
Cùng quan tâm nghiên cứu về truyền thuyết dân gian tỉnh Đồng Tháp còn có
luận văn thạc sĩ: “Truyền thuyết về các vị có công khẩn hoang và lập làng ở vùng
đất Đồng Tháp” (2011) của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa.

ĐBSCL cũng như việc xác lập những tiêu chí để nhận diện các tác phẩm truyền
thuyết dân gian, hệ thống hóa và phân loại các văn bản truyền thuyết dân gian để từ
17
đó phân tích và chỉ ra được đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian vùng
ĐBSCL. Đó chính là yêu cầu mà chúng tôi đặt ra trong luận án này.
3. Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là truyền thuyết dân gian người Việt
được hình thành và lưu truyền ở vùng ĐBSCL.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án hướng tới những mục tiêu chính sau đây:
- Xác định cơ sở hình thành đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
- Phân tích và đề xuất được những tiêu chí cơ bản để nhận diện các tác
phẩm truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
- Xác lập được các loại, các tiểu loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
- Phân tích và xác định đặc trưng cấu tạo của thể loại truyền thuyết dân
gian vùng ĐBSCL.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đáp ứng những mục tiêu trên, luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ
chính sau đây:
1/ Khảo sát các tư liệu lịch sử, văn hóa, tư liệu nghiên cứu về vùng đất Nam
Bộ nói chung, vùng ĐBSCL nói riêng, để từ đó xác định cơ sở hình thành đặc trưng
thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
2/ Bao quát và thẩm định các tư liệu, các công trình nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu về văn học dân gian, văn hóa dân gian ở Việt Nam và một số nước trên
thế giới về đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian nói chung, truyền thuyết
dân gian của người Việt nói riêng để từ đó xây dựng được một số tiêu chí nhằm để
nhận diện các tác phẩm truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
3/ Dựa vào bộ tiêu chí, sưu tầm và tuyển chọn các văn bản kể từ các nguồn
tư liệu hiện có, từ việc đi điền dã 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL để từ đó

vùng ĐBSCL. Phương pháp này giúp cho chúng tôi có cơ sở khoa học để giải thích
19
về các đặc điểm, các quy luật biểu hiện, cơ sở hình thành và đặc trưng của thể loại
truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
4.2. Phương pháp thống kê
Thống kê các tư liệu lịch sử, văn hóa, các văn bản có chứa đựng các tác
phẩm truyền thuyết dân gian ở vùng ĐBSCL và một số vùng miền khác như vùng
đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ để làm cứ liệu trong quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu. Từ đó xác định được hệ thống các tác phẩm truyền
thuyết dân gian vùng ĐBSCL với các loại, các tiểu loại có số liệu cụ thể, rút ra
những nhận định cần thiết về đặc điểm tư liệu, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm motif,
v.v. của thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL.
4.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng trong việc so sánh các tác phẩm truyền
thuyết dân gian vùng ĐBSCL với các tác phẩm truyền thuyết dân gian cùng loại,
cùng tiểu loại ở một số vùng miền khác ở Việt Nam nhằm xác định những đặc điểm
đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL. Phương pháp so sánh
còn được sử dụng trong việc so sánh những đặc điểm về lịch sử xã hội, văn hóa ở
một số vùng miền khác nhau để từ đó xác định được những cơ sở hình thành nên hệ
thống truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL. Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi
nhận thức được tính độc đáo, tính thống nhất của thể loại truyền thuyết dân gian
vùng ĐBSCL so với thể loại truyền thuyết ở một số vùng miền khác trong cả nước.
4.4. Phương pháp sưu tầm điền dã
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi tổ chức các chuyến đi về 13 tỉnh,
thành phố thuộc khu vực ĐBSCL trong 3 năm (2007, 2008, 2009) để ghi chép, ghi
âm những câu chuyện kể của các vị bô lão, các nghệ nhân, các nhà sư về các địa
danh hoặc về các nhân vật lịch sử có liên quan đến đề tài; tiến hành quay video các
đền thờ, các lễ hội dân gian có liên quan đến các tác phẩm truyền thuyết dân gian
được đề cập đến trong luận án. Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi bổ sung thêm
các văn bản kể thuộc thể loại truyền thuyết vốn chưa xuất hiện trong các công trình

21
Chương 2: Đặc điểm tư liệu truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL và vấn
đề phân loại.
Nội dung của chương khảo sát và nêu lên đặc điểm của 04 nhóm tư liệu
truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL: Nhóm tư liệu sưu tầm văn học dân gian;
Nhóm tư liệu sưu khảo địa chí, sưu khảo lịch sử; Nhóm tư liệu nghiên cứu văn học,
nghiên cứu lịch sử; Nhóm tư liệu điền dã. Đồng thời, tiến hành phân loại hệ thống
tư liệu về truyền thuyết dân gian vùng ĐBSCL đã sưu tầm được.
Chương 3: Đặc trưng cấu tạo truyền thuyết địa danh vùng ĐBSCL.
Nội dung của chương khảo sát và nêu lên những đặc điểm mang tính đặc
trưng của cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của 03 tiểu loại thuộc loại
truyền thuyết địa danh vùng ĐBSCL. Việc xác định những đặc điểm mang tính đặc
trưng của 03 tiểu loại này được thực hiện bằng việc so sánh với các truyền thuyết
cùng tiểu loại ở một số vùng miền khác trong cả nước như vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng Nam Trung Bộ v.v.
Chương 4: Đặc trưng cấu tạo truyền thuyết nhân vật vùng ĐBSCL.
Nội dung của chương khảo sát và nêu lên những đặc điểm mang tính đặc
trưng của cốt truyện và việc tổ chức các yếu tố tự sự của 06 tiểu loại thuộc loại
truyền thuyết nhân vật vùng ĐBSCL. Việc xác định những đặc điểm mang tính đặc
trưng của 06 tiểu loại này được thực hiện bằng việc so sánh với các truyền thuyết
cùng tiểu loại ở một số vùng miền khác trong cả nước như vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng Nam Trung Bộ v.v.
23
tìm hiểu một số đặc điểm lịch sử, xã hội, văn hóa mang tính đặc trưng của vùng ĐBSCL.

1.1.1. Cơ sở lịch sử - xã hội
ĐBSCL là vùng đất nằm ở phía Tây Nam Bộ, là nơi có sông Tiền, sông Hậu
và các chi lưu của sông Mê Kông chảy ra biển. Dựa theo một số tài liệu lịch sử đã
công bố như Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Đại Nam nhất thống chí
(Quốc sử quán Triều Nguyễn), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam (Hội Khoa học
Lịch sử Việt Nam) thì vùng đất Nam Bộ đã được hình thành từ đầu công nguyên và
tính đến nay, lịch sử vùng đất Nam Bộ - trong đó có vùng ĐBSCL - đã trải qua 05
giai đoạn, cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1: Từ thế kỷ I đến thế kỷ VII
- Giai đoạn 2 : Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVI
- Giai đoạn 3: Từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII
- Giai đoạn 4: Từ năm 1802 đến năm 1954
- Giai đoạn thứ 5: Từ 1954 đến nay
Theo các thư tịch cổ, trước khi trở thành đất Đại Việt, vùng đất Nam Bộ là
nơi cư trú của một số quốc gia cổ đại với nền văn hoá mang tính đặc thù. Đồng thời,
qua việc khai quật địa điểm Óc Eo - thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn,
Tỉnh An Giang - của nhà khảo cổ học người Pháp Louis Mallere, nhiều di tích kiến
trúc và hiện vật quý ở vùng Óc Eo này đã chứng minh đây chính là di tích vật chất
của nước Phù Nam. Những phát hiện mới về văn hóa Óc Eo trong thời gian gần đây
trên địa bàn các tỉnh Long An, Đồng Tháp như nền gạch cổ, cọc gỗ nhà sàn, mộ
táng ở Gò Tháp (Đồng Tháp), đồ gốm vặn thừng có vẽ màu, hay 40 rìu đá cùng các
bàn mài, chày nghiền ở gò Cây Tùng (An Giang) v.v. đã chứng minh văn hóa Óc Eo
có nguồn gốc bản địa mà trung tâm là vùng đất Nam Bộ.
Mặc dù nhiều công trình khoa học đã khẳng định vùng đất Nam Bộ có lịch
sử hình thành từ rất sớm như vậy nhưng có thể nói phải đến đầu thế kỷ XVII, năm
1620, sau sự kiện chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho Quốc
24

thuộc chủ quyền của Việt Nam. Sau này, dưới thời Nhà Nguyễn (1802-1945) tuy có
một số vùng đất được tiếp tục điều chỉnh nhưng trên căn bản, chủ quyền vùng biên
giới Tây Nam Việt Nam đã được xác định từ năm 1757.
Giai đoạn từ thế kỷ XVII - XVIII, nhiều người nông dân Thuận - Quảng tự
động di cư vào Nam tìm đất sinh sống. Chúa Nguyễn cho người đứng ra tổ chức các
cuộc di cư này và lập thành các xã, thôn, phường, ấp của người Việt. Chúa Nguyễn
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu có ở Thuận – Quảng đem tôi
tớ và chiêu mộ nông dân lưu vong vào đây khai hoang lập ấp. Lực lượng khai hoang
chủ yếu là lưu dân người Việt và một số bộ phận người dân gốc Chămpa, Chân Lạp.
Theo nhận định của Nguyễn Chí Bền: “Chủ thể sáng tạo văn hóa dân gian người
Việt Nam Bộ là người Việt. Hiển nhiên những cư dân Việt này không phải là cư
dân bản địa ở đây mà họ là những lưu dân” [179, Tr. 53]. Theo sự phân loại của
Nguyễn Chí Bền trong công trình nghiên cứu “Những hằng số của văn hóa dân
gian người Việt Nam Bộ”, tác giả đã khẳng định tính đến thời điểm trước năm 1975,
Nam Bộ chủ yếu có ba lớp lưu dân theo dòng lịch sử đến với vùng đất này:
Lớp cư dân người Việt thứ nhất đến Nam Bộ là những lưu dân đi khai phá
vùng đất mới. Họ bao gồm những người dân miền Trung, miền Bắc nghèo khổ, lưu
tán, muốn tránh khỏi cuộc phân tranh giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, họ còn là
“những lính tráng cùng với nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam
lập đồn điền vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an vừa mở rộng lập vườn quanh cứ
điểm quân sự” [61, tr. 198]. Có một số ít trong lớp lưu dân người Việt thứ nhất này
là những người có quyền thế, giàu có chiêu mộ dân nghèo từ miền Trung đi vào
Nam để khai khẩn đất hoang theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn.
Lớp cư dân người Việt thứ hai đến Nam Bộ là do sự tác động của người
Pháp. Chính sách khai thác thuộc địa đã khiến người Pháp kiên trì chủ trương đưa
một triệu người dân Đàng Ngoài vào làm công nhân trong các đồn điền cao su, chè,
cũng như khai phá tiếp tục vùng phía tây sông Hậu. Lớp cư dân này vốn là những
nông dân nghèo khổ ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, đến Nam Bộ, đương nhiên
họ có những đặc điểm khác so với lớp cư dân người Việt đầu tiên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status