Hồn trương ba,da hàng thịt 3 bài phân tích hay nhất của tác phẩm này - Pdf 24

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” 3 bài phân tích hay nhất
của tác phẩm này
Phân tích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ - Phân tích 1
Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ – một hiện tượng
đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở
nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh… nhưng ông được
xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt
nam hiện đại. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở “Hồn
Trương Ba, da hàng thịt”. Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn
cuối vở kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật
Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt.
Hình ảnh trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ
Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công
diễn lần đầu tiên năm 1984, sau đó được diễn lại nhiều lần trong và ngoài nước. Từ
cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và
lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người. Trong tác phẩm, Trương
Ba là một ông lão gần sáu mươi, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã,
giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan.
Theo lời khuyên của “tiên cờ” Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” bằng cách cho
hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà.
Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba và một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú và
người khác. Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi
bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình. Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt,
đau khổ và quy định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt. Qua các cuộc đối thoại
của Trương Ba, tác giả dần tạo nên một mạch truyện dẫn dắt người xem hiểu sâu hơn
về Trương Ba.
Có thể nói Trương Ba đã chết một cách vô lí, ai cũng biết cái chết của Trương Ba là
do sự vô tâm và tắc trách của Nam Tào. Nhưng sự sửa sai của Nam Tào và Bắc Đẩu
theo lời khuyên của Đế Thích nhằm trả lại công bằng cho Trương Ba lại đẩy Trương
Ba vào một nghịch cảnh vô lí hơn là linh hồn mình phải trú nhờ trong thể xác của kẻ
khác. Do phải sống nhờ thể xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo

không đưa anh con trai thực dụng của Trương Ba vào cuộc đối thoại của Trương Ba
với những người thân. Các cuộc đối thoại với vợ con dâu và cháu gái càng làm cho
Trương Ba đau khổ hơn. Ông hiểu những gì mình đã, đang và sẽ gây ra cho người
thân là rất tệ hại mặc dù ông không hề muốn điều đó. Thái độ của vợ trương Ba, con
dâu và cháu gái trước sự biến đổi và tha hoá của Trương Ba:
• Vợ Trương Ba buồn bã, đau khổ nhưng vốn bàn tính vị tha nên định nhường Trương
Ba cho cô vợ anh hàng thịt.
• Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương
bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, “khổ hơn xưa nhiều lắm”.
Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị
không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái
bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con
cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như
lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”.
• Trái lại, cái Gái, cháu Trương Ba thì phản ứng quyết liệt và dữ dội. Tâm hồn tuổi
thơ vốn trong sạch, không chấp nhận sự tầm thường, dung tục nên không chấp nhận
người ông trong thể xác anh hàng thịt thô lỗ. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần
phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là cháu ông… Ông nội tôi
chết rồi). Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thể chấp nhận cái
con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái
chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó.
Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt
mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như
vậy”. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác
lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Tuy nhiên, họ chỉ là những người dân thường, họ
không giúp gì được cho tình trạng hiện tại của Trương Ba. Tình huống kịch thúc đẩy
Trương Ba phải lựa chọn và sau màn độc thoại nội tâm (hồn Trương Ba thách thức
xác anh hàng thịt: “có thật là không còn cách nào khác?” và phản kháng quyết liệt:
“Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”). !”. Đây là lời độc thoại
có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt

an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự cho ra
con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi
không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương
Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi
hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và
xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế
Thích xuất hiện. Qua màn đối thoại, có thể thấy tác giả gửi gắm nhiều thông điệp vừa
trực tiếp vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa kín đáo và sâu sắc về thời chúng
ta đang sống. Tuy vậy, chỉ cần nhấn mạnh ở đây vẻ đẹp tâm hồn của những người lao
động trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo để bảo vệ quyền được sống
toàn vẹn, hợp với lẽ tự nhiên cùng sự hoàn thiện nhân cách. Chất thơ của kịch Lưu
Quang Vũ cũng được bộc lộ ở đây.
Màn kết: Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để linh hôn được
trong sạch và hoá thân vào các sự vật thân thương, tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những
người thân yêu của mình. Cuộc sống lại tuần hoàn theo quy luật của muôn đời. Màn
kết với chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng thanh thoát cho một bi kịch lạc quan
đồng thời truyền đi thông điệp về sự chiến thăng của cái Thiện, cái Đẹp và của sự
sống đích thực.
Không chí có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, trong vở kịch nói
chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu
hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ: Thứ nhất , con người đang có nguy cơ chạy
theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên
phàm phu, thô thiển. Thứ hai , lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng
mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc
toàn vẹn. Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán. Ngoài ra ,
vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng
con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy
là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi. Với tất cả những ý nghĩa
đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ.
Phân tích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ - Phân tích 2

xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn Hồn vẫn phải thừa nhận: Cái đêm
khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “cổ
nghẹn lại” và “suýt nữa thì…”. Đó là cảm giác “xao xuyến” trước những món ăn mà
trước đây Hồn cho là “phàm”. Đó là cái lần ông tát thằng con ông “tóe máu mồm máu
mũi”,… Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến Hồn càng cảm thấy
xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện. Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông
đưa ra để ngụy biện: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng
thắn,…”. Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời
thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ
trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo
những tiếng than, tiếng kêu.Nỗi đau khổ, tuyệt vọng của Hồn Trương Ba càng được
đẩy lên khi đối thoại với những người thân. Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ
đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ đi. Với bà “đi đâu cũng được… còn hơn là thế
này”. Bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng đã cảm nhận được: “ông đâu còn
là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã
không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân : tôi không phải là cháu ông…
Ông nội tôi chết rồi. Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thể chấp
nhận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy
tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông
nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong
cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội đời nào thô lỗ, phũ
phàng như vậy”.
Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm!
Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ
thiệt. Chị cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm,
“khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan
hoang ra cả” khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau
đó: “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy
ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… Mỗi ngày thầy một đổi khác dần,
mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng

xuất hiện.
Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết
hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả
của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời
vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào
xác cu Tị để sống và thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức
tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến Hồn Trương Ba đi đến quyết
định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân
hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa của
cuộc sống.
Đoạn trích vở kịch Hồn Trương ba, da hàng thịt, qua việc khắc hoạ bi kịch của nhân
vật hồn Trương Ba đã thể hiện một ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con
người. Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối
sống lúc bấy giờ đồng thời đã khẳng định khao khát hoàn thiện nhân cách, đấu tranh
chống lại sự tha hoá trong mỗi con người .Với tất cả những ý nghĩa đó, đoạn trích rất
tiêu biểu cho phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ.
Phân tích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ - Phân tích 3
Tư tưởng và ý nghĩa phê phán của vở kịch trong trích đoạn kịch Hồn Trương
Ba, da hàng thịt - Lưu Quang Vũ
Không chỉ có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, với tinh thần
chiến đấu thẳng thắn của một nghệ sĩ hăng hái tham dự vào tiến trình cải cách xã hội,
trong vở kịch này nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần
phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ.
Lưu Quang Vũ thoạt đầu được nhiều người biết đến với tư cách nhà thơ. Nhưng về
sau, ông gây được tiếng vang và đặc biệt được biết tới một với tư cách một nhà viết
kịch tài ba. Những năm tám mươi, kịch của Lưu Quang Vũ đã chiếm lĩnh sàn diễn của
rất nhiều nhà hát.
Lưu Quang Vũ mang khát vọng được bày tỏ, muốn được thể hiện tâm hồn mình vào
thế giới xung quanh, muốn được tham dự vào dòng chảy mãnh liệt của đời sống, được
trao gứi và dâng hiến. Khi đất nước bước vào thời kì vận động đổi mới, ý thức dân

mãi được. Hồn muốn tách ra khỏi cái thân xác kềnh càng, thô lỗ. Trong tình trạng ấy;
nhà văn đã sáng tạo khi dựng lên đoạn đối thoại giữa hồn và xác để rồi trước sự giễu
cợt, mỉa mai của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba càng trở nên đau khổ, bế tắc. Thái
độ cư xử của người thân trong gia đình càng khiến hồn tuyệt vọng. Hồn Trương Ba đã
châm hương gọi Đế Thích, hai bên đang đối thoại thì cu Tị chết. Đế Thích gợi ý để
hồn rời xác anh hàng thịt sang xác cu Tị. Nhưng hồn Trương Ba, sau một “quãng đời”
vô cùng thấm thía, hình dung ra những “nghịch cảnh” khác khi phải sống trong thân
xác một đứa bé đã quyết định xin cho cu Tị được sống và mình được chết hẳn.
Đúng là “nghịch cảnh” trớ trêu. Lưu Quang Vũ đã dựng lên hai cuộc đối thoại đặc sắc
(đối thoại giữa hồn và xác và đối thoại giữa hồn và Đế Thích) cùng những đối thoại
hỗ trợ khác (hồn với người vợ, với cái Gái, với chị con dâu) để đẩy xung đột nội tâm
của hồn Trương Ba lên đến tận cùng từ đó ý nghĩ tư tưởng, những triết lí nhân sinh
được phát biểu một cách sâu sắc, thấm thía.
Trước khi diễn ra cuộc đổì thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho hồn Trưưng
Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn thiết.
Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ớ không
phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ
muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi
cái xác này, dù chỉ một lát”.
Rõ ràng, hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ. Những câu
cảm thán ngắn, dồn dập cùng với cái ước nguyện khắc khoải của hồn đã nói lên điều
đó. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn
đau khổ bởi mình không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ đâu còn là một người
làm vườn chăm chỉ, hết lòng thương yêu vợ con, quan tâm tới hàng xóm láng giềng
như ngày trước. Ông Trương Ba được mọi người kính trọng đã chết rồi. Trương Ba
bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Người đọc, người xem càng lúc càng được
thấy rõ điều đó qua các đối thoại và hồn Trương Ba cũng càng lúc rơi vào trạng thái
đau khổ, tuyệt vọng.
Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí bởi
xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn hồn vẫn phải thừa nhận đó là cái

cảm thấy, đau đớn thấy Mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như
lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa ”.
Tất cả những người thân yêu của hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ trêu.
Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ
khổ nhưng “cũng không khổ bằng bây giờ”.
Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của
mình đã khiến hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính
bản thân mình cứ lớn dần lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào. Đặc biệt sau hàng
loạt câu hỏi có vẻ tuyệt vọng của chị con dâu: “Thầy ơi, làm sao, làm sao giữ được
thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con xưa kia? Làm thế nào,
thầy ơi?” thì đương nhiên hồn không thể chịu đựng thêm được nữa.
Nhà viết kịch đã để cho hồn Trương Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ,
tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát nhưng
cũng đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ
Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn
cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Có
thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không
cần!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi
Đế Thích một cách dứt khoát.
Cuộc trò chuyện giừa hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gởi gắm
những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của hồn trong
cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng:
Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn
vẹn
Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái
thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống,
nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”.
Người đọc, người xem có thế nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua
hai lời thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa.
Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con

sống trên đều cực đoan, đáng phê phán. Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề
cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám
và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị
tha hóa do danh và lợi.
Lưu Quang Vũ đã chết một cách rất thương tâm trong một tai nạn giao thông. Khoảng
trống mà nhà viết kịch tài ba ấy để lại trong nền sân khấu Việt Nam là không thế lấp
đầy. Vở kịch cuối cùng được Lưu Quang Vũ đặt tên là Chim sâm cầm không chết.
Với tất cả những gì để lại cho đời thì mãi mãi Lưu Quang Vũ không chết. Từ bấy đến
nay, Hồn Trương Ba, da hàng thịt và gần 50 vờ kịch khác của Lưu Quang Vũ vẫn
được dàn dựng và công diễn. Những triết lí về cuộc đời, về con người, về xã hội đặt
ra trong các vở kịch luôn có ý nghĩa với mọi người, mọi thời.
Quốc Khánh trong đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Phân tích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ - Phân tích 4 (Bài
phân tích hay nhất)
Bi kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ ?
“Con người sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra để
in dấu lại trên mặt đất , in dấu lại trong trái tim mọi người ”Nếu mỗi con người sinh ra
để làm tròn nghĩa vụ ấy cho đến suốt cuộc đời thì Lưu Quang Vũ ( 1948 – 1988) nhà
biên kịch lớn của nền văn học Việt Nam đã làm lên điều ấy bằng tác phẩm “ Hồn
Trương Ba da hàng thịt “ chỉ trong vòng một thời gian ngăn ngủi cửa đời người từ
năm 1981 đến 1983 đặc biệt là với việc trả lời cho câu thơ mình dường như đã bỏ ngỏ
“ Có những lúc tâm hồn tôi rách nát /… Tôi biết làm gì , tôi biết đi đâu?” qua việc xây
dựng cuộc đối thoại của Hồn Trương Ba với xác và người thân tạo nên một xung đột
kịch mang thước đo chuẩn mực của kịch nói Việt Nam sau này.
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một câu chuyện không mấy tiêu biểu cho thi pháp
cổ tích nếu đặt bên cạnh những Tấm cám, Cây tre trăm đốt, Thạch Sanh ta đã đọc.
Tuy nhiên, nhìn từ góc nhìn tự sự, người ta cũng dễ dàng nhận diện những yếu tố cơ
bản tạo nên sắc thái cổ tích cho tác phẩm: Đó là nhân vật, tình huống, diễn biến cốt
truyện, phép màu mang đến may mắn cho con người Và mặc dù câu chuyện dân
gian này còn phảng phất dấu ấn sáng tác bởi các cụ đồ Nho, nhân vật vua cờ Đế Thích

Bước vào đến cảnh VII hình ảnh TB hiện lên của một con người đang ngồi “ ôm đầu”
đã cho người đọc thấy hình ảnh của một con người cô độc hiện lên trước màn ảnh đầy
sự đau khổ xâm lấn lại kết hợp cùng lúc của 3 phủ định từ liên tiếp “ không…
không…không” bằng một giọng điệu dứt khoát một lời độc thoại đầy khẩn thiết
khẳng định việc muốn rời bỏ thân xác anh hàng thịt. “Tôi chán cái chỗ ở không phải
của tôi lắm rồi ”đầy chán nản, ngán ngẩm Hồn TB đang ở trong tâm trạng vô cùng
bức bối, đau khổ. Lời thoại của Hồn là các câu cảm thán ngắn, lời văn dồn dập, hối
thúc. Thể hiện tâm trạng căng thẳng, bức bách đau khổ, dằn vặt, quẫn bách đến cùng
cực, không thể chịu đựng dày vò hơn được nữa nên vụt đứng dậy. Hồn đau khổ bởi
mình không còn là mình nữa. TB bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn TB
cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái tuyệt vọng nghe Hồn tự độc thoại nói và đang tự
dày vò mình Xác lên tiếng ngay: “ Vô ích” chính Xác đã chủ động khiêu chiến nhằm
dập tắt hoàn toàn khát khao của Trương Ba : “Ông không tách ra khỏi tôi được đâu”.
Đang trong sự bế tắc vô vọng ấy Trương ba chợt nghe thấy những lời nói từ Xác chỉ
biết đáp lại bằng chính sự kinh ngạc vốn có của mình: “ A , mày cũng biết nói kia à?”
TB ngạc nhiên, trả lời lại bằng cách đưa ra một câu hỏi sau đó liên tục phản đối Xác
giọng vẫn còn khinh bỉ. Cách xưng hô mày tao thể hiện rõ sự khinh bỉ, miệt thị đối
với Xác “ Vô lí ! Mày không thể biết nói ! Mày không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt
âm u đui mù ” Ban đầu buông ra những lời thóa mạ Xác. Thấy Hồn vừa phủ định vừa
khinh miệt mình, Xác khẳng định lại vị trí và tác động suy nghĩ của mình: “Ông đã
biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến” và “sức mạnh ghê
gớm, lấn át cả linh hồn cao khiết”. Hồn tiếp tục phủ định tiếng nói của Xác: “Mày chỉ
là vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”.
Nghe thấy Hồn đánh giá mình thấp kém, xác hỏi lại đầy thách thức, giọng thay đổi
linh hoạt đầy châm chọc “Có thật thế không?”. Câu hỏi của Xác khiến cho Hồn chùn
bước và đuối lí, buộc phải dần nhượng bộ, xác nhận sự ảnh hưởng của Xác: “Nếu có,
thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được : Thèm ăn ngon,
thèm rượu thịt…”
Lại bị Hồn tiếp tục khinh miệt, xác nhận thực sự lợi lí của mình, nên chuyển sang
châm chọc, mỉa mai : “ Tất nhiên , tất nhiên .“ đầy mỉa mai :” Khi ông ở bên nhà

sống mà ông phải nhân nhượng tôi . Làm xong điều xấu ông cứ việc đổ tội cho tôi , để
cho ông được thanh thản …miến là…ôn vẫn làm đủ mọi việc thảo mãn những thèm
khát của tôi : Xác sẽ “ve vuốt” Hồn bằng cách thông cảm với “những trò chơi tâm
hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn là Hồn vẫn “làm đủ mọi việc để thỏa mãn thèm
khát” của Xác. Nhận thức “lí lẽ ti tiện” của Xác, Hồn than như là tuyệt vọng , bất
lực : Trời! đã là một sự chấp nhận số phận trong nỗi đau đớn khôn cùng muốn tìm
đường thoát nhưng hoàn toàn vô vọng .
Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài với
chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc.
Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than,
tiếng kêu.
Qua cuộc đối thoại giữa hồn và xác, xác rõ ràng hiện lên với ưu thế của kẻ nắm giữ sự
thắng thế, chứng tỏ được uy quyền chi phối khủng khiếp của nó với linh hồn, nó cũng
cho thấy sự ngộ nhận về chính mình khi hồn cho rằng “Ta vẫn có một đời sống riêng
trong sạch, nguyên vặn, thẳng thắn…” Linh hồn và thể xác vốn không tách rời được
nhau, cuộc tranh đấu giữ hồn và xác là cuộc đấu tranh giữ cao cả và dục vọng, thấp
hèn giữa phần con và phần người. Đó chính là lời cảnh cáo sâu xa của Lưu Quang Vũ.
Khi con người sống quá lâu trong môi trường dung tục ắt bị cái dung tục chi phối,
không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục, tội lỗi. Khi con
người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng thì đừng đổ tội cho thân xác. Không
thể tự an ủi mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn, do đó phải bảo vệ, hoàn thiện
nhân cách con người đó là một vấn đề lớn đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đó sẽ
là cuộc đấu tranh dai giẳng khi mà con người vẫn còn tồn tại trong xã hộ này.
Nếu Lưu Quang Vũ cho Trương Ba kết thúc cuộc đời mình trong sự bế tắc ở đó ta sẽ
liên tưởng đến những cái kết trong thời đại của văn học hiện thực phê phán mà Nam
Cao đã viết lên : "Mồn hắn ngáp ngáp, muốn nói, nhưng không nói ra tiếng", hay cái
cảnh Chị Dậu chạy ra ngoài trời “tối đen như mực, như cái tiền đồ của chị” vv….
Nhưng bước sang một thời đại mới, và vốn dĩ Lưu Quang Vũ cũng không thuộc lớp
nhà văn của Hiện thực phê phán của thời đại mặt trận dân chủ Hiện thực phê phán 30
– 45 ……Nên cuộc đời Trương Ba tiếp tục được vẽ ra.

Khi Hồn TB ngẩng lên thì thấy Gái đứng trước mặt, HTB kêu đứa cháu như là cầu
cứu: “Gái, cháu!” Đó đã không còn chỉ là lời gọi thông thường nữa mà là tiếng kêu
của một trái tim được páht ra từ miệng khát khao co smột điểm tựa , sự đồng cảm cầu
cứu . Có lẽ lúc ấy Trương ba nhưỡng tưởng đứa cháu gái bé bỏng sẽ xà vào lòng thì
trái lại, cái Gái, cháu Trương Ba thì phản ứng quyết liệt và dữ dội : Nó lùi lại nói đã
tạo nên một khaỏng cách không chỉ về mặt không gian mà còn cả về tâm hồn giữ ông
và cháu sau đó lại nói : “Tôi không phải là cháu của ông”. Câu nói như là gáo nước
lạnh phũ phàng tạt thẳng vào mặt HTB. Nhưng HTB vẫn giữ bình tĩnh dịu giọng nhẫn
nhục giẩi thích ,khẳng định: “ Ông đúng là ông nội cháu. Nếu ông nội tôi hiện về
được sẽ bóp cổ ông”. HTB vẫn cố ra sức thuyêt phục bằng những chứng cứ mặc cho
sự đe dọa từ đứa cháu gái : “Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài
vườn …chỉ có ông nội cháu mới biết quí cây như thế” Cố giỉa thích cho đứa cháu gải
hiẻi thì Trương Ba càng về sau giọng nói càng ngập ngừng; Những dấu ba chấm xuất
hiện liên tục đã là sự ngập ngừng bế tắc không giải thích được. Tâm hồn tuổi thơ vốn
trong sạch, không chấp nhận sự tầm thường, dung tục nên không chấp nhận người ông
trong thể xác anh hàng thịt thô lỗ. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần phải giữ ý.
Nó một mực khước từ tình thân. Chính vì quá yêu thương, tôn thờ thì giờ đây nó
không thể chấp nhận, cũng không thể nào mở lòng mình đón nhận con người trước
mặt mình cái con người có "bàn tay giết lợn", bàn chân "to bằng như cái xẻng" đã
khiến cho cái gái không buông tha, tiếp tục kể tội "gãy tiệt cái chồi non", "giẫm lên
nát cả cây sâm quý mới ươm" trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông
chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ
tiếc, cứ bắt đền. Với nó, "Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy". Nỗi giận dữ
của cái Gái đã biến thành sự kết tội, ruồng bỏ xua đuổi người thân yêu : "Ông xấu
lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!".
Như vậy cái Gái là người yêu thương gắn bó với ông hết mực. Ông chết, đêm nào
cũng khóc, nâng niu từng chút kỉ niệm của ông. Bây giờ lại phản ứng dữ dội. Lời lẽ
tàn nhẫn, phũ phàng. Chối bỏ, xua đuổi Hồn Trương Ba. Những dấu chấm than liên
tiếp với giọt nước mắt vừa khóc vừa chạy phản ứng quyết liệt của một đứa trẻ vốn
tâm hồn trẻ thơ trong trẻo, chỉ có hai màu sáng tối, kiên quyết không chấp nhận cái

Màn đối thoại giữa Trương Ba với người thân Không phải ngẫu nhiên, tác giả không
đưa anh con trai thực dụng của Trương Ba vào cuộc đối thoại của Trương Ba với
những người thân là một hữu ý bởi người con trai của Trương Ba đã bị tha hóa nên có
lẽ cái tình yêu dành cho ít nhiều cũng tha hóa. Các cuộc đối thoại với vợ con dâu và
cháu gái càng làm cho Trương Ba đau khổ hơn. Ông hiểu tất những gì mình đã, đang
gây ra và có lẽ nếu tồn tại tiếp tục bi kịch ấy sẽ còn tiếp diễn và thiêu chiều hướng
tiêu cực hơn nữa . Trương Ba sống làm gì khi mà điều hồn còn sống là để mang lại
hạnh phúc cho người thân hoàn toàn trái ngược lại , vô nghĩa lí .
Những câu hỏi liên tiếp “lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất
mình ? Chẳng còn cách nào khác” đó thật sự là cuộn xoáy dữ dội đang giằng xé,
cuộn xoáy trong lòng Trương Ba để rồi dẫn đến một quyết định từ bỏ thân xác như
một mong muốn được giải thoát không chỉ cho mình mà cả người thân. Hồn Trương
Ba dứt kháo thắp nhang khấn mời tiên Đế Thích để từ giã sự sống ấy .
Cách lựa chọn cách sống, một cách phục sinh tâm hồn như đã mờ, tan biến dần ấy mở
ra cho Trương Ba những thử thách mới, lựa chọn mới trong cuộc đối thoại với Đế
Thích. Nhưng đó chính là cách Lưu Quang Vũ tô đậm lên được vẻ đẹp nhân cách vẫn
còn sáng ngời trong mảnh hồn tưởng như đã mờ nhạt ấy. Để rồi Trương Ba đã sống
đúng phần người theo nghĩa viết hoa của nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status