Bài báo cáo khoa học khoa địa lý về đặc điểm tự nhiên và kinh tế của đồng bằng sông cửu long - Pdf 24


Tóm tắt : Bài báo cáo chỉ đề cập sơ lược bối cảnh khu vực đồng bằng sông Cửu
Long cùng với những biểu hiện của biến đổi khí hậu như sự gia tăng nhiệt độ, nước
biển dâng, lượng mưa thay đổi cực đoan…trong thời gian qua và thời gian sắp tới
của thế kỉ XXI và tác động của các hiện tượng trên đến hệ sinh thái và sản xuất nông
nghiệp, cơ cấu sản xuất nông nhiệp, cơ sở hạ tầng, các hoạt động kinh tế - văn hóa -
xã hội khác. Nguy cơ trên đang đe dọa đến sự phát triển bền vững cho vùng đồng
bằng – là vựa lúa lớn nhất cả nước, nếu ngay bây giờ chúng ta không có những đối
sách và biện pháp hợp lí để thích ứng với các tác động này, thì hậu quả sẽ khôn
lường.
I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Các hoạt động của con người trong thời gian vừa qua đặc biệt là thập niên cuối thế
kỉ XX và thập niên đầu thế kỉ XXI đã làm tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu
ứng nhà kính (nồng độ khí thải từ sản xuất công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân
số và cả những hiện tượng tự nhiên như cháy rừng, núi lửa phun trào …), làm cho
trái đất của chúng ta đang nóng dần lên, từ đó kéo theo hàng loạt sự thay đổi bất lợi
của môi trường tự nhiên mà chúng ta không thể nào đảo ngược hay khôi phục lại
được. Nếu chúng ta không có những hành động kịp thời nhằm hạn chế và giảm
thiểu, cũng như là thích nghi thì hậu quả mang lại sẽ vô cùng nặng nề đối với sự
phát triển của xã hội loài người chúng ta.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), Việt nam nằm trong số 5 nước chịu
ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, xu thế biến đổi khí hậu đang kéo theo
những sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên khác nhau như nhiệt độ không khí tăng,
độ ẩm giảm, mực nước biển dâng cao…tất cả những yếu tố đó đều ảnh hưởng trục
tiếp đến con người, tới môi trường tự nhiên và toàn bộ những hoạt động sản xuất
nông- lâm-nghiệp, hoạt động văn hóa- xã hội .
Theo dự báo của Uỷ ban liên quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), đến năm 2100
nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,4
0
C – 5,8
0

Đồng bằng sông Cửu Long là hạ lưu cuối cùng của lưu vực sông Mekong trước
khi đổ vào Biển Đông . Đồng bằng có diện tích tự nhiên vào khoảng 39.734 km
2

,
chiếm khoảng 4% diện tích toàn lưu vực sông Mekong. Đoạn sông Mekong khi chảy
vào lãnh thổ Việt Nam ra đến biển dài 225 km, chỉ chiếm 5,17% tổng chiều dài sông
chính. Địa hình của đồng bằng khá thấp và phẳng, độ dốc trung bình là 1cm/km có
những vùng trũng thấp hơn so với mực nước biển như vùng Đồng Tháp Mười, vùng
tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên và một số vùng trũng nhỏ ở U Minh. Đồng bằng có 2
mặt giáp biển dài hơn 600km, chịu tác động của cả hai loại triều khác nhau từ Biển
Đông ( bán nhật triều không đều) và triều Biển Tây ( nhật triều không đều ), tạo nên
sự phức tạp về thủy văn: phân phối dòng chảy thay đổi theo mùa và kỳ triều, đồng
thời có sự xáo trộn chất lượng nước do sự xâm nhập mặn.
Đồng bằng nằm trọn trong khu vực Châu Á gió mùa, mỗi năm chỉ có hai mùa là
mùa nắng và mùa mưa. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mỗi năm đồng bằng nhận được một lượng mưa
khoảng từ 1600mm-2200mm, nước mưa chiếm 90% tổng lượng mưa vào mùa mưa.
Từ giữa đến cuối mùa mưa, khu vực phía Tây và phía Bắc Đồng bằng bị ngập lũ từ
sông Mekong, ước tính có khoảng 1.2 – 1.9 triệu ha bị ngập lũ, chủ yếu là vùng Tứ
giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và vùng giữa sông Tiền - sông Hậu. Nước
mặn xâm nhập từ biển làm ảnh hưởng trên 50% diện tích canh tác, đặc biệt là vào
mùa khô. Ngoài ra, vấn đề đất phèn – nước phèn luôn là một thử thách cho canh tác
nông nghiệp ở đây.
Thực hiện : Nguyễn Phú – Khoa Địa Lí – Trường ĐHSP- ĐHĐN
3
Lưu vực sông Mekong được xem là một nơi có hệ sinh thái và đa dạng sinh học
lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau lưu vực sông Amazone. Đồng bằng sông Cửu Long
được xem là vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam . Đồng bằng có khoảng 280.000
đất rừng, bao gồm cả rừng ngập mặn ven biển và hệ rừng tràm nội địa. Tính đa dạng

thường giảm xuống còn khoảng + 1m. Tuy nhiên, trong mùa khô năm 1998, mực
nước tại các điểm trên hạ thấp tới mức – 0,3 đến – 0,4 m. Nước mặn với độ mặn 4%
tràn vào đất liền, có nơi vào sâu tới 45 km, làm cho hai phần ba diện tích bán đảo Cà
Mau bị nhiễm mặn. Đợt hạn này đã làm cho khoảng 216.000 ha lúa hè - thu bị ảnh
hưởng nghiêm trọng, trong đó 32.000 ha bị mất trắng. Trong tất cả các vụ cháy rừng,
vụ cháy rừng U Minh Thượng năm 2002 là vụ cháy rừng nghiêm trọng nhất, đã phá
huỷ trên 5.000 ha rừng ngập mặn có giá trị đa dạng sinh học cao, gây thiệt hại hàng
chục tỷ đồng.
- Gần đây nhất là đợt hán hán kéo dài 9 tháng liền năm 2004-2005 đã gây tổn
thất nhiều cho sản xuất nông lâm nghiệp. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy
trong mùa khô độ ẩm của đất ở các vùng không có cây che phủ chỉ bằng một
phần ba so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng che phủ. Tại một số nơi
không có rừng che phủ, nhiệt độ trên mặt đất có thể tăng cao tới 50 – 60
0
C vào
buổi trưa hè. Những đặc điểm cơ lý của đất như độ tơi xốp, độ liên kết, độ
thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể,
đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không thích hợp cho trồng trọt. Hàng triệu
ha đất trống, đồi trọc đã mất rừng lâu năm, đất mặt bị biến đổi cấu tượng và lý
hoá tính, trở nên dễ bị xói mòn, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện
Thực hiện : Nguyễn Phú – Khoa Địa Lí – Trường ĐHSP- ĐHĐN
5
tượng kết von và đá ong hóa, đã hoàn toàn mất sức sản xuất gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc diện tích canh tác bị thu hẹp, ảnh hưởng đến năng suất
sản xuất nông nghiệp.
Theo dự báo thì hệ sinh thái và nền sản xuất nông nghiệp của Đồng bằng sông
Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi mực nước biển dâng cao trong thời
gian tới như sau :
- Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều vùng sẽ bị ngập. Nhưng
hậu quả của biển dâng không phải chỉ có ngập tĩnh. Động lực biển vùng ven bờ và

Thực hiện : Nguyễn Phú – Khoa Địa Lí – Trường ĐHSP- ĐHĐN
6
- Diện tích canh tác nông nghiệp như lúa, màu, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản sẽ
bị thu hẹp, năng suất và sản lượng sẽ suy giảm. Điều này có thể đe dọa an ninh
lương thực quốc gia.
Thực hiện : Nguyễn Phú – Khoa Địa Lí – Trường ĐHSP- ĐHĐN
7
IV- MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Những thay đổi, tác động của biến đổi khí hậu đối với Đồng bằng sông Cửu
Long là quá trình lâu dài, có thể dự báo trước nhưng ứng phó có kịp thời, hiệu quả
hay không còn tùy vào động thái của cả cộng đồng. vì vậy chúng ta cần phải có
những giải pháp để hành động góp phần giảm thiểu và thích ứng với chúng.
- Chuyển đổi thời vụ thích hợp để tránh thời kỳ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn;
xây dựng củng cố các tuyến đê biển và đê cửa sông để kiểm soát mặn và giảm thất
thoát nguồn nước… được xem là giải pháp cấp bách.
- Bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn là giải pháp được nhiều nhà khoa
học quan tâm. Sự đa dạng sinh học với nguồn tài nguyên sinh vật giàu có, hệ thống
rừng đặc dụng không chỉ góp phần rất lớn trong việc cân bằng hệ sinh thái, giảm
nhẹ thiên tai mà còn là nền tảng phát triển Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy
nhiêm vụ cấp bách hàng đầu là phải hết sức quan tâm bảo vệ và phát triển rừng
ngập mặn ven biển- hệ sinh thái đặc trưng của vùng.
- Cần phải có một chiến lược dài hơn, trong một tầm nhìn dài hạn, cần một quyết
tâm lớn và có thể thực hiện một số giải pháp khả thi như: Làm đê bao kết hợp hệ
thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa
nước ngọt ngay tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong các vùng ngập hay bán
ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và phục vụ sản
xuất nông nghiệp Đặc biệt là tìm các biện pháp sản xuất thích nghi cho người
nông dân, những người chịu tác động nhiều nhất thích ứng với điều kiện biến đổi
khí hậu.

Thực hiện : Nguyễn Phú – Khoa Địa Lí – Trường ĐHSP- ĐHĐN
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status