TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
1. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1 Chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW khởi thảo và
thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu:
ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế. Cụ thể,
chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHTW thông qua các
hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm
phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu KT – XH của đất nước trong một
thời kì nhất định. Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống
chính sách kinh tế – tài chính vĩ mô của chính phủ.
1.1.2 Phân loại
- Chính sách tiền tệ mở rộng (chính sách tiền tệ nới lỏng): được áp dụng
trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, thất nghiệp gia tăng. Trong trường
hợp này việc nới lỏng làm cho lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế tăng, tạo
công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy đầu tư mở rộng sản xuất
kinh doanh.
- Chính sách tiền tệ thu hẹp (chính sách tiền tệ thắt chặt): được áp dụng khi
nền kinh tế có sự phát triển quá nóng, lạm phát ngày càng gia tăng. Việc
thắt chặt làm giảm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, giúp kiểm soát lạm
phát.
1.2 Vai trò của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế:
Trong nền kinh tế, tiền tệ là phương tiện trao đổi khi nó được dùng để mua
bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc thanh toán các khoản nợ cả trong và ngoài nước.
Đối với nền kinh tế thị trường hiện đại, mọi vận hành đều được tiền tệ hóa, các
hoạt động kinh tế đó được diễn ra khi nhà nước thực hiện chức năng quản lý
Trang 1
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
Có rất nhiều quan điểm khác nhau nhìn nhận và định nghĩa lạm phát
- Theo Mác: “Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông
tiền tệ, vượt quá các nhu cầu của kinh tế thực tế làm cho tiền tệ bị mất giá và
phân phối lại thu nhập quốc dân”.
- J.M Keynes và trường phái tiền tệ ở Đức và Mỹ thì quan niệm: “Lạm phát là
do sự vi phạm quá trình tái sản xuất năm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ…, là
sự phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên…”
- Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa
tiền và hàng trong nền kinh tế, điều này đã đẩy giá cả hàng hóa lên cao ở mọi
lúc mọi nơi.
Tuy nhiên, Milton Friedman đã phát hiện ra những đặc trưng cơ bản của
lạm phát đó là: Sự thừa tiền do cung tiền tệ tăng lên quá mức, sự tăng giá cả
đồng bộ và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy, sự phân phối lại giá cả, sự
bất ổn về kinh tế xã hội.
Và từ đó đưa ra một khái niệm về lạm phát được nhiều người chấp nhận:
“Lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ tăng lên kéo dài làm cho mức giá cả
chung tăng nhanh và kéo dài trong một thời gian dài.”
2.2 Phân loại lạm phát
Phân loại lạm phát dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau
2.2.1 Căn cứ vào tốc độ lạm phát
- Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát vừa phải, tốc độ gia tăng giá cả
chậm (<10%/năm)
- Lạm phát phi mã: là loại lạm phát hai hoạc ba con số (20%, 100%,
200% /năm), đồng tiền bị mất giá nhanh chóng, lãi suất thực thường
âm. Ít người nắm giữ lượng tiền mặt quá mức tối thiểu cần thiết, hang
Trang 3
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
hóa được ưu chuộng. Thị trường tài chính có nguy cơ lụn bại do vốn bị
Yp
Y1
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
2.3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát:
2.3.1 Lạm phát do cầu kéo:
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng
cung trong cùng thời điểm đó, có thể do tổng cầu tăng nhưng tổng cung
không đổi, hoặc tổng cung cũng tăng nhưng không bằng tổng cầu. Khi đó,
thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hoá, theo quy luật cung cầu
thì trong trường hợp này giá cả thị trường sẽ tăng lên, làm xuất hiện lạm
phát.
Phương trình tổng cầu: AD = C + I + G + X – M
Tổng cầu tăng có thể do các nguyên nhân:
- Các hộ gia đình tăng chi tiêu do thu nhập tăng, hoặc do được chính phủ
giảm thuế, tăng trợ cấp…
- Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, tăng đầu tư
chính phủ…
- Các DN tăng đầu tư do xuất hiện nhiều cơ hội kinh doanh hấp dẫn.
- Kim ngạch XNK thay đổi theo hướng chênh lệch X – M ngày càng tăng do
đồng nội tệ mất giá so với ngoại tệ, xuất khẩu tăng so với nhập khẩu…
- NHTW thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, làm lãi suất giảm, các DN vay
tiền đầu tư nhiều hơn…
Trang 5
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
AS2
AD
P1
P
Y
nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động ở mức độ khác nhau của kinh tế thế
giới, cộng với những nguyên nhân nội tại của nền kinh tế đất nước, thiên tai,
dịch bệnh nên trong những tháng đầu năm 2008 lạm phát tăng rất cao. Tính
riêng 3 tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI đã tăng là 9.1% (đây là quý có mức
tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại đây) và đã vượt xa chỉ tiêu của Chính
phủ đặt ra cho cả năm 2008 là: GDP tăng từ 6.7 – 7% và giữ CPI thấp hơn
mức này. Mức tăng cao của lạm phát đã dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các
mặt hàng, sự mất giá của các khoản tiền tiết kiệm, không khuyến khích đầu
tư và làm hạn chế tăng trưởng kinh tế, từ đó có thể dẫn đến những vấn đề xã
hội. Điều đáng lo ngại là xu hướng tăng của lạm phát 3 tháng đầu năm 2008
không có dấu hiệu dừng. Đứng trước tình hình này, Chính phủ đã xác định
chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu. Chính vì thế, ngay từ những tháng đầu
của năm 2008, Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản điều hành chính
sách tiền tệ như văn bản: số 75/TTg-KTTH ngày 15/01/2008 về biện pháp
kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá năm 2008; số 319/TTg-KTTH ngày
03/3/2008 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008 và đặc
biệt là Nghị quyết 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 về 8 giải pháp đồng bộ để
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng
trưởng bền vững, trong đó nhấn mạnh các định hướng chủ đạo trong hoạt
động kiềm chế lạm phát là “…Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) một
Trang 7
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
cách chặt chẽ, thận trọng và chủ động; sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các
công cụ CSTT theo nguyên tắc thị trường để kiểm soát quy mô, tốc độ tăng tín
dụng và tăng tổng phương tiện thanh toán một cách hợp lý nhằm đảm bảo ổn
định giá trị đồng tiền Việt Nam, góp phần thực hiện được mục tiêu tăng
trưởng kinh tế ở mức cao, nhưng đồng thời đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm
phát dưới mức tăng trưởng kinh tế…và điều tiết có hiệu quả vốn khả dụng
(%/năm)
Văn bản quyết định Ngày áp dụng
7.0 172/QĐ-NHNN 23/1/2009 01/02/2009
8.5 3161/QĐ-NHNN
19/12/2008
22/12/2008
10 2948/QĐ-NHNN
03/12/2008
05/12/2008
11 2809/QĐ-NHNN 21/11/2008
12 2559/QĐ-NHNN 3/11/2008 05/11/2008
13 2316/QĐ-NHNN
20/10/2008
21/10/2008
14 2131/QĐ-NHNN
25/09/2008
01/10/2008
14 1906/QĐ-NHNN 29/8/2008 01/09/2008
14 1434/QĐ-NHNN 26/6/2008 01/07/2008
14 1317/QĐ-NHNN 10/6/2008 11/06/2008
12 1257/QĐ-NHNN 30/5/2008 01/06/2008
12 1099/QĐ-NHNN 16/5/2008 19/05/2008
8.75 978/QĐ-NHNN 29/4/2008 01/05/2008
8.75 689/QĐ-NHNN 31/03/2008 01/04/2008
8.75 479/QĐ-NHNN 29/2/2008 01/03/2008
8.75 305/QĐ-NHNN 30/1/2008 01/02/2008
8.25 3096/QĐ-NHNN 01/01/2008
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biểu lãi suất chiết khấu
Trang 9
16/5/2008
19/05/2008
6.0%/năm
306/QĐ-NHNN
30/1/2008
01/02/2008
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biểu lãi suất tái cấp vốn
9.5%/năm
3159/QĐ-NHNN
19/12/2008
22/12/2008
11,0%/năm 2949/QĐ-NHNN 05/12/2008
Trang 10
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
03/12/2008
12,00%/năm
2810/QĐ-NHNN
20/11/2008
21/11/2008
13,00%/năm
2561/QĐ-NHNN
03/11/2008
05/11/2008
14,00%/năm
2318/QĐ-NHNN
20/10/2008
21/10/2008
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
doanh nghiệp và nền kinh tế đứng trước những khó khăn về nguồn vốn, đặc
biệt khi nhu cầu về vốn đang ở giai đoạn thời vụ và từ đó làm giảm tăng
trưởng kinh tế…v.v.
Khi đặt mục tiêu về kiểm soát mức tăng tổng dư nợ tín dụng thông qua
chính sách lãi suất, NHNN hướng tới việc kiểm soát, hạn chế các đầu tư tín
dụng không hiệu quả. Bởi lẽ, việc tăng lãi suất cho vay sẽ buộc các doanh
nghiệp, các chủ đầu tư cân nhắc, tính toán về hiệu quả kinh doanh và đầu tư.
Họ sẽ phải dãn, hoãn hay chấm dứt những hoạt động kinh doanh kém hiệu
quả để tập trung nguồn lực (bao gồm cả tiền vay) vào các dự án hay hoạt
động kinh doanh có hiệu quả. Và ở khía cạnh này thì việc tăng lãi suất là công
cụ hữu hiệu để phân bổ nguồn lực xã hội và sàng lọc giữa việc kinh doanh
hiệu quả và không hiệu quả. Còn đối với các ngân hàng, chính sách siết chặt
nguồn cung tiền trong hệ thống sẽ buộc các ngân hàng phải chọn lọc và thẩm
định kỹ càng các dự án cho vay, đặc biệt là cho vay bất động sản và đầu tư
chứng khoán. Như vậy, chính sách thắt chặt tín dụng của NHNN chỉ buộc các
ngân hàng phải tự điều chỉnh, lựa chọn các dự án vay vốn chứ không áp đặt
hay hạn chế các ngân hàng không được cho vay, đầu tư bất động sản hay
chứng khoán. Trên thực tế, các ngân hàng, ví dụ như ngân hàng Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vẫn tiếp tục tài trợ cho các dự án bất
động sản nhưng chỉ là những dự án thật sự có hiệu quả nằm tại thành phố Hồ
Chí Minh và Hà Nội. Đặc biệt, một trong những yêu cầu khắt khe mà BIDV
đưa ra để đánh giá năng lực khách hàng vay vốn là nhà đầu tư phải có ít nhất
50% vốn tự có của các dự án. Như vậy, những nhà đầu tư có năng lực tài
chính yếu kém sẽ không thể tiếp cận nguồn vốn từ BIDV. Hoặc theo báo cáo
của NHNN Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, các TCTD trên địa bàn thành
phố vẫn tiếp tục giải ngân theo tiến độ (ngoại trừ các dự án chưa giải toả đền
bù, dự án không khả thi) và tiếp tục cho vay các dự án đầu tư bất động sản
khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.
Việc áp dụng đồng bộ, linh hoạt các giải pháp trên đã góp phần đưa các
Quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% đồng thời mở
rộng thêm phạm vi tiền gửi dự trữ bắt buộc (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn và các TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn). Đã
Trang 13
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
tăng lãi suất tiền gửi DTBB bằng đồng Việt Nam đối với các TCTD từ
5%/năm lên 10%/năm và giảm 1% tỷ lệ DTBB đối với tiền nội tệ và 2% tỷ lệ
DTBB tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các TCTD
- Tiếp đến tháng 11 giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc xuống 7 %
và hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống còn mức 5% đối với Việt Nam đồng.
Thị trường mở:
- Thực hiện thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN dưới
hình thức bắt buộc phát hành ngày 17/3/2008. Thực hiện trả trước hạn tín
phiếu này theo yêu cầu của các TCTD kể từ ngày 21/10/2008.
Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăng dần mức
cung tiền cho nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng 2008 đạt ~ 23% (bằng gần ½
mức tăng của năm 2007), riêng 6 tháng đầu năm 2009 đạt ~ 17,1%, tăng ~
17,8% so với cùng kỳ 2008. Tăng trưởng tín dụng đã góp phần chặn đà suy
giảm, ổn định kinh tế vĩ mô.
Tỷ giá hối đoái:
Diễn biến tỷ giá ngoại tệ của Việt Nam từ đầu năm 2008 đến nay là hết
sức phức tạp. Trong quý 1/2008, có những lúc tỷ giá USD liên ngân hàng
xuống dưới 16.000VNĐ và tỷ giá thị trường tự do thậm chí còn thấp hơn
trong ngân hàng. Nhưng chỉ qua đầu quý 2, tỷ giá lại tăng đến chóng mặt, có
lúc đã lên tới 19.500VNĐ. NHNN đã quyết định nới biên độ dao động từ +1%
lên +2% (từ ngày 26/06/08) đồng thời triển khai hàng loạt các biện pháp
khác: kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông,
công bố dự trữ ngoại hối của Việt Nam (điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam),
trong năm 2009.
Như vậy, trong năm 2008, NHNN đã tập trung vào 2 mục tiêu chủ yếu là
kiểm soát tổng phương tiện thanh toán ở mức hợp lý và kiểm soát dư nợ tín
dụng và tính đến hết tháng 10/ 2008 các chỉ tiêu này lần lượt đạt là 10,59%
(cùng kỳ năm ngoái tăng 32%) và 19,6% (cùng kỳ năm ngoái tăng 37%). Từ
việc kiểm soát 2 chỉ tiêu chủ yếu này, NHNN đã rút về một lượng lớn tiền mặt
khỏi lưu thông và từ đó giảm bớt áp lực của sự tăng lạm phát. Việc rút bớt
Trang 15
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
một lượng tiền mặt khỏi lưu thông được thực hiện thông qua việc siết chặt
các khoản vay không hiệu quả để tập trung tăng trưởng tín dụng cho sản
xuất, xuất khẩu, cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, cho hộ
chính sách và đặc biệt là đối với các dự án dang dở có hiệu quả phải đầu tư
nhanh để phát huy hiệu quả. Đồng thời NHNN đã linh hoạt kịp thời nới lỏng
CSTT bằng cách hạ lãi suất cơ bản, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc… khi có dấu
hiệu giảm áp lực lạm phát và tăng trưởng khó khăn, nhất là khi tình trạng
suy thoái kinh tế đang lan tỏa ra toàn cầu và có thể tác động mạnh đến nền
kinh tế Việt Nam trong năm 2009 nếu Việt Nam không có giải pháp ứng phó.
3.2 Năm 2009
Năm 2009, lạm phát ở mức thấp mặc dù tăng trưởng tín dụng và cung tiền
tăng khá mạnh kể từ mức đáy hồi đầu năm. Nếu cuối năm 2008, mục tiêu giữ lạm
phát dưới 15% đã là lý tưởng cho năm 2009 sau một năm lạm phát (CPI) xấp xỉ
tới 20% thì đến giữa năm chúng ta lại hoàn toàn yên tâm là CPI sẽ dưới 7% và
thực tế con số đó là 6.52% so với tháng 12/2008 và bình quân cả năm chỉ tăng
6.88% so với năm trước. Có thể nói lạm phát năm 2009 nằm trong dự tính và
kiểm soát được lạm phát là một thành công của Việt Nam trong năm này.
3.2.1 Lãi suất
Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát năm 2008,
gói hỗ trợ lên tới hàng ngàn tỷ USD với cách thức chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp:
mua tài sản xấu, sở hữu vốn của các tập đoàn tài chính và tập đoàn công
nghiệp lớn; chi tiền cho người nộp thuế, người tiêu dùng; thưởng tiền cho
người hủy xe cũ, mua xe mới, … Gói hỗ trợ của Chính Phủ Việt Nam được định
lượng là 1 tỷ USD (trên 17.000 tỷ đồng) với cách làm rất sáng tạo, rất linh
hoạt, rất “made in Việt Nam”. Phần lớn tiền hỗ trợ không được chi trực tiếp mà
được hỗ trợ gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất. Bằng cách này chúng ta đã
Trang 17
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
kích thích tăng trưởng mạnh tín dụng, giúp các doanh nghiệp có được nguồn
vốn giá rẻ nên giảm được giá thành sản phảm, duy trì ổn định sản xuất, kích
thích được nhu cầu trong nước, …
Cũng đã có nhiều ý kiến trái chiều về chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính
Phủ rằng can thiệp như vậy sẽ làm méo mó hoạt động của các NHTM, làm như
vậy thực chất là kích cung chứ không phải kích cầu, nên hạ lãi suất thay vì “trợ
giá” qua lãi suất, nên hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp và người dân, …. Và
công bằng mà nói, chính sách này cũng đã gây ra một số tác động không mong
muốn như: làm thay đổi cung cầu vốn ngoại tệ và VND (nhu cầu vay vốn VND
tăng mạnh, một số khách hàng trả nợ trước hạn, trả nợ vay ngoại tệ chuyển
sang vay bằng VND, …); tạo sức ép cho tỷ giá,…
Tuy nhiên, sau hơn nửa năm thực hiện hỗ trợ lãi suất, thực tệ ngày càng
minh chứng cho tính đúng đắn của công cụ này. Thứ nhất, số tiền hỗ trợ của
Chính Phủ có quy mô không lớn, sẽ không có tác dụng đáng kể nếu chi hỗ trợ
trực tiếp cho doanh nghiệp và dân cư; chưa kể quá trình thực hiện có thể phát
sinh nhiều tiêu cực. Thứ hai, nếu hạ lãi suất chúng ta có thể bị rơi vào “bẫy
thanh khoản”, các NHTM không huy động được và cũng không cho vay được.
Và rõ ràng là nếu không tăng được tín dụng cho nền kinh tế thì việc kích cầu
chẳng có ý nghĩa gì. Thứ ba, hỗ trợ lãi suất qua tín dụng sẽ khuyến khích thúc
hiện nghiệp vụ này kể từ ngày 23/3/2009.
Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, chủ yếu là chào mua giấy tờ
có giá (đưa tiền ra lưu thông) để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn thanh toán với kỳ
hạn và lãi suất hợp lý.
3.2.3 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHNN 5 lần điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB) đối với tiền gửi
VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 11%-10%-8%-6%-5%-3%, kỳ
hạn 12 tháng trở lên điều chỉnh giảm từ 2% xuống 1%; 2 lần điều chỉnh giảm tỷ
lệ dự trữ bắt buộc đối với ngoại tệ từ 11%-9%-7%.
3.3 Năm 2010
Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng tài chính. Kinh tế
trong nước tăng trưởng cao (6.78%) nhờ động lực đầu tư (vốn đầu tư toàn xã
hội tăng 12.9%), xuất khẩu (tăng 25.5%) và tiêu dùng (tổng mức bán lẻ hàng hóa
và dịch vụ tăng 24.5%); các chỉ tiêu kinh tế và an sinh xã hội cơ bản được đảm
bảo. Trong năm 2010, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và thận
trọng, phù hợp với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và bám sát tình
hình thực tế, góp phần quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Với
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, NHNN đã thực thi nhiều biện pháp điều hành
CSTT nhằm đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, kiềm chế lạm phát, chỉ đạo và
giám sát các đơn vị trong toàn Ngành thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đề ra.
Mục tiêu của năm 2010 vẫn là tăng trưởng ổn định và lạm phát được giữ ở mức
trung bình. Cụ thể như sau:
Trang 20
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
- Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ (nghiệp vụ thị trường mở, tái
cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ, dự trữ bắt buộc) để tăng lượng tiền cung ứng bổ sung
cho lưu thông, đáp ứng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, với tốc độ tăng
23% so với năm 2009; tỷ trọng tiền mặt lưu thông trong tổng phương tiện thanh
- Thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng ngay từ đầu năm.
Đóng cửa sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước
ngoài; điều hành xuất - nhập khẩu vàng phù hợp với nhu cầu thị trường; ban
hành Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 thu hẹp huy động và cho
vay bằng vàng; phối hợp với các bộ, ngành chống đầu cơ, buôn lậu vàng. Giá vàng
trong nước tăng bám sát giá thế giới, hiện tượng tâm lý đám đông và đầu cơ có
xu hướng giảm.
Tuy nhiên, với những chính sách ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng như vậy, lạm
phát sau khi được ổn định ở 2 năm trước thì đến năm 2010 đã có cơ hội gia tăng
trở lại. Chịu tác động rất lớn từ những sự kiện như sự gia tăng mạnh của giá dầu
thế giới, đầu tư mạnh cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, lũ lụt gây thiệt
hại nặng nề ở miền Trung, giá vàng và USD liên tục leo thang,… nhưng những
chính sách tiền tệ vẫn chưa quan tâm đến kiềm chế chỉ số CPI một cách thoả
đáng, khiến lạm phát năm 2010 diễn biến xấu đi so với chỉ tiêu mong đợi từ đầu
năm. Mặc dù các tháng giữa năm CPI tăng nhẹ nhưng những biến động ở đầu và
cuối năm đã khiến chỉ số này gia tăng đột biến. Với nỗ lực kiềm chế lạm phát cả
năm ở mức 7 – 8% từ đầu năm thì rõ ràng, điều hành CSTT trong năm đã ưu tiên
nhiều cho tăng trưởng, không đạt được hiệu quả ổn định lạm phát như mong đợi,
dẫn đến lạm phát 2010 đạt mức 2 con số, lên tới 11.75%. Và con số này cũng đặt
ra áp lực rất lớn cho CSTT năm 2011 nhằm kéo chỉ số CPI trở lại mức thấp như
từng đạt được trong năm 2009.
- Biến động chỉ số CPI trong năm 2010 như sau:
- Tháng 1: +1.36%; tháng 2: +1.96%; tháng 3: +0.75%; tháng 4: +0.14%; tháng 5:
+0.27%; tháng 6: +0.22%; tháng 7: +0.06%; tháng 8: +0.23%, tháng 9: +1.31%,
tháng 10: +1.05%, tháng 11: +1.86%, tháng 12: +1.98%.
Đơn vị tính: %
Biểu đồ: Biến động chỉ số CPI qua các tháng trong năm 2010
Trang 22
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
GVHD: Ts. Trần Thị Bích Dung
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
biến động này, liên quan đến thay đổi chính sách tiền tệ và tài khóa.
Ngày 11/2, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá USD/VND tới
9.3%. Nỗ lực giữ ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước vào trước đó đã khiến
dự trữ ngoại hối tại thời điểm quý 1/2011 chỉ còn lại tương đương 3.5 tuần nhập
khẩu. Tuy nhiên, căng thẳng ngoại tệ không thuyên giảm, chênh lệch tỷ giá chính
thức và chợ đến lên đến 10% là nguyên nhân chính dẫn tới việc điều chỉnh tỷ giá
nói trên. Việc tăng như thế thì sẽ kích thích lạm phát và đẩy giá lên. Và khi mà
lạm phát tăng lên thì lãi suất cũng tăng lên.
Thêm vào diễn biến đáng quan ngại này, ngày 24/2, tại cuộc họp Chính phủ
với các địa phương, giá xăng dầu được điều chỉnh tăng gần 20%, điện tăng
15.28%.
Nghị quyết 11 ra đời cùng ngay với hàng loạt chỉ tiêu được điều chỉnh lớn: với
tiền tệ, tăng trưởng tín dụng rút xuống mức dưới 20% thay vì 23%, tổng phương
tiện thanh toán cũng áp chỉ tiêu mới ở mức khoảng 15-16%.
Lạm phát liên tiếp bị đẩy lên, CPI theo tháng tăng 2.17% vào tháng 3. Chưa
kịp hết ngỡ ngàng về sự gia tốc sau Tết Nguyên đán, CPI lập tức đạt đỉnh vào
tháng 4 ở mức 3.32%, cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Lãi suất huy động tiền
gửi theo quy định của NHTW 14%/năm trong năm 2011, tuy nhiên điều này lại
không được thực thi hiệu quả, đã có nhiều NHTM tăng lãi suất huy động tiền gửi
lên 18-19% và có khi lên đến 21%/năm nên lãi suất cho vay của các ngân hàng bị
đẩy lên mức khá cao có khi lên đến 24-25%/năm. Cùng với sự leo thang của lãi
suất VND, lãi suất USD cũng liên tục nóng lên và tăng cao nhất vào tháng 3/2011.
Nhằm thực hiện chính sách chống đô la hóa, ngày 09/4/2011, NHNN đã ban hành
Thông tư số 09/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng
USD của tổ chức, cá nhân tại TCTD. Theo đó, phải đảm bảo lãi suất huy động vốn
tối đa bằng USD của tổ chức là 1.0%/năm và của cá nhân là 3.0%/năm. Sau quy
định này, lãi suất huy động USD đã giảm xuống trong những tháng đầu, trong khi