ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
GIÁO DỤC THỂ CHẤT 1
1. Tên môn học: Giáo dục thể chất 1 – Học phần bắt buộc (Mã
môn học BAS 102).
2. Số tín chỉ: 01
3. Trình độ cho: Sinh viên năm thứ nhất .
4. Phân bổ thời gian:
Học
phần
Số tín
chỉ
Số
giờ
Thời gian
Lý thuyết Thực hành
Bắt buộc 1 30 4 26
5. Các học phần trước: Không.
6. Học phần thay thế, học phần tương đương:
Học phần này tương đương với học phần Giáo dục thể chất 1
của chương trình 180 tín chỉ.
7. Mục tiêu của học phần:
Trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ thuật cơ bản của môn
Thể dục và Điền kinh, qua đó giúp sinh viên vận dụng vào tập luyện
và thi đấu để nâng cao sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực. Đồng
thời bồi dưỡng cho sinh viên về mặt phẩm chất, ý chí và tinh thần
đoàn kết, sáng tạo trong học tập và lao động.
8. Mô tả vắn tắt nội dung môn học: (Tất cả đều được thực hiện
ngoài sân).
PHẦN I: THỂ DỤC
A/ Lý thuyết:
+ Mục đích: Trang bị cho sinh viên những kiến thức, hiểu biết về
10. Tài liệu học tập:
- Bài giảng môn học Giáo dục thể chất 1 (Thể dục + Điền kinh)
của bộ môn Giáo dục thể chất.
- Giáo trình Thể dục – NXB Thể dục thể thao năm 2007
- Giáo trình Điền kinh – NXB Thể dục thể thao năm 2007.
- Luật thi đấu Điền kinh – NXB Thể dục thể thao năm 2008.
- Các tài liệu có liên quan.
11. Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên và thang điểm:
* Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
- Chuyên cần.
- Kiểm tra giữa học phần.
- Thi kết thúc học phần.
* Thang điểm:
- Chuyên cần: Dự lớp > 80% tổng số thời lượng của học phần
mới được thi kết thúc học phần.
- Kiểm tra giữa học phần: 20%
- Thi kết thúc học phần: 80%
12. Nội dung chi tiết của học phần:
Lịch trình giảng dạy:
PHẦN I: THỂ DỤC
A/ LÝ THUYẾT
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
1. Vị trí của môn Thể dục trong hệ thống Giáo dục Thể chất.
* Khái niệm: Thể dục là một hệ thống gồm những bài tập được
chọn lọc và thực hiện với những phương pháp khoa học, nhằm giải
quyết nhiệm vụ phát triển thân thể toàn diện, hoàn thiện khả năng vận
động.
Thể dục Thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa, nhằm đào tạo thế hệ trẻ trở thành con người mới, có tri
thức, có đạo đức và thẩm mỹ, phát triển hoàn thiện về thể chất.
tốt nhất để nâng cao khả năng hoạt động bình thường của con người,
nâng cao khả năng làm việc, tăng cường sức khỏe và là biện pháp
nghỉ ngơi tích cực.
Thể dục còn có ý nghĩa thực dụng rất lớn. Tập luyện thể dục sẽ
tiếp thu, củng cố và hoàn thiện những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần
thiết trong đời sống như: Đi, chạy, nhảy, ném…và có tác dụng bổ trợ
cho lao động, học tập và chiến đấu. Thể dục không chỉ có tác dụng
phát triển thể lực toàn diện mà còn có tác dụng phát triển thể lực
chuyên môn để đạt đến những thành tích cao trong thể thao. Thể dục
còn có giá trị thẩm mỹ vì bản thân nó là môn vận động luyện hình
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
dáng, rèn tư thế và phát triển cân đối cơ thể, không những thế thể dục
còn thể hiện tính nghệ thuật trong hình tượng và nhịp điệu, phong
thái và khả năng diễn cảm.
Thể dục bao gồm nhiều yếu tố giáo dục và rèn luyện con người
về đạo đức, ý chí, tác phong cũng như về cá tính. Những đức tính ấy
được thể hiện sinh động và thường xuyên thông qua việc thực hiện
các bài tập một cách nghiêm túc, dũng cảm, tỷ mỉ và chính xác, qua
yêu cầu nặp lại động tác nhiều lần, sửa chữa tỷ mỷ các chi tiết động
tác chưa hợp lý và nâng cao chất lượng động tác. Thực hiện được yêu
cầu ấy không thể chỉ dựa vào cảm giác chủ quan mà cần có sự trợ lực
của người hướng dẫn và đồng đội trong việc giúp đỡ và bảo hiểm,
nhờ vậy thể dục giáo dục tình đồng chí, ý thức tập thể.
Thể dục là một môn tiêu biểu cho sự kết hợp giữa trí dục và thể
dục. Quá trình giảng dạy thể dục được đặt trên cơ sở phân tích và
tổng hợp vận động, trong việc giáo dục khả năng chủ động điều khiển
hoạt động của cơ thể và hình thành nhiều mối liên kết vận động mới,
cũng như trong sự phát triển những khả năng vận động sẵn có. Tất cả
những điều đó sẽ kích thích hoạt động trí tuệ của người tập, tăng
thêm tính tích cực của hoạt động chí óc, xúc tiến các quá trình hưng
hoạt.
Các nội dung của thể dục cơ bản gồm:
- Các bài tập đội hình, đội ngũ.
- Các bài tập phát triển chung.
- Các bài tập thực dụng.
- Các bài tập treo và chống đơn giản.
- Các bài tập nhào lộn đơn giản.
- Các bài tập nhảy (đơn giản, vượt chướng ngại vật).
2.3. Các bài tập phát triển chung và đội hình, đội ngũ.
* Các bài tập phát triển chung:
Là những động tác thực hiện riêng từng bộ phận hoặc phối hợp
nhiều bộ phận của cơ thể, được sắp xếp theo quy luật nhất định phù
hợp với mục đích lựa chọn. Bài tập phát triển chung có thể làm với
đạo cụ trên dụng cụ hoặc chỉ bằng tay không.
Tác dụng: Nâng cao năng lực vận động chung, uốn nắn cơ thể
hoặc có thể dùng để tạo tác động riêng biệt với bộ phận nào đó của cơ
thể. Kỹ năng của bài tập phát triển chung là cơ sở để tiếp thu các kỹ
thuật cao của các môn thể thao. Sử dụng bài tập phát triển chung dễ
điều chỉnh lượng vận động và dễ thay đổi cấu trúc nên được sử dụng
rộng rãi trong các môn thể thao.
* Bài tập đội hình, đội ngũ.
Đội hình, đội ngũ là một trong những nội dung tập luyện thể dục,
thường được sử dụng trong quân sự và TDTT. Đối với học sinh, sinh
viên còn dùng để rèn luyện những phẩm chất đạo đức, ý chí, kỷ luật,
tác phong nhanh nhẹn tháo vát
Đội ngũ: Là sự sắp xếp vị trí tương quan giữa từng người, từng
tổ, từng đơn vị với nhau trong một tập thể.
Nội dung của đội ngũ bao gồm: Các hình thức tập luyện tại chỗ
và di động với các bài tập kỹ thuật đơn giản. VD: Tập hợp, điều
chỉnh hàng, đi đều,…
* Động tác Tay:
TTCB: Đứng nghiêm.
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang, trọng tâm dồn đều vào 2
chân; 2 tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa, mắt nhìn thẳng. Hít vào
+ Nhịp 2: 2 tay gập trước ngực đồng thời giật về sau, lòng bàn
tay sấp, khuỷu tay ngang vai.
+ Nhịp 3: Trở về nhịp 1. Thở ra.
+ Nhịp 4: Trở về TTCB.
+ Nhịp 5, 6, 7, 8: Như nhịp 1, 2, 3, 4 nhưng đổi chân.
* Động tác Lườn:
TTCB: Đứng nghiêm.
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang rộng bằng vai, trọng tâm
dồn đều vào 2 chân; 2 tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa.
+ Nhịp 2: Trọng tâm dồn sang chân phải, nghiêng người sang
trái, tay chống hông, tay phải đưa lên cao áp sát tai, chân trái kiễng
gót. Hít vào.
+ Nhip 3: Như nhịp 1.
+ Nhịp 4: Trở về TTCB. Thở ra.
+ Nhịp 5, 6, 7, 8: Như nhịp 1, 2, 3, 4 nhưng đổi bên.
* Động tác Vặn mình.
TTCB: Đứng nghiêm.
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang rộng bằng vai, 2 tay đưa ra
trước, long bàn tay sấp.
+ Nhịp 2: Vặn mình sang trái, tay trái vung rộng hết biên độ
sang ngang – ra sau, bàn tay ngửa; tay phải gập trước ngực, bàn tay
sấp. Mắt nhìn theo bàn tay trái. Hít vào.
+ Nhịp 3: Như nhịp 1.
+ Nhịp 4: Trở về TTCB. Thở ra.
+ Nhịp 5, 6, 7, 8: Như nhịp 1, 2, 3, 4 nhưng đổi bên.
* Động tác Chân:
thích hợp, người chỉ huy quay về phía người tập phát khẩu lệnh.
Đứng vào vị trí đã chọn, tay phải nắm hờ, giơ cao.
Nghe khẩu lệnh, tất cả người tập nhanh chóng di chuyển và
đứng về phía tay trái cùng hướng với người chỉ huy, theo thứ tự, dãn
cách nhau một nắm tay (15cm) giữa khuỷu tay hai người đối với đội
hình bình thường.
Sau khi người thứ nhất đã đứng đúng vị trí yêu cầu, người chỉ
huy hạ tay xuống và bước ra chỉ huy.
Khi tập hợp từ hai hàng ngang trở lên thì các hàng thứ 2, thứ 3,
…đứng tiếp sau hàng thứ nhất với cự ly một cánh tay (từ 75-80cm).
Người đầu hàng sau, đứng sau người thứ nhất hàng trước đó.
* Tập hợp 1 hay nhiều hàng dọc:
+ Khẩu lệnh: “Thành 1, 2, 3… hàng dọc – tập hợp”
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Sau khi chọn được vị trí, phương hướng
thích hợp, người chỉ huy quay về phía người tập phát khẩu lệnh.
Người tập nhận lệnh xong nhanh chóng di chuyển về đứng sau
người chỉ huy thành một hàng dọc, theo thứ tự với cự ly một cánh tay
Khi tập hợp 2, 3,…hàng dọc, người chỉ huy luôn đứng đầu hàng
bên phải, những người đầu hàng thứ 2, thứ 3,…đứng ngang bên trái
cùng hướng với người số 1 hàng trước đó. Với giãn cách một nắm tay
* Động tác nghiêm.
+ Khẩu lệnh: “Nghiêm”
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Người tập đang đứng trong đội ngũ, nghe
khẩu lệnh “Nghiêm” của người chỉ huy, người tập lập tức chụm hai
gót chân sát nhau trên một đường thẳng ngang (trục phải-trái). Hai
bàn chân mở rộng khoảng 60
0
. Trọng tâm dồn đều vào hai chân, bụng
hơi hóp lại, hai vai ngang và hơi kéo về sau (ngực mở), tay duỗi sát
+ Điểm số hàng ngang:
- Khẩu lệnh: “Từ trái qua phải (hoặc phải qua trái) – điểm số”.
- Yếu lĩnh kỹ thuật: Khi nghe khẩu lệnh người tập lần lượt hô to,
rõ số của vị trí mình đang đứng, đồng thời quay đầu sang trái (phải)
về phía người đứng bên cạnh. Sau đó quay về tư thế đứng nghiêm.
Người tiếp theo cũng thực hiện như vậy để báo số của mình. Người
cuối cùng báo số không phải quay đầu mà phải hô tiếp “hết” để báo
cho chỉ huy biết điểm số đã xong.
+ Điểm số hàng dọc:
- Khẩu lệnh: “Từ trên xuống dưới - điểm số”.
- Yếu lĩnh kỹ thuật: Khi nghe khẩu lệnh người tập lần lượt từ
trên xuống dưới hô to, rõ số của vị trí mình đang đứng, đồng thời
quay đầu qua phải hướng về người đứng sau để báo cho họ biết, sau
đó quay về tư thế đứng nghiêm. Người tiếp sau cũng thực hiện như
vậy để báo số của mình. Người cuối cùng báo số vị trí của mình
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
không phải quay đầu mà phải hô tiếp “hết” để báo cho chỉ huy biết
toàn hàng đã điểm số đã xong.
* Động tác quay phải (trái).
+ Khẩu lệnh: “Bên phải (trái) – quay”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Nghe động lệnh người tập chuyển trọng tâm
sang chân phải (trái) dùng gót làm trụ. Phối hợp với nửa trước bàn
chân trái (phải) đẩy toàn thân quay phải (trái) 90
0
thân trên vẫn giữ
thẳng (nhịp 1). Sau đó thu chân trái (phải) về đặt sát chân phải (trái)
thành tư thế đứng nghiêm (nhip 2).
* Quay đằng sau:
+ Khẩu lệnh: “Đằng sau – quay”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Như động tác quay phải nhưng thực hiện
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Bước đi theo nhịp thống nhất do chỉ huy hô
hoặc nhịp nhạc 2/4. Dứt động lệnh người tập bước chân trái trước vào
nhịp 1.
- Chân nhấc cao hơn mặt đất từ 15-20cm.
- Trước khi đặt chân khớp gối duỗi thẳng.
- Đặt từ gót tới cả bàn chân.
- Biên độ từ 60-70cm (tính giữa hai gót người trước và sau).
- Tần số bước từ 110-120 nhịp/phút.
- Ngực căng, mắt nhìn thẳng phía trước.
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
- Khi đánh ra trước, cánh tay vuông góc với thân, cẳng tay
vuông góc với cánh tay, cao gần ngang vai, bàn tay nắm hờ hướng
xuống dưới.
- Tay đánh ra sau duỗi thẳng gần sát thân, bàn tay nắm hờ
hướng vào thân, hai vai thả lỏng.
* Động tác đứng lại:
+ Khẩu lệnh: “Đứng lại – đứng”.
+ Yêu lĩnh kỹ thuật: Động lệnh “Đứng” rơi vào nhịp 2 chân
phải. Nghe động lệnh người tập bước chân lên một bước (nhịp 1),
trọng tâm dồn vào chân trái, chân phải thu về ngang sát với chân trái
(nhịp 2). Cử động của tay cũng dừng lại theo cử động của chân và kết
thúc động tác ở tư thế đứng nghiêm.
Đứng lại trong dậm chân tại chỗ cũng được thực hiện tương tự.
* Động tác đổi chân tại chỗ khi đang đi đều:
Trong đi đều nếu bị nhầm nhịp: Chân trái bước vào nhịp 2,
người tập phải tự đổi chân.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Chân sau bước lên một bước nhỏ sát gót
chân trước, nhanh chóng bước chân trước lên trước một bước (tiến
hành 2 bước đó trong một nhịp) rồi tiếp tục các bước theo nhịp bình
thường.
“Theo số đã điểm đi đều - bước”.
+ Cách thực hiện: Nghe động lệnh “ bước” tất cả đi thẳng về
phía trước với số bước bằng đúng số mình đã điểm. (số 4 đi bốn
bước, số 2 đi hai bước, số 0 đứng yên). Sau khi bước đủ số bước của
mình, các số thực hiện một nhịp thu chân, điều chỉnh hàng ngang và
đứng nghiêm.
Chú ý: Bước chân trái trước, tổng số nhịp của triển khai đội
hình là 5 nhịp.
* Dồn hàng của đội hình 4 – 2 – 0:
+ Khẩu lệnh: “Về vị trí cũ – bước”.
+ Các bước thực hiện: Nghe dự lệnh “về vị trí cũ” các số đã tiến
(trừ số 0) cùng quay 180
0
(không thu chân trái), dứt động lệnh “bước”
các số trên tiến về vị trí cũ với số bước như đã tiến lên. Khi gót chân
ngang với những người hàng số “0” thực hiện một nhịp thu chân về
đứng nghiêm, sau đó thực hiện động tác quay sau.
* Đội hình 9-6-3-0: Cách biến hóa giống đội hình 4 – 2 – 0.
PHẦN 2: ĐIỀN KINH
A/ LÝ THUYẾT
1. Khái niệm và phân loại môn Điền kinh:
1.1. Khái niệm:
Điền kinh là một môn thể thao bao gồm các nội dung: Đi bộ,
Chạy, Nhảy, Ném đẩy và nhiều môn phối hợp.
Điền kinh, từ chính thức được dùng ở nước ta, thực chất là một
từ Hán - Việt được dùng để biểu thị những hoạt động tập luyện và thi
đấu ở trên sân (Điền) và trên đường chạy (Kinh). Nó có ý nghĩa
tương ứng với từ Aletic trong tiếng Hy Lạp cổ, Athnetics trong tiếng
anh. Một số nước trên Thế giới (Nga, Bungari…) còn dùng từ “Điền
kinh nhẹ” để phân biệt với môn Cử tạ “Điền kinh nặng”.
Mỹ, Đức, Na Uy, Thụy Điển và các liên đoàn Điền kinh quốc gia lần
lượt được thành lập ở hầu hết các châu lục.
Từ năm 1896 việc khôi phục các cuộc thi đấu truyền thống của
đại hội thể thao Olympic đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong
việc phát triển môn Điền kinh.
Từ Đại hội thể thao Olympic Aten (Hy lạp 1896) Điền kinh đã
trở thành nội dung chủ yếu trong chương trình thi đấu tại các đại hội
thể thao Olympic. Năm 1912 Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế
IAAF ra đời. Đây là tổ chức cao nhất lãnh đạo phong trào Điền kinh
toàn thế giới. Hiện nay Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế đã
được đổi tên thành Hiệp hội quốc tế các liên đoàn Điền kinh và vẫn là
IAAF. IAAF hiện nay có 209 thành viên là các liên đoàn Điền kinh
quốc gia và các vùng lãnh thổ ở các Châu lục, trong đó có liên đoàn
Điền kinh Việt Nam. Hiện nay trụ sở của IAAF đặt tại MONACO.
2.2. Vài nét về Điền kinh Việt Nam.
Trong lịc sử hàng ngàn năm đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam, tổ tiên của chúng ta đã rất quen thuộc
với các hoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy. Động lực phát triển
môn Điền kinh đã tiềm ẩn trong lịch sử sinh tồn, dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam.
Trong thời gian dài thực dân Pháp đô hộ nước ta, môn Điền kinh
phát triển rất chậm và yếu ở cả Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Thành
tích thi đấu còn rất thấp như: Chạy 100m Nam: 11,33 giây, chạy
1500m Nam: 4 phút 56 giây, đẩy tạ Nam: 10,45 mét. Từ năm 1945 –
1954 các hoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy như một động lực
phát triển môn Điền kinh trong tương lai, lại được vận dụng nhiều
trong chiến tranh giữ nước.
Từ 10/1954 đến 5/1975 ở Miền nam nước ta môn Điền kinh vẫn
được phát triển, tuy tốc độ chậm và ít được chú trọng như môn Bóng
đá, Tenis…Tuy vậy so với thời kỳ Pháp đô hộ nước ta, nội dung thi
Chương trình giáo dục thể dục thể thao nói chung và môn Điền kinh
nói riêng đã được cải tiến trong các trường học và Điền kinh Việt
Nam đã mở rộng giao lưu, thi đấu với các nước trong khu vực Đông
Nam Á, Châu Á và Thế giới và đã đạt được những thành tích đáng
khích lệ.
2.3. Một số kỷ lục ở nội dung chạy cự ly ngắn 100m của Thế
giới, Châu Á và Việt Nam.
* Kỷ lục Thế giới nam: 9”58 của vận động viên Usam Bold người
Jamaica.
* Kỷ lục Thế giới nữ: 10”49 của vận động viên Joyner người Mỹ.
* Kỷ lục Thế vận hội nam: 9”58 của vận động viên Usam Bold người
Jamaica.
* Kỷ lục châu Á nam: 9”99 của vận động viên Francis người Qatar
* Kỷ lục châu Á nữ: 10”79 của vận động viên Lixuemei người Trung
Quốc.
* Kỷ lục Á vận hội nam: 10”00 của vận động viên Koji Ito người
Nhật.
* Kỷ lục Việt Nam nam: 10”45 của vận động viên Nguyễn Văn
Huynh thuộc đoàn Quân Đội.
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
* Kỷ lục Việt Nam nữ: 11”33 của vận động viên Vũ Thị Hương thuộc
đoàn Thái Nguyên (nay thuộc đoàn An Giang) đồng thời Vũ Thị
Hương cũng giữ luôn kỷ lục Seagames với thành tích 11”34.
3. Ý nghĩa và vị trí môn Điền kinh trong hệ thống Giáo dục thể
chất ở Việt Nam.
Tập luyện Điền kinh một cách có hệ thống và khoa học từ lâu đã
được các nhà khoa học khẳng định là có tác dụng tốt trong việc tăng
cường và củng cố sức khỏe cho con người. Một người đi bộ hoặc
chạy thường xuyên, tim co bóp khỏe hơn, thành mạch co giãn tốt
hơn, hô hấp sâu hơn người không tập luyện một cách rõ rệt. Các bài
bộ thể thao, nếu VĐV có lúc không chạm đất sẽ bị trọng tài nhắc nhở,
nếu bị nhắc tới lần thứ ba sẽ bị truất quyền thi đấu).
Như vậy, nếu trong di bộ, cơ thể chạm đất liên tục và luân phiên
chạm đất bằng một chân rồi hai chân, thì trong chạy từng chân luân
phiên chạm đất, cơ thể lần lượt bay trên không rồi chạm đất bằng một
chân. Nếu trong các chu kỳ chạy chỉ có chống đơn thì trong các chu
kỳ đi bộ có cả chống đơn và chống kép.
4.1. Hoạt động của các bộ phận cơ thể trong 1 chu kì chạy
a) Hoạt động của chân:
Hoạt động của chân liên quan trực tiếp tới hiệu quả di chuyển
khi đi và chạy. Hoạt động của hai chân là như nhau và luân phiên. Do
vậy chỉ phân tích hoạt động của một chân là đủ. Khi chạy mỗi chân
luân phiên chống và đưa lăng
(khi cả hai chân cùng ở trên
không thì cơ thể bay). Khi
chân chống trên mặt đất lại
gồm: chống trước – thẳng
đứng và đạp sau – tuỳ theo vị
trí của điểm đặt chân với
điểm dọi của TTCT để xác định các tình huống trên.
- Chống trước: Chống trước được bắt đầu từ khi chân phía trước
chạm đất, là khi điểm đặt chân còn ở phía trước điểm dọi của TTCT.
Khoảng cách giữa 2 điểm đó càng xa, lực cản do chống trước càng
lớn, thời gian chuyển từ chống trước qua thẳng đứng để sang đạp sau
càng lâu, làm cho tốc độ chạy giảm.
Tốc độ chạy càng lớn thì thời gian để vượt qua giai đoạn đó cũng
càng nhanh, hạn chế được tác hại của lực cản do chống trước. Vì vậy
khi chạy không nên cố với chân về trước mà nên chủ động đặt chân
gần điểm dọi của TTCT (khi tập nhiều động tác bổ trợ chuyên môn
chạy việc yêu cầu có động tác miết bàn chân từ trước ra sau khi chạy
của một người càng lớn thì sức mạnh đạp sau của người đó cũng càng
lớn. Người ta cũng đã tổng kết rằng, những VĐV chạy CLN xuất sắc
đều có gân ASin dài và chu vi cổ chân nhỏ. Gân A Sin càng dài, cổ
chân càng nhỏ thì đạp sau càng mạnh, tốc độ đạp sau càng nhanh –
những yếu tố rất có ý nghĩa đói với thành tích chạy.
+ Góc độ đạp sau (góc tạo bởi trục dọc của chân đạp sau với
đường chạy tại điểm kết thúc đạp sau). Góc đó càng nhỏ, hướng đạp
sau càng gần hướng chuyển động, hiệu quả đạp sau càng lớn (xuất
phát thấp nhanh hơn xuất phát cao cũng vì lí do này). Khi chạy, góc
độ đạp sau nhỏ 45-55
0
, còn khi đi bộ góc độ đó lớn hơn (55 – 65
0
).
+ Cấu trúc của chân cũng ảnh hưởng tới hiệu quả đạp sau. Chân
chữ bát hoặc chân vòng kiềng đều khó chạy nhanh vì lực đạp sau bị
phân tán.
+ Chất lượng đường chạy cũng ảnh hưởng tới hiệu quả đạp sau.
Mặt đường mềm, xốp hoặc trơn sẽ triệt tiêu lực đạp sau, hiệu quả đạp
sau giảm. (Chính vì vậy, người ta phải chuẩn hoá đường chạy và cho
các VĐV chạy được sử dụng giày đinh…).
Ngoài ra, khi chạy hai chân luân phiên đạp sau; nếu hai chân có
sức mạnh như nhau thì nhịp điệu chạy ổn định, nhưng thông thường ở
mỗi người, luôn có một tay thuận và một chân thuận. Tay chân thuận
thường khoẻ hơn tay, chân kia. Sức mạnh của hai chân không đều là
nguyên nhân của độ dài bước chạy không đều, cản trở việc phát huy
tốc độ chạy. Bởi vì cứ sau bước của chân thuận tốc độ được tăng thỡ
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
lại bị giảm vỡ bước của chân yếu sau đó. Để chạy tốt cũng cần phải
khắc phục tình trạng trên.
chân chống luôn thẳng là đặc điểm kĩ thuật của đi bộ thể thao. Khi
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
chưa quen với kĩ thuật này, khi hoạt động của hai chân chưa thành tự
động hoá thì người đi rất vất vả, ưu việt của kĩ thuật chưa được phát
huy.
Kết thúc đạp sau, chân rời khỏi mặt đất và chuyển qua giai đoạn
đưa lăng – giai đoạn chân ở trên không. Tuỳ thuộc vào vị trí của đùi
chân lăng với đường thẳng từ TTCT hạ vuông góc với đường chạy
mà chân đưa lăng cũng bao gồm các giai đoạn nhỏ: đưa lăng sau,
thẳng đứng và đưa lăng trước. “Thẳng đứng” là thời điểm đùi chân
đưa lăng chuyển từ đưa lăng sau sang đưa lăng trước, cũng là khi
chân kia ở vị trí chống thẳng đứng. Kết thúc đưa lăng trước lại trở về
giai đoạn chống trước; hoàn thành 2 chu kì.
Cũng theo nguyên tắc lực học, khi kết thúc đạp sau, bàn chân đạp
sau rời khỏi mặt đất, chân kia còn đang đưa lăng ở phía trước, chưa
“chống trước” toàn thân ở trên không, bay về trước theo quán tính,
với tốc độ chậm dẫn đều. Tốc độ chạy lại được tăng khi chân chống
chuyên qua đạp sau và đạp sau tích cực. Động tác đưa lăng (sau và
trước) không có tác dụng làm tăng tốc độ chạy – do hướng của
chuyển động có ngược với hướng chạy – thậm chí còn cản trở do tạo
lực cản lớn của không khí, khi đưa lăng nếu cẳng chân được thu về
gần sau đùi một cách tự nhiên vẫn có tác dụng tốt:
- Đưa lăng chân từ sau – về trước là một chuyển động tròn, có
tâm là trục ngang của khớp hông. Việc thu cẳng chân về gần đùi có
tác dụng giảm bán kính của chuyển động do vậy rút ngắn được thời
gian đưa lăng, do đó hạn chế được hậu quả của động tác không thể
thiếu đó.
- Động tác thu cẳng chân nếu được thực hiện một cách tự nhiên –
như một chuyển động theo quán tính – còn có tác dụng thả lỏng các
cơ của chân vừa tham gia động tác đạp sau, nhờ vậy hoạt động của
lớn nhất khi tay ở vị trí dọc thân và nhỏ nhất khi kết thúc đánh về sau
và đánh về trước.
Trong trường hợp chạy với tốc độ chậm, nguy cơ mất thăng bằng
không lớn, nhu cầu hỗ tợ để duy trì nhịp điệu chạy cần thiết không
cao (thường chỉ ở chạy các CLD và quá dài), người chạy có thể thả
lỏng hai vai và buông thả hai tay để chúng vung vẩy thả lỏng tự
nhiên; khi hết mỏi thì tiếp tục đánh tay như bình thường. Khác với ở
chạy, khi đi bộ thể thao vai trò của tay rất lớn, tới mức không thể
ngừng đánh tay. Phải chăng do suốt quá trình chạm đất, chân chống
luôn phải giữ thẳng, người đi không tận dụng được hết sức mạnh của
chân trong đạp sau, bù vào đó cần có sự hỗ trợ của tay.
c) Hoạt động của thân trên
Trong chạy thân trên không trực tiếp tác động làm tăng tốc độ di
chuyển của cơ thể, tuy nhiên tư thế thân trên phù hợp lại có ý nghĩa
tận dụng triệt để hiệu quả hoạt động của các bộ phận khác, gián tiếp
làm tăng tốc độ chạy. Có tư thế của thân trên là khi ngả về trước,
điểm dọi của TTCT chuyển về trước điểm chống, khiến phải bước
một chân lên để khỏi ngã. Tư thế đúng là khi đầu và thân trên cùng
trên một đường thẳng, các cơ mặt và cổ không bị căng thẳng (các
VĐV chạy xuất sắc đều thả lỏng được cơ ở mặt khi chạy). Độ ngả
của thân trên càng lớn, TTCT càng thấp, càng xa điểm chống trước
thì góc đạp sau càng nhỏ, hướng của lực đạp sau càng gần hướng của
chuyển động, hiệu quả đạp sau càng lớn (và ngược lại…). Mặt khác,
khi ngả thân trên cũng chính là thu hẹp bề mặt cơ thể hứng chịu lực
cản trực tiếp của không khí, do vậy làm giảm được tác hại của lực
cản đó đối với tốc độ chạy. Tuy nhiên, không phải là cứ cố ngả thân
trên về trước là tốt. Độ ngả thân trên quá lớn sẽ làm giảm độ dài bước
và phải tốn năng lượng để duy trì nó (các cơ lưng phải chịu thêm
trọng tải). Nếu ngả về trước ít hoặc không ngả lại là cản trở sự di
chuyển về phía trước của cơ thể, dẫn tới ngả người về phía sau. Rất
chạy). Để giảm dao động của TTCT theo chiều lên – xuống: Phải ổn
định góc độ đạp sau và đạp sau với góc độ nhỏ.
Việc hạn chế được các di chuyển không cần thiết của TTCT
không chỉ rút ngắn cự li chạy xuống gần với cự li quy định mà còn
tận dụng được sức mạnh đạp sau để đẩy TTCT tiến về phía trước (do
hạn chế phần sức lực sản sinh để đưa TTCT lên xuống hoặc qua 2
bên).
e) Mối quan hệ giữa tần số và độ dài của bước chạy
Trong chạy, tần số và độ dài của bước là 2 thành phần chủ yếu
quyết định tốc độ chạy.
Nếu ta chạy một cự li với độ dài trung bình của 1 bước chạy là l
(m) và với tần số x bước trong 1s thì có thể tính tốc độ chạy (v) theo
công thức: V = xl (m/s)
Rõ ràng là để tăng tốc độ chạy ta phải tăng tần số và độ dài của
bước chạy.
Nếu chạy được với bước chạy càng dài và với tần số bước (số
bước chạy được trong một đơn vị thời gian) càng cao thì tốc độ chạy
cũng càng cao. Tuynhiên, giữa độ dài bước và tần số bước lại tỉ lệ
nghịch với nhau: Độ dài của bước chạy càng dài, càng khó chạy với
tần số cao, ngược lại khi ta cố chạy với tần số bước cao ta rất khó
chạy với độ dài bước lớn. Chạy ở các cự li khác nhau đòi hỏi chạy
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
với các tốc độ khác nhau. Do đó không có một tiêu chuẩn chung cố
định về tần số và độ dài bước chạy.
Mặt khác, độ dài bước phụ thuộc vào tầm vóc của mỗi người:
người cao, có chân dài bước của họ sẽ dài ơn bước của những người
thấp, chân ngắn. Người có sức mạnh của đôi chân tốt hơn, bước chạy
của họ cũng dài hơn bước chạy của những người có chân yếu. Nếu có
chân ngắn và yếu lại cố chạy với bước dài là mắc sai lầm lớn. Để
bước dài, phải đạp sau tích cực, sức lực mau cạn kiệt, cơ thể phải
chạy nói riêng.
Nghiên cứu một chu kì chạy, người ta thấy rằng: để tăng tốc độ
chạy cần tăng hiệu quả đạp sau (đạp nhanh, mạnh với góc độ phù
hợp) và rút ngắn thời gian bay trên không.
5. Luật thi đấu điền kinh (nội dung chạy 100m).
a) Kích thước đường chạy:
- Mỗi VĐV có một đường chạy riêng, với độ rộng tối thiểu là
1,22m ± 0,01m. Vạch giới hạn đường chạy, vạch xuất phát, vạch đích
rộng 5cm.Tất cả các ô chạy phải có độ rộng bằng nhau (Chỉ có vạch
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
bên phía tay phải của mỗi ô chạy là nằm trong độ rộng của mỗi ô
chạy).
b) Số lượng VĐV của một đợt chạy:
- Số VĐV mỗi đợt chạy tuỳ thuộc vào số đường chạy có trên
sân, khi có đông VĐV chạy thì phải thi đấu loại (vòng loại, bán kết,
trung kết). Chọn VĐV vào vòng trong dựa vào thành tích của các
VĐV.
- Ưu tiên các VĐV xuất sắc có thành tích tốt hơn chạy ở đường
chạy giữa.
c) Xuất phát:
- Xuất phát trong chạy cự ly ngắn có 3 khẩu lệnh (“Vào chỗ” -
“sẵn sàng” - “tiếng súng nổ”).
- Trong cuộc thi đấu nội dung chạy 100m xuất phát thấp có sử
dụng bàn đạp là yêu cầu bắt buộc.
- Sau khi có lệnh “vào chỗ” các VĐV phải tiến tới vạch xuất
phát, chiếm vị trí hoàn toàn trong ô chạy của mình, phía sau vạch
xuất phát. 2 bàn tay và 1 đầu gối phải tiếp xúc với mặt đất và 2 bàn
chân tiếp xúc với bàn đạp xuất phát.
- Khi có lệnh “sẵn sàng” các VĐV phải lập tức nâng lên tới tư
thế xuất phát cuối cùng của mình trong khi vẫn giữ sự tiếp xúc của 2
Thời gian sẽ được đọc tới 1/10 giây tiếp sau đó. VD: 10”11 đọc
là 10”02.
Nếu 2 trong số 3 đồng hồ có thời gian khớp nhau và đồng hồ thứ
3 không khớp thì thời gian của 2 đồng hồ khớp sẽ là thời gian chính
thức. Nếu cả 3 đồng hồ có thời gian không khớp nhau thì thời gian
của đồng hồ ở giữa sẽ là thời gian chính thức. Nếu chỉ có 2 đồng hồ
xác định được thời gian nhưng lại không khớp nhau thì thời gian dài
hơn sẽ là thời gian chính thức.
B/ THỰC HÀNH:
1. Kĩ thuật chạy cư li 100m: Chạy ở các cự ly 60m và 80m cũng là
chạy ở cự li ngắn (CLN). Về kĩ thuật, so với chạy ở cự li 100m về cơ
bản không có gì khác, ở đây chỉ đi sâu phân tích kĩ thuật chạy 100m.
Mặc dù chạy ở bất cứ một cự li nào, đều là một quá trình liên tục
từ khi xuất phát cho tới khi về đích, nhưng để tiện cho việc phân tích
kĩ thuật, trong chạy CLN, người ta vẫn chia quá trình đó thành 4 giai
đoạn: Xuất phát, chạy lao sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích.
Riêng đối với chạy ở cự li 100m, sự khác biệt trong kĩ thuật ở 4 giai
đoạn đó là khá rõ ràng và đều có vai trò quan trọng đối với thành tích
của người chạy. Chính vì vậy, chỉ khi hiểu và thực hiện tốt kĩ thuật
của 4 giai đoạn đó, người ta mới có thể đạt được thành tích chạy cao
nhất so với khả năng của mình. Dưới đây là chi tiết kĩ thuật của từng
giai đoạn trong chạy 100m:
a) Giai đoạn xuất phát:
Giai đoạn này bắt đầu từ khi người chạy vào bàn đạp đến khi rời
khỏi bàn đạp. Nhiệmn vụ của giai đoạn này là tận dụng mọi khả năng
để xuất phát nhanh và đúng luật. Trong chạy 100m, để xuất phát
được nhanh, phải dùng kĩ thuật xuất phát thấp (kĩ thuật xuất phát thấp
có từ năm 1887) với bàn đạp - Hình 18a, b. Xuất phát thấp giúp ta tận
dụng được lực đạp sau để cơ thể xuất phát nhanh (do góc đạp sau gần
với góc di chuyển).
(hướng sang hai bên do hai bàn đạp xa nhau quá). Bàn đạp đặt trước
dùng cho chân thuận (chân khoẻ hơn).
Các đinh của bàn đạp cần được đóng xuống mặt đường chạy, sao
cho bàn đạp không bị bung khỏi đường khi VĐV xuất phát.
Góc độ của mặt bàn đạp: Góc giữa mặt bàn đạp trước với mặt
đường chạy phía sau là 45 - 50
0
; bàn đạp sau là 60 - 80
0
. Cần nắm
quy luật bàn đạp càng xa vạch xuất phát, thể lực của người chạy càng
kém thì góc độ đó càng giảm (nếu ngược lại, người chạy rễ xuất phát
sớm và bị phạm quy).
* Kĩ thuật xuất phát thấp:
Trong thi đấu, sau khi đóng bàn đạp và thử xuất phát…. VĐV về
vị trí chuẩn bị đợi lệnh xuất phát. Có 3 lệnh, kĩ thuật sau mỗi lệnh
như sau:
+ Sau lệnh “Vào chỗ!”
Người chạy đi hoặc chạy nhẹ nhàng lên đứng trước bàn đạp của
mình, ngồi xuống, chống hai tay xuống đường chạy (phía trước vạch
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh
xuất phát); lần lượt đặt chân thuận vào bàn đạp trước, rồi chân kia
vào bàn đạp sau – hai mũi bàn chân đều phải chạm mặt đường chạy
(để không phạm quy). Hai chân nên nhún trên bàn đạp để kiểm bàn
đạp có vững vàng không, để có chỉnh sửa kịp thời. Tiếp đó hạ đầu gối
chân phía sau xuống đường chạy, thu hai tay về sau vạch xuất phát,
chống trên các ngón tay như đo gang. Khoảng cách giữa hai bàn tay
rộng bằng vai. Kết thúc, cơ thể ở tư thế quỳ trên gối chân phía sau
(đùi chân đó vuông góc với mặt đường chạy), lưng thẳng tự nhiên,
đầu cũng thẳng, mắt nhìn về phía trước, vào một điểm trên đường
vmax). Đoạn chạy này càng ngắn thì người chạy càng sớm đạt tới tốc
độ chạy tối đa của mình và đoạn đường được chạy với tốc độ cao
càng dài, do vậy thành tích càng tốt (và ngược lại ). Với Sinh viên,
đoạn này nên chỉ dùng 12- 15 bước (tối đa là 17 bước) và khi đó phải
đạt 90 – 95% tốc độ tối đa của mình. Trong chạy lao, điểm đặt chân
Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh 73 74 Đề cương học phần GDTC 1 - Thể dục + Điền kinh