phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần vật tư nông nghiệp nghệ an - Pdf 24

1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
LỜI NÓI ĐẦU
Ngay từ khi mới xuất hiện, phân tích tài chính đã thu hút được sự quan tâm
của các nhà quản trị. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự lớn
mạnh của các tổ chức tài chính - tín dụng và các tập đoàn kinh tế, khả năng ứng
dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào cuộc sống, phân tích tài chính đã thực sự
phát triển, được chú trọng và trở thành một công cụ đắc lực cho các nhà quản trị
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam phân tích tài chính phần nào vẫn còn khá mới mẻ. Tuy nhiên
với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cùng với lĩnh vực tài chính tín dụng đã
tạo điều kiện cho phân tích tài chính có được sự quan tâm của các nhà quản trị. Nền
kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức
cho các doanh nghiệp. Muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế năng động này
các doanh nghiệp cần nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của phân tích tài
chính cũng như thường xuyên vận dụng vận dụng vào tình hình thực tiễn của doanh
nghiệp. Từ đó nhận ra hững cơ hội cũng như thách thức trong hoạt động của đơn vị.
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu và quyết định tối ưu nhằm đạt các
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
Chính vì vậy phân tích tài chính doanh nghiệp là công việc cần nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Phân tích tài chính sẽ cho thấy những
mặt mạnh, mặt yếu hiện tại của một doanh nghiệp và giúp nhận biết nhanh chóng
những khu vực yếu kém trong quản trị tài chính hay trong hoạt động đầu tư của
doanh nghiệp.
Cũng như phần lớn các công ty khác, công ty cổ phần vật tư nông nghiệp
Nghệ An chưa có một sự quan tâm đúng mức đến công tác phân tích tài chính. Việc
phân tích tài chính hiện nay của công ty chỉ mang tính chất báo cáo tổng kết đánh
giá sau một năm tài chính chứ không có ý nghĩa trong việc giúp các nhà quản lý đưa
ra các quyết định đúng đắn và thích hợp. Chính vì thế đã phần nào hạn chế khả năng
hoạt động của công ty. Do đó, sau một thời gian thực tập tại công ty, em đã thấy
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04

3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
 Kết cấu luận văn:
Nội dung chuyên đề ngoài lời nói đầu và phần kết luận, gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp.
Chương 2: Đánh giá thực trạng tài chính công ty cổ phần vật tư nông nghiệp
Nghệ An.
Chương 3: Một số giải pháp tài chính chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Nghệ An.
Đề tài được hoàn thành với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô,
đặc biệt là sự hướng dẫn của cô giáo – Ts. Nguyễn Thị Hà, cũng như sự chỉ bảo
của các anh chị Phòng Tài Chính – Kế toán của công ty vật tư nông nghiệp Nghệ
An. Do thời gian thực tập và vốn kiến thức còn nhiều hạn chế, chắc chắn đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được thầy cô và các bạn đóng góp ý
kiến để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Sinh viên: Doãn Hữu Công
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
4
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng
để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được
các quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được DN, từ đó giúp những đối tượng
quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của DN, qua đó có được

đầu tư là thu nhập từ cổ phiếu bao gồm: tiền lợi tức cổ phiếu và giá trị tăng thêm
(chênh lệch giá mua – bán) của vốn đầu tư do biến động giá trên thị trường, hay yếu
tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của DN. Trên thực tế, các nhà đầu tư tiến hành
đánh giá khả năng sinh lời của DN, đánh giá triển vọng phát triển của DN và đánh
giá các cổ phiếu trên Thị trường tài chính. Các yếu tố này tác động đến thu nhập của
các nhà đầu tư. Phân tích tài chính đối với các nhà đầu tư là để đánh giá DN và ước
đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo biểu tài chính, khả năng sinh
lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh
o Đối với người cho vay: Đây là những người cho DN vay vốn để đảm
bảo nhu cầu xản xuất – kinh doanh. Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng
hoàn trả tiền vay. Thu nhập của họ là lãi suất tiền vay. Do đó, phân tích tài chính đối
với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, có
sự khác nhau giữa khoản cho vay ngắn hạn và khoản cho vay dài hạn.
• Đối với cho vay ngắn hạn: người cho vay quan tâm đến khả năng thanh toán
nhanh của DN. Hay đó chính là khả năng ứng phó của DN khi nợ vay đến hạn trả.
• Đối với khoản cho vay dài hạn: người cho vay quan tâm đến khả năng hoàn
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
6
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
trả và khả năng sinh lời của DN mà việc hoàn trả vốn và lãi lại tùy thuộc vào khả
năng sinh lời này.
o Đối với những người hưởng lương trong DN: Thu nhập của những
người hưởng lương trong DN là tiền lương được trả và tiền lời được chia (nếu họ
tham gia cổ phiếu của công ty). Thu nhập này phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN. Do đó, phân tích tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn
định của mình, từ đó mà yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN theo vị trí đã được phân công.
o Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: phân tích tài chính sẽ giúp các cơ
quan Nhà nước đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động
tài chính của DN về mức độ tuân thủ các chính sách, chế độ và quy định của Pháp

- So sánh về số tương đối: là việc xác định phần trăm số tăng (giảm) giữa thực
tế so với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích.
Khi phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng hai phương pháp là phân tích
theo chiều dọc hoặc phân tích theo chiều ngang.
- Phân tích theo chiều ngang: Là việc so sánh cả về số tuyệt đối và số tương
đối của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Qua đó thấy được sự biến động của
từng chỉ tiêu trong kỳ so sánh.
- Phân tích theo chiều dọc: Là việc xem xét xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêu
trong tổng thể qui mô chung. Qua đó thấy được mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu
trong tổng thể.
1.1.3.2 Phương pháp hệ số
Hệ số tài chính được tính bằng cách đem so sánh trực tiếp (chia) một chỉ tiêu
này với một chỉ tiêu khác để thấy được mức độ ảnh hưởng và vai trò của các yếu tố,
chỉ tiêu này đối với chỉ tiêu, yếu tố khác.
1.1.3.3 Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
chính (phương pháp phân tích Dupont)
Mức độ sinh lời vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp là kết quả tổng hợp của
hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của nhà quản trị. Để thấy được mối
quan hệ giữa việc tổ chức, sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm với mức sinh lời
của doanh nghiệp người ta đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân tích sự tác động đó.
Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ đã thiết lập và phân tích mối quan hệ tương tác giữa
các hệ số tài chính. Phương pháp này có tính ứng dụng rất cao trong thực tiễn.
Ngoài ra trong phân tích kinh tế tài chính người ta còn sử dụng các phương
pháp phân tích khác như phương pháp phân tích liên hoàn, phương pháp đồ thị,
phương pháp hồi qui
1.1.4. Tài liệu phân tích
Các thông tin tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua các báo cáo sau:

chính tổng hợp phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh theo từng loại hoạt động của
doanh nghiệp. Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp về phương
thức kinh doanh, việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động kỹ thuật, kinh nghiệm quản
lý của doanh nghiệp và chỉ ra rằng các hoạt động đó đem lại lợi nhuận hay gây ra tình
trạng lỗ vốn.
1.2.1.3Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền (B03-DN) tệ được lập để trả lời những câu hỏi liên quan
đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình trả nợ, đầu tư bằng tiền.
Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau,
mỗi sự thay đổi chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh
hưởng đến báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính phải
được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp
bảng cân đồi kế toán kỳ trước để đọc và kiểm tra bảng cân đối kỳ này. Do đó, để
phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần đọc và
hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ.
1.2.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc
trưng.
Có bốn nhóm chỉ tiêu tài chính chủ yếu được sử dụng trong phân tích tài chính, đó
là:
• Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán.
• Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài sản và nguồn vốn.
• Nhóm chỉ tiêu về tình hình hoạt động.
• Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của DN, nhưng lại có mối liên hệ với
nhau. Và nhiệm vụ của các nhà phân tích là phải tìm hiểu mối liên hệ đó để có thể kết
luận khái quát về toàn bộ tình hình tài chính của DN.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh thể hiện mối quan hệ giữa các loại tài
sản ngắn hạn có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn.
Các loại tài sản được xếp vào loại có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền bao
gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu của khách hàng. Hàng tồn
kho và các khoản ứng trước không được xếp vào tài sản có khả năng chuyển đổi
nhanh thành tiền do ta cần có thời gian để bán chúng và có khả năng mất giá trị cao.
➢ Khả năng thanh toán tức thời.
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền
hiện có và tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong DN. Đây là chỉ tiêu các chủ nợ
ngắn hạn quan tâm để đánh giá tại thời điểm phân tích, doanh nghiệp có khả năng
thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Tất nhiên, không phải tất cả các
khoản nợ ngắn hạn đều cần thanh toán ngay tại thời điểm phân tích. Nhưng nếu có
những khoản nợ đến và quá hạn thì cần xem tại sao doanh nghiệp để phát sinh
những khoản nợ quá hạn nhất là khi doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán tức
thời.
➢ Khả năng thanh toán lãi vay:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này phản ánh khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp. Lãi vay là một
khoản chi phí cố định cho việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp. Nguồn để trả lãi
vay là lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Hệ số này sẽ giúp cho các nhà phân tích thấy
được hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp như thế nào? Lợi nhuận tạo ra có
đủ bù đắp chi phí sử dụng vốn vay hay không?

➢ Cơ cấu tài sản:
Các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản cho phép đánh giá tổng quát quá trình tình hình
phân bổ nguồn lực và các loại tài sản của doanh nghiệp.
Có hai chỉ tiêu quan trọng sau:
TSLĐ và đầu tư tài chính ngắn hạn
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
Hệ số đầu tư vào tài sản ngắn hạn =
Tổng tài sản
= 1 – Hệ số đầu tư vào tài sản dài hạn
TSCĐ và đầu tư tài sản dài hạn
Hệ số đầu tư vào tài sản dài hạn =
Tổng tài sản
= 1 – Hệ số đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Một doanh nghiệp có hệ số đầu tư tài sản dài hạn càng lớn thể hiện mức độ
trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô cũng như năng lực sản xuất kinh doanh
mạnh. Với điều kiện như hiện nay – khi mà yếu tố công nghệ đóng một vai trò rất
quan trọng, nó quyết định tính cạnh tranh – thì đây là một ưu thế của doanh nghiệp.
Hệ số đầu tư tài sản dài hạn cao cũng có thể hiểu về mặt đầu tư dài hạn. Đầu tư dài
hạn là đầu tư cho tương lai. Có thể hiện tại, doanh nghiệp chưa thu hồi được vốn
ngay nhưng về lâu dài, nó đem lại cho doanh nghiệp nhiều cơ hội kiếm lời.
1.2.2.3 Nhóm chỉ tiêu về tình hình hoạt động.
➢ Chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển hàng tồn kho.
Giá vốn hàng bán trong kỳ
Số vòng quay HTK trong kỳ =
Giá trị HTK bình quân trong kỳ
Số vòng quay HTK cho ta biết trong kỳ HTK quay được mấy vòng.

360 ngày

Số vòng quay vốn lưu động =
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này được dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn lưu động, nó cho
biết trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng. Chỉ tiêu này càng lớn nghĩa là vốn
lưu động luân chuyển càng nhanh, giảm các khoản vốn ứ đọng quá lâu trong khâu
dự trữ, khâu sản xuất và khâu lưu thông. Từ đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động. Ngược lại, nếu số vòng quay vốn lưu động quá thấp, doanh nghiệp cần phải
xem xét lại cách quản lý sử dụng, vốn lưu động của mình để có những biện pháp
điều chỉnh kịp thời.
360 ngày
Kỳ luân chuyển vốn lưu động =
Số vòng quay VLĐ
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thực hiện một vòng quay vốn lưu
động. Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng ngắn thì càng giảm thiểu thời gian vốn bị
ứ đọng, do đó vốn lưu động càng được sử dụng hiệu quả và ngược lại.
M1 x ( K1 – Ko)
Mức tiết kiệm vốn lưu động =
360
Trong đó: M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ so sánh
K1, Ko: Kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc.
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ, do tăng tốc độ luân chuyển vốn , doanh
nghiệp có thể đạt được quy mô như cũ nhưng có thể tiết kiệm được một lượng vốn
lưu động là bao nhiêu.
• Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Vốn cố định bình quân

Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
Chỉ tiêu này phản ánh 1đ vốn kinh doanh của doanh nghiệp sử dụng trong kỳ
tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Từ đó, có thể đánh giá được khả năng
quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp là hiệu quả hay không hiệu quả. Vòng quay
vốn kinh doanh lớn là yếu tố quan trọng hàng đầu làm gia tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp, đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của doanh nghiệp.
1.2.2.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong một kỳ nhất định. Do đó, nó thu hút được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng
mà đặc biệt là các nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng. Vì nó gắn liền với lợi ích của
các đối tượng này. Dựa vào kết quả của việc phân tích nhóm chỉ tiêu này mà các đối
tượng quan tâm có thể đưa ra các quyết định: đầu tư hay không đầu tư, bỏ vốn nhiều
hay ít, đầu tư trong thời gian dài hay ngắn Còn đứng về phí doanh nghiệp thì nhìn
vào các chỉ tiêu này, các nhà quản trị có thế tự đánh giá được trình độ quản lý, sử
dụng vốn của mình như thế nào, đem lại kết quả đến mức nào. Từ đó, rút ra được
những kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng vốn và hoạch định chiến lược phát triển
doanh nghiệp trong tương lai.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất LNST trên DTT =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từ 1đ doanh thu thuần. Nó là
thước đo chỉ rõ năng lực của doanh nghiệp trong việc sáng tạo ra lợi nhuận và năng
lực cạnh tranh. Bởi vì, nếu chi phí cá biệt tăng, theo quy luật cạnh tranh doanh
nghiệp không thể tăng giá bán mà phải giảm lợi nhuận của họ. Còn nếu giá bán

Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tạo ra lợi nhuận sau thuế cho các chủ doanh
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
nghiệp tính trên mỗi đồng vốn họ bỏ ra.
• Thu nhập 1 cổ phần (EPS)
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần
phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế.
LNST – Cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi
Thu nhập 1 cổ phần (EPS) =
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
Hệ số EPS cao hơn so với các doanh nghiệp cạnh tranh khác là một trong
những mục tiêu mà các nhà quản lý doang nghiệp luôn hướng tới.
• Cổ tức 1 cổ phần (DIV)
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi cổ phần thường nhận được bao nhiêu đồng cổ tức
trong năm.
Số LNST dành trả cổ tức cho cổ đông thường
Cổ tức 1 cổ phần thường (DIV) =
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
• Hệ số giá trên thu nhập (P/E)
Đây là chỉ tiêu quan trọng thường được các nhà đầu tư sử dụng để xem xét lựa
chọn đầu tư vào cổ phiếu của các Công ty. Hệ số này được xác định bằng công thức
sau:
Giá thị trường 1 cổ phần
Hệ số giá trên thu nhập =
Thu nhập 1 cổ phần
Chỉ tiêu này phản ánh nhà đầu tư hay thị trường trả giá bao nhiêu cho 1 đồng
thu nhập của Công ty. Nhìn chung hệ số này cao là tốt, thể hiện sự đánh giá cao
triển vọng Công ty của nhà đầu tư. Tuy nhiên, khi sử dụng hệ số này phải xem xét
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
nghiệp, so sánh số liệu cuối năm với đầu năm để tìm ra sự thay đổi của từng khoản
mục trên Bảng cân đối kế toán. Mỗi sự thay đổi của từng khoản mục sẽ được xem
xét và phản ánh vào một trong hai cột: “Diễn biến nguồn vốn” hoặc “Sử dụng vốn”
theo cách thức sau:
• Phản ánh vào cột “Diễn biến nguồn vốn” sẽ tương ứng với các khoản mục:
tăng phần nguồn vốn hoặc giảm phần tài sản.
• Phản ánh vào cột “Sử dụng vốn” sẽ tương ứng với các khoản mục: tăng
phần tài sản hoặc giảm phần nguồn vốn.
Sau đó, sắp xếp các chỉ tiêu về diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn dưới hình
thức một bảng cân đối, từ đó đánh giá tổng quát nguồn tiền của doanh nghiệp ở
trong kỳ đã được sử dụng vào mục đích gì? Và các nguồn phát sinh dẫn đến việc
tăng giảm nguồn tiền làm cơ sở định hướng huy động vốn trong kỳ tiếp theo.
1.3 ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
Vốn là yếu tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có một lượng
vốn nhất định. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, tùy theo tính chất hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể có các phương án huy động
vốn khác nhau. Với điều kiện như hiện nay, khi mà thị trường tài chính đang không
ngừng phát triển thì doanh nghiệp càng có nhiều sự lựa chọn trong việc huy động
vốn. Doanh nghiệp có thể huy động từ nội bộ: từ các cổ đông, từ lợi nhuận không
chia, từ người lao động của doanh nghiệp Hay nguồn vốn bên ngoài như vốn vay,
phát hành cổ phiếu mới, thuê tài chính. Nhưng dù là nguồn vốn gì thì doanh nghiệp
cũng phải bỏ ra một khoản chi phí gọi là chi phí sử dụng vốn. Do đó, khi đứng
trước một nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần xem xét tất cả
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04
23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà
cuối cùng thì doanh nghiệp cũng phải hoàn trả. Nhưng muốn trả được thì phải có
nguồn để trả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp sau khi chiếm
dụng được vốn thì thỏa sức sử dụng mà quên đi nghĩa vụ trả nợ, cũng không có kế
hoạch đầu tư, sử dụng vốn một cách hợp lý. Nợ ngắn hạn thì đem đầu tư cho tài sản
dài hạn. Và khi các chủ nợ đòi nợ, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn thì doanh
nghiệp không kịp thu hồi vốn để trả nợ. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán, và dần đánh mất uy tín của mình trong con mắt của nhà cung cấp,
các ngân hàng Do đó, điều cần thiết là doanh nghiệp phải xác định được giới hạn
của số vốn đang chiếm dụng. Không phải bao giờ chiếm dụng càng nhiều vốn cũng
đều có kết quả tốt, mà còn phải xét đến yếu tố an toàn tài chính cho doanh nghiệp.
Khi lượng vốn chiếm dụng quá lớn mà lại không có kế hoạch sử dụng hiệu quả,
không dự tính nguồn để trả nợ thì doanh nghiệp có nguy cơ không thể thanh toán
nổi. Và khi đó, phá sản là điều tất yếu. Việc quản lý tốt loại vốn này không những
đảm bảo khả năng thanh toán mà nó còn tạo điều kiện cho việc quản lý vốn bằng
tiền. Doanh nghiệp nên lập bảng theo dõi từng khoản nợ cụ thể với đầy đủ thông tin
về số tiền phải trả, thời gian hoàn trả. Dựa vào bảng này, nhà quản lý có thể chủ
động trong việc dự trữ lượng tiền mặt hợp lý, để vừa tránh tình trạng ứ đọng mà
doanh nghiệp vẫn có thể đối phó với các khoản nợ đến hạn.
1.3.4 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý đối với khách hàng.
Khách hàng thì bao giờ cũng muốn mua hàng nhưng chưa muốn trả tiền.
Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được sản phẩm thì phải bán chịu cho khách hàng. Điều
này dẫn đến một lượng vốn của doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng trong khâu thanh
toán. Nếu việc quản lý lượng vốn này không tốt, doanh nghiệp sẽ không có đủ vốn
để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Do đó, với tư cách là
chủ nợ, doanh nghiệp phải đưa ra chính sách tín dụng hợp lý, lập kế hoạch kiểm
soát các khoản phải thu. Dựa vào từng mục đích cụ thể: xâm nhập thị trường, giữ
chân cách khách hàng lớn hay thiết lập mạng lưới phân phối rộng khắp mà doanh
nghiệp sẽ áp dụng cho từng chính sách tín dụng tương ứng. Doanh nghiệp nên phân
loại, theo dõi các khoản phải thu của từng đối tượng khách hàng, đánh giá mức độ

điểm hòa vốn thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng và có thể mất khả năng thanh toán.
SV: Doãn Hữu Công Lớp:CQ47/11.04

Trích đoạn Tận dụng tác động của hệ thống đòn bẩy: đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính. KHÁI QUÁT VÀI NÉT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status