Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
I.PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
I.1.1.Cơ sở lý luận:
Hiện nay và trong tương lai, xã hội loài người đang và sẽ phát triển tới một hình nữa
" xã hội có sự thống trị của tri thức " dưới tác động của sự bùng nổ về khoa học và công
nghệ. Cùng nhiều yếu tố khác. Nhà trường không thể dạy cho học sinh tất cả, bất kỳ
trường nào cũng chỉ cung cấp cho con người khối lượng kiến thức có hạn. Điều quan
trọng mà nhà trường cần trang bị cho học sinh đó là tiềm lực, là phương pháp chiếm lĩnh
tri thức.
Nghị quyết hội nghị lần thứ VI của BCH trung ương Đảng khóa VII đã khẳng định: "
Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, các bậc học . . . áp dụng những
phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng
lực giải quyết vấn đề ". Đổi mới phương pháp dạy học không phải chỉ là một thủ pháp,
thay đổi biện pháp mà là sự chuyển đổi cơ bản của lối dạy học giáo điều theo thông tin
tiếp thu sang lối dạy tích cực, chủ động, sáng tạo.
" Tìm biện pháp để nâng cao hiệu quả giờ dạy luyện tập cũng là một hướng đáp ứng
phương pháp dạy học như vậy ".
Xuất phát từ điền khẳng định: Mỗi nội dung dạy học đều liên quan mật thiết với
những hoạt động nhất định. Quá trình dạy học là quá trình điều khiển hoạt động và giao
lưu của học sinh nhằm thực hiện mục đích dạy học.
I.1.2. Cơ sở thực tiễn:
Qua quan sát và thăm lớp - dự giờ từ những năm học trước tôi nhận thấy: Học
sinh thường không thích những giờ luyện tập, giáo viên thì thường không chọn những giờ
luyện tập để thao giảng.
Đã từ lâu, vấn đề dạy một giờ luyên tập cũng như ôn tập chương như thế nào được
hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên dạy toán nói riêng quan tâm.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh 1
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
Đây là một loại giờ dạy khó, cần đầu tư nhiều thời gian và trí tuệ.
Hơn thế nữa với bộ môn theo chương trình sách giáo khoa mới một giờ dạy luyện
I.3.3.3. Giới hạn về khách thể khảo sát:
- Học sinh trường THCS Đông Ngũ.
- Môn toán Bậc THCS.
I.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu lí luận liên quan.
- Nghiên cứu thực tiễn.
- Phỏng vấn.
- Điều tra qua phiếu.
- Phân tích tổng hợp.
- Tổng kết kinh nghiệm.
- Thực nghiệm giáo dục.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh 3
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
I.5. ĐÓNG GÓP VỀ MẶT LÝ LUẬN, VỀ MẶT THỰC TIỄN:
+ Cơ sở lý luận:
Để nâng cao hiệu quả của giờ luyện tập thì dù với biện pháp nào cũng phải thông qua
các hoạt động của học sinh, quan điểm “luyện tập là hoạt động tích cực để chiếm lĩnh
kiến thức và đạt kĩ năng áp dụng”. Trước hết phải thấy được quá trình dạy học là quá
trình triển khai hoạt động và giao lưu của học sinh nhằm thực hiện những mục đích dạy
học.
Học tập là một quá trình xử lí thông tin, quá trình này có các chức năng đưa thông tin
vào, ghi nhớ thông tin và điều phối. Học sinh thực hiện những chức năng này bằng những
hoạt động của mình.
Hoạt động thúc đẩy sự phát triển là hoạt động mà chủ thể thực hiện một cách tự giác
và tích cực. Vì vậy cần cố gắng gây động cơ để học sinh có ý thức thực hiện hoạt động
+ Cơ sở thực tiễn:
- Xây dựng các mô hình mới trong dạy học tiết luyện tập môn toán.
- Hệ thống các dạng bài tập khi thực hiện dạy tiết luyện tập.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh 4
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
Thực trạng chúng ta thường thấy trong các giờ luyện tập là:
- Giáo viên yêu cầu học sinh liệt kê và nhắc lại nội dung các kiến thức đã học trong
giờ luyện tập (Theo thứ tự các mục trong bài).
- Giáo viên cho học sinh ghi lại các nội dung cơ bản của các kiến thức đó.
- Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh giỏi một số bài luyện tập ( trong sách
giáo khoa).
Dẫn đến tình trạng cả học sinh và giáo viên đều không thích học và dạy giờ luyện
tập.
Cũng từ thực trạng đó dẫn đến khả năng nhớ – tổng hợp kiến thức, tìm ra mối quan
hệ giữa các đơn vị kiến thức để vận dụng giải các bài tập tổng hợp không tốt.
II.2.2. Đành giá thực trạng:
a. Về phía giáo viên.
- Thiên về cung cấp bài dạy cho học sinh một cách thụ động: Thương chỉ nhắc
lại những kiến thức đã học rồi cho làm một số bài tập ( giáo viên chỉ ra)
- Thường chỉ chú ý số lượng hơn chất lượng giờ luyện tập: Thường bằng lòng
và kết thúc giờ luyện tập bằng việc: Đã điểm lai được hết các nội dung kiến
thức đã học trong giờ luyện tập và đã hướng dẫn giải được một số bài tập.
b. Về phía học sinh.
- Quen với việc tiếp thu kiến thức từ thầy một cách thụ động.
Với đặc điểm tâm lí lứa tuổi ( 11 – 15 tuổi): Ham chơi, nhu cầu “tự nghiên cứu” để
nâng cao kiến thức rất ít nên nếu không được sự quan tâm, dìu dắt của thầy thì việc chỉ
biết chép lại và học những gì thầy cho ghi là điều dễ xảy ra.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh 6
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
II.3.CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY TIẾT LUYỆN TẬP MÔN TOÁN THCS:
II.3.1. Đề xuất biện pháp:
+ Thực hiện các mô hình mới để dạy tiết luyện tập:
Mô hình dạy tiết luyện tập:
- Mô hình chung : Kiểm tra lý thuyết
+bx +c = 0 (a ≠ 0)và biệt thức ∆ =b
2
-4ac
+.Nếu ∆ thì phương trình có hai nghiệm phân biệt
x
1
= ; x
2
=
+.Nếu ∆ thì phương trình có x
1
=x
2
=
+Nếu ∆ < 0 thì phương trình
HS2:Chữa bài tập 15d (SGK tr 45)
Không giải phương trình hãy xác định hệ số a, b, c, tính ∆ và tìm số nghiệm của
phương trình: d. 1,7x
2
-1,2x-2,1= 0
Lời giải: a = 1,7 ; b = -1,2 ; c =-2,1
∆ =b
2
- 4ac =(-1,2)
2
-4.1,7.(-2,1) = 1,44+14,28 = 15,72>0
Do đó phương trình có hai nghiệm phân biệt
- Sau khi HS 2 đã hoàn thiện giáo viên chữa bài ,đánh giá ,cho điểm
- Giáo viên đặt tiếp câu hỏi cho học sinh dưới lớp:
+Để xác định số nghiệm trong phần d ta còn cách làm nào khác không?
b
a
− + ∆
=
1 11
12
− −
=-1
Sau khi học sinh chữa xong bài tập 16c giáo viên có thể hỏi thêm
+Để giải phương trình bậc hai theo công thức nghiệm ta phải thực hiện qua
những bước nào ?
HS trả lời
1.Tính chính xác ∆
2.Căn cứ vào dấu của ∆ rồi tính nghiệm
Qua phần kiểm tra tôi biết được sự chuẩn bị bài của học sinh ,khả năng vận dụng lí
thuyết vào làm bài tập.
2.Dạng bài tập luyện kỹ năng
Bài 1: Giải các phương trình sau
a,x
2
-6x+9= 0 b,-3x
2
+5x- 2 = 0 c,x
2
-5x+7= 0
Bài giải
Cách 1: a,x
2
-6x+9 = 0
∆ = b
2
= 0
⇔
( )
3x −
( )
3x −
= 0
⇔x
1
= x
2
= 3
- Thông qua bài tập này giáo viên cần chú ý cho học sinh ,khi giải phương trình
bậc hai cần chú ý xem phương trình có gì đặc biệt ? nếu không ta áp dụng công thức
nghiệm để giải.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh 9
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
b,-3x
2
+5x-2= 0
a = -3 ; b=5 ; c=-2
∆ =b
2
-4ac =(5)
2
- 4.(-3).(-2)= 25-24=1>0
∆
=1
Phương trình có hai nghiệm phân biệt
2
-2x -
2
3
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đưa về phương trình bậc hai với hệ số nguyên
bằng cách quy đồng ta được phương trình
x
2
-6x -2= 0
a=1 ; b=-6 ; c=-2
∆=(-6)
2
- 4.(-2)= 36+8=44>0
∆
=
44
= 2
11
Phương trình có hai nghiệm phân biệt
x
1
=
6 2 11
2
+
=3+
11
;
x
2
=
0 6 5
6
+
−
=
5−
; x
2
=
0 6 5
6
−
−
=
5
Cách 2 -3x
2
+15= 0
⇔-3x
2
=-15
⇔ x
2
= 5
⇔ x =
5±
Phương trình có hai nghiệm: x
1
=
1
12
Với m
≠
0 và m
≤
1
12
thì phương trình
(1) có nghiệm
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh11
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
-GV có thể đặt thêm câu hỏi
+Tìm điều kiện của m để phương trình vô nghiệm?
-Giáo viên lưu ý cho học sinh cần điều kiện a
≠
0
⇔
m
≠
0
2.Ví dụ 2: Tiết 41:Luyện tập –sau bài góc nội tiếp
Dạng 1:Bài tập kiểm tra
HS 1:Phát biểu định nghĩa góc nội tiếp .Vẽ góc nội tiếp 30
0
?
HS 2:Trong các câu sau câu nào đúng ,câu nào sai ? Nếu sai sửa lại cho đúng ?
a. Các góc nội tiếp chắn các cung bằng nhau thì bằng nhau.
b. Góc nội tiếp bao giờ cũng có số đo bằng nửa số đo của góc ở tâm cùng chắn một
và B.Vẽ đường thẳng qua A cắt
(
O
)
tại M và cắt
(
O’
)
tại
N
(
A nằm giữa M và N
)
.Hỏi tam giác MBN là tam giác
gì? Tại sao ?
Lời giải
Do hai đường tròn bằng nhau nên hai cung nhỏ AB
bằng nhau vì cùng căng dâyAB
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh12
D
E
C
O
A
B
F
A
O
B
O
Xét hai tam giác MAD và MCB ,chúng có :
·
AMD
=
·
BMC
( đối đỉnh)
Do đó ∆MAD ∼∆MCB(g.g)
Suy ra :
MA
MC
=
MD
MB
.
Do đó MA.MB =MC.MD
b.M ở bên ngoài đường tròn
Tương tự, ∆MAD ∼∆MCB(g.g)
Vì có :
¶
M
chung
µ
B
=
µ
D
( Hai góc nội tiếp cùng chắn cung AC)
Suy ra
A
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
Từ phần b của bài tập 23 giáo viên đặt câu hỏi để phân tích bài toán
+Nếu một đường thẳng qua M chỉ có một điểm chung với đường tròn thì kết luận trên
được thay đổi như thế nào?
Giáo viên gợi ý : Điểm A và B có vị trí như thế nào so với nhau?
HS: A và B trùng nhau nên ta có kết luận:
MA
2
=
MB.MC
Để chứng minh kết luận này ta xét hai trường hợp:
+Trường hợp AB là đường kính (Bài tập 22)
+Trường hợp AB không là đường kính
GV gợi ý :Chứng minh
MAC
∆
∼
MDA∆
Vì
¶
M
chung
·
MAC
=
·
MDA
BED
=
·
BAD
+
·
ABC
(tính chất góc ngoài của tam giác AEB)
·
BED
=
1
2
(sđ
»
BD
+ sđ
»
AC
)
Tương tự học sinh rút ra được kết luận tiếp theo
·
BMD
=
·
BAD
-
·
d. Hai đường thẳng phân biệt thì hoặc cắt nhau, hoặc song song.
e. Hai tia phân biệt là hai tia không có điểm chung
f. Hai tia đối nhau cùng nằm trên một đường thẳng.
g. Hai tia cùng nằm trên một đường thẳng thì đối nhau.
h. Ví dụ 2: Dạy học bài điểm thuộc đường thẳng – toán 6 tập 1.
i. Điền vào chỗ trống trong bảng dưới đây:
Cách viết thông thường Hình vẽ Kí hiệu
• M
M
M∈a
a
N∉a
j.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh15
a
•
M
•
M
a
a
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
k. Ví dụ 3: Dạy học bài điểm thuộc đường thẳng – toán 6 tập 1.
l. Điền vào chỗ trống trong bảng dưới đây:
m. Yêu cầu học sinh phải điền vào ô trống cả hình vẽ và kí hiệu
Cách viết thông thường Hình vẽ Kí hiệu
Điểm M
M∈a
Đường thẳng a
* Để nâng cao hiệu quả của một giờ dạy luyện tập thì phải cần thực hiện những
dựa trờn cừ sở nội dung lý thuyết đó học và phự hợp với đa số học sinh một lớp,
thông qua hệ thống bài tập đó được sắp xếp theo chủ ý của giáo viên.
3/ Ba là, thông qua phương pháp và nội dung rồi luyện cho học sinh nề nếp làm
việc có tính khoa học, phương pháp tư duy cần thiết.
* Quy trình soạn bài:
1) Ngh iên cứu tài liệu :
-Trước hết phải nghiên cứu lại phần lý thuyết mà học sinh được học. Qua đó phải xác
định kiến thức nào là kiến thức cơ bản, trọng tâm, kiến thức nào nõng cao, mở rộng
cho phộp.
Tiếp theo là nghiờn cứu cỏc bài tập trong SGK, sỏch bài tập theo yờu cầu sau:
a) Cỏch giải từng bài toán như thế nào?
b) Cú thể cú bao nhiờu cỏch giải bài toỏn này.
c) Cỏch giải nào là thường gặp? Cỏch giải nào là cơ bản?
d) Ý đồ của tỏc giả đưa ra bài toán này để làm gỡ ?
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh17
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
e) Mục tiờu và tỏc dụng của từng bài tập như thế nào?
- Nghiờn cứu sỏch tham khảo, sỏch giỏo viờn kỹ sau đó tập trung xõy dựng nội dung
tiết luyện tập và phương pháp luyện tập.
2) Nội dung bài soạn:
a) Mục tiờu của tiết luyện tập.
b) Cấu trỳc tiết luyện tập:
b.1- Chữa cỏc bài tập cũ kỳ trước:
- Số lượng bài tập, dự kiến thời gian.
- Chốt lại vấn đề gỡ qua cỏc bài tập này ?
b.2-Cho học sinh làm bài tập mới.
( Chọn trong SGK, SBT hay GV soạn ra.)
- Số lượng bài tập, dự kiến thời gian.
- Bài tập đưa ra có dụng ý gỡ ?
b.3- Hướng dẫn học sinh học bài, làm bài ở nhà sau tiết bài tập.
+ Điền vào chỗ trống
+ Trắc nghiệm
- Cũng có thể giáo viên hướng dẫn để học sinh tự lập các bảng hệ thống mà
kiến thức trong bảng có liên quan đến nhau theo cả hàng lẫn cột, tận dụng sơ
đồ đó để hệ thống lại kiến thức. Có thể giáo viên để lại một số kiến thức cho
học sinh tự điền chiều mũi tên, điền vào ô trống.
Phần bài tập:
Giáo viên cần chọn những bài có nội dung tổng hợp nhiều kiến thức liên quan đến
phần luyện tập hình học để qua đó một lần nữa giáo viên có thể khắc sâu trọng tâm của
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh19
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
giờ dạy luyện tập, hệ thống và nâng cao, mở rộng thêm kiến thức đã học. Những bài tập
này cũng cần cho học sinh chuẩn bị trước hoặc làm trước một số phần của bài.
- Chuẩn bị nhiều phương án, nhiều hình thức luyện tập để tiết dạy trở nên nhẹ
nhàng không gây căng thẳng cho cả thầy và trò. Có như thế tiết học mới đạt hiệu
qua cao.
2.Công việc chuẩn bị của học sinh:
- Học sinh nên có một quyển sổ nhỏ để sau khi học xong mỗi bài các em ghi lại
một cách tóm tắt kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài đó theo cách ghi của mình.
- Trả lời các câu hỏi trong giờ luyện tập mà giáo viên yêu cầu.
- Lập một số bảng, biểu theo sự hướng dẫn của giáo viên.
- Khuyến khích, động viên các em tự thiết kế được các bảng biểu riêng của mình.
* Xác định vị trí, mục đích, yêu cầu trọng tâm của giờ luyện tập
- Giáo viên cần xác định rõ vị trí của giờ luyện tập trong chương trình tên bài chính
là nội dung kiến thức cơ bản xuyên suốt giờ luyện tập.
- Ngay từ khi lập kế hoạch bộ môn, giáo viên phải nghiên cứu kĩ kiến thức để yêu
cầu trọng tâm. Từ đó giáo viên hướng dẫn học sinh để học sinh tìm ra mối liên hệ
giữa các kiến thức trọng tâm của bài với các kiến thức khác. Cụ thể : Phải xây
dưng được mối liên hệ ấy thông qua các bảng, biểu, sơ đồ, hệ thống kiến thức
( mà giáo viên phải có sẵn), sự liên hệ giữa các kiến thức ấy với thực tế.
1/ Bước 1: nhắc lại một cách có hệ thống các nội dung lý thuyết đó học, chú ý đến
phương pháp giải các dạng toán
Sau đó giáo viên có thể mở rộng phần lý thuyết ở mức độ phổ thụng nếu cần thiết.
* Giáo viên nên thể hiện thông qua phần kiểm tra bài cũ đầu tiết học.
2/ Bước 2:
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh21
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
- Cho học sinh trỡnh bày lời giải các bài tập đó làm ở nhà mà giáo viên đó qui định,
nhằm kiểm tra sự vận dụng lý thuyết trong việc giải cỏc bài tập của học sinh.
* Kiểm tra kỹ năng: tính toán, diễn đạt bằng ngôn ngữ, ký hiệu, trình bày lời giải của
học sinh.
- Sau đó cho học sinh của lớp nhận xét ưu khuyết điểm trong lời giải, đánh giá đúng
sai, hoặc đưa ra cách giải khác hay hơn.
- Giáo viên chốt lại vấn đề theo nội dung sau:
Phân tích những sai lầm và nguyên nhân dẫn đến những sai lầm dd dos( nếu có).
Khẳng định những chỗ làm đúng, làm tốt của học sinh để kịp thời động viên
Đưa ra những cách giải khác ngắn gọn hơn, hay hơn hoặc vận dụng lý thuyết linh
hoạt hơn( nếu có thể).
3/ Bước 3:
Giỏo viờn cho học sinh làm một số bài tập mới ( cú trong hệ thống bài tập mà HS
chưa làm hoặc GV biên soạn theo mục tiêu đề ra của tiết luyện tập) của các tiết luyện
tập nhằm mục đích :
- Kiểm tra ngay sự hiểu biết của học sinh phần lý thuyết mở rộng mà giáo viện đưa ra
ở đầu giờ học (nếu có).
- Khắc sâu hoàn thiện lý thuyết qua các bài tập có tính chất phản ví dụ, các bài tập vui
có tính thiết thực.
PHƯƠNG ÁN 2
1/ Bước 1:
Cho HS trình bày lời giải các bài tập cũ đó cho HS làm ở nhà., nhằm kiểm tra:
- HS hiểu lý thuyết đến đâu.
Phần bài tập: Kẻ bảng theo mẫu
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh23
Thứ tự
Kĩ thuật dạy học tiết “Luyện tập” môn toánTHCS
Thể loại
chính
Phương
pháp giải
chính
Kiến thức
áp dụng
Kĩ năng
cơ bản
Mối quan
hệ
Mở rộng Chú ý
Sau đó cho học sinh luyện tập các bài tập cụ thể. Với mỗi bài tập giáo viên nên biết
định hướng, hướng dẫn thì học sinh sẽ nhanh chóng phát hiện tìm ra con đường đi đến lời
giải và sau đó lại biết cách khai thác các bài toán vừa giải để tìm ra các bài toán tương tự,
từng bước hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh, đây cũng là giải pháp quan trọng để
thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường THCS hiện nay.
PHƯƠNG ÁN 4
Giáo viên cũng chia nội dung luyện tập thành hai phần: Lý thuyết và bài tập.
*Phần lý thuyết:
- Sử dụng hình thức trắc nghiệm: Đúng / sai hoặc trắc nghiệm có nhiều lựa chọn.
- Điền vào ô trống trong bảng cho sẵn.
Bảng này giáo viên cho học sinh chuẩn bị ở nhà, đến giờ luyện tập giáo viên và học
sinh thống nhất kết quả trên bảng tổng kết.
* Phần bài tập: Giáo viên sử dụng các thể loại bài tập sinh động dưới nhiều hình thức
khác nhau: Trắc nghiệm, tự luận, lựa chọn kết quả song cần chú ý đến tính hệ thống
Không thích học
Kết quả: Đầu năm : chỉ có 10% HS chọn môn Toán.
Đinh Tuấn Mạnh – THCS Đông Ngũ – Tiên Yên – Quảng Ninh25