SKKN: PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU KHI GIẢNG DẠY BÀI TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA HIĐRÔ TRONG CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC LỚP 8 THCS - Pdf 24


“PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU KHI GIẢNG DẠY BÀI
"TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA HIĐRÔ" TRONG CHƯƠNG TRÌNH HOÁ
HỌC LỚP 8 - THCS.”
I - ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong quá trình dạy học môn hoá học, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan
trọng. Thí nghiệm là cơ sở của việc học hoá và rèn luyện kỹ năng thực hành.
Thông qua thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững chắc và
sâu sắc. Học sinh được phát triển tư duy logic, phát triển thế giới quan duy vật
biện chứng và củng cố niềm tin vào khoa học. Qua đó học sinh được hình thành
những đức tính tốt của người lao động mới: Thận trọng, ngăn nắp, gọn gàng
Thí nghiệm hoá học thể hiện, rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau
như: Thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành, thí nghiệm nghiên cứu, thí
nghiệm ngoại khoá Mỗi hình thức thí nghiệm đều có ưu điểm riêng, phù hợp
với từng đối tượng học sinh và từng phần kiến thức mà học sinh cần nắm bắt. Đối
với chương trình hoá học lớp 8. Nhằm mục đích cung cấp cho học sinh những
khái niệm, luật định, lý thuyết mở đầu của hoá học (tập trung chủ yếu ở chương 1
và chương 2).
Bên cạnh đó chương trình còn coi trọng việc bồi dưỡng cho học sinh những
kỹ năng cơ bản của bộ môn đó là:
- Kỹ năng quan sát thí nghiệm, nhận xét, rút ra kết luận.
- Kỹ năng so sánh, phân loại, tập vận dụng kiến thức vào thực tế.
- Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu nội dung hoá học.
Để rèn cho học sinh những kỹ năng ở trên, đa số các bài giảng ở chương 3
và chương 4 đều cần sử dụng đến thí nghiệm hoá học. Trong số các phương pháp
sử dụng thí nghiệm hoá học thì phương pháp sử dụng thí nghiệm nghiên cứu
được đánh giá là phương pháp có giá trị trí, đức, dục lớn nhất.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở THCS, khi sử dụng phương pháp thí
nghiệm nghiên cứu tôi thấy có nhiều ưu điểm:
- Học sinh có ý thức tự nghiên cứu tìm tòi, tự học, sáng tạo trong tư duy.
- Nắm bắt kiến thức nhanh, vận dụng linh hoạt vào giải bài tập hoá học.

a) Thuận lợi:
- Giáo viên: Đã qua thực tế nhiều năm công tác giảng dạy bộ môn. Tham
gia đầy đủ các lớp tập huấn về đổi mới, phương pháp dạy học, sử dụng thiết bị thí
nghiệm. Trong các năm qua, tôi đã tham dự và đạt giáo viên dạy giỏi các cấp.
Bên cạnh đó tôi được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường và các đồng nghiệp tạo
điều kiện trau dồi nghiệp vụ, sinh hoạt chuyên môn.
- Học sinh: Trường ở địa bàn thị trấn, học sinh có truyền thống hiếu học
nên đa số các em thông minh, chăm chỉ, thích học môn Hoá.
b) Khó khăn:
- Bộ thiết bị thí nghiệm môn hoá được trang bị từ lâu, đến nay một số dụng,
hoá chất đã hư hỏng.
- Một số ít học sinh do mới làm quen với môn Hoá nên chưa ý thức cao về
việc phải thận trọng trong khi làm thực hành thí nghiệm.
2. Điều tra và khảo sát:
a) Đối tượng học sinh:
Năm học 2013 - 2014 tôi được phân công giảng dạy bộ môn hoá học lớp 8,
Trường THCS Yên Bái. Dựa vào kết quả học tập năm trước, các em học rất tốt
các môn tự nhiên.
b) Khảo sát lực học bộ môn đầu năm:
Sau khi học xong bài mở đầu, chất. Học sinh được tìm hiểu tính chất của
một chất cụ thể đó là Lưu Huỳnh, dựa vào phương pháp thí nghiệm biểu diễn của
giáo viên. Giáo viên kiểm tra khảo sát sự nắm bắt kiến thức của học sinh bằng

3

câu hỏi: Em hãy nêu những biểu hiện được coi là tính chất của chất? Cho ví dụ
đối với Lưu Huỳnh.
Kết quả như sau:
Tổng số HS Điểm 9, 10 Điểm 7, 8 Điểm 5, 6 Điểm 4 Điểm 0 - 3
54 15 20 10 2 0

khi cháy trong không khí? Trong trường hợp nào thì Hiđrô cháy êm ả, trường hợp
nào thì nổ.
2. Phương pháp:
Giáo viên kết hợp linh hoạt các phương pháp: đàm thoại, thí nghiệm,
nghiên cứu, học sinh thảo luận nhóm giáo viên nêu vấn đề và học sinh là đối
tượng chính để giải quyết vấn đề.
Trong phạm vi bài viết này tôi xin nêu ví dụ cụ thể về việc sử dụng phương
pháp thí nghiệm nghiên cứu khi giảng dạy phần 1: Tính chất hoá học của Hiđrô.
3. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
- Chuẩn bị thí nghiệm đốt Hiđrô không khí và trong oxi gồm bình kíp điều
chế Hiđrô có ống dẫn khí đầu vuốt nhọn, đèn cồn, chậu thuỷ tinh đựng nước và
ống nghiệm để thử độ tinh khiết của Hiđrô. 2 cốc thuỷ tinh khô trong suốt, lọ
đựng khí oxi, ống nghiệm chứa sẵn hỗn hợp nổ Hiđrô và oxi trộn theo tỷ lệ thể
tích là 2: 1, phiếu học tập cho từng nhóm.
Chuẩn bị thí nghiệm tác dụng của Hiđrô với đồng (II) oxit. Mỗi nhóm 2
ống nghiệm đựng đồng (II) oxit (để làm thí nghiệm và kiểm chứng), 1 đèn cồnm
1 bình kíp đơn giản điều chế Hiđrô, 1 đế sứ.
4. Sử dụng phương pháp thí nghiệm nghiên cứu khi dạy bài mới:
a) Nghiên cứu phản ứng với oxi:
Đây là một trong những nội dung trọng tâm của bài học, khi giảng phần
này tôi đã sử dụng phương pháp thí nghiệm nghiên cứu để học sinh tự lập tìm tòi
kiến thức mới vì các em được trực tiếp làm thí nghiệm nghiên cứu và độc lập
nhận xét kết quả nên các em sẽ nắm vững kiến thức một cách sâu sắc. Tuy nhiên
sự dẫn dắt của giáo viên để các em nghiên cứu đúng hướng cũng rất quan trọng.
Khi dạy phần này tôi thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đặt vấn đề, hướng dẫn học sinh dự toán tính chất, tìm phương pháp
nghiên cứu.
Dựa vào chương 3 đã được học một chất cụ thể là oxi, nó tác dụng được
với nhiều đơn chất và hợp chất. Vậy đơn chất Hiđrô có tác dụng với oxi không?
Nếu Hiđrô cháy được trong oxi thì dự toán sản phẩm là chất gì?

- Thu dọn dụng cụ, hoá chất.
- Cả nhóm thảo luận nhanh và cử 1 học sinh ghi kết quả vào phiếu học tập.
Phiếu học tập số 1
Nhóm:
* Nhận xét hiện tượng khi đốt Hiđrô trong không khí và trong oxi
A - Dấu hiệu nào nhận ra Hiđrô đã tinh khiết?
B - Hiđrô có cháy trong không khí không? Màu sắc của ngọn lửa?
C - So sánh hiện tượng Hiđrô cháy trong không khí với cháy trong oxi?
Giải thích sự khác nhau đó.
D - Nhận xét sản phẩm cháy: Thành cốc thuỷ tinh có hiện tượng gì?

6

Chứng tỏ có chất gì tạo thành?
Nhiệt độ ở thành cốc thuỷ tinh thay đổi như thế nào? Suy ra điều gì?
E - Kết luận về sự cháy của Hiđrô trong không khí và trong oxi?
F - Viết phương trình phản ứng xảy ra?
Bước 4: Học sinh báo cáo kết quả thí nghiệm:
Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm đọc báo cáo kết quả của 1 ý, các nhóm khác
theo dõi so sánh với kết quả của nhóm mình và nhận xét, rút ra kết luận.
Giáo viên chỉnh lý, bổ sung thêm một vài kiến thức mà học sinh chưa phát
hiện được. Sau đó chỉ ra những kiến thức cơ bản mà học sinh cần lĩnh hội và khắc
sâu.
Bước 5: Giáo viên khắc sâu kiến thức:
Đặc vấn đề hỗn hợp nổ: Nếu trộn Hiđrô với khí oxi để đốt thì phản ứng sẽ
xảy ra như thế nào? (Nhanh hơn). học sinh dự đoán hiện tượng? (Gây tiếng nổ,
tiếng nổ mạnh, nhất khi trộn tỷ lệ thể tích giữa Hiđrô với oxi là 2: 1).
Giáo viên làm thí nghiệm nghiên cứu: đốt hỗn hợp Hiđrô lẫn với oxi. Với
thí nghiệm này gây tiếng nổ rất to nên nếu để học sinh làm thí nghiệm thì không
an toàn. Học sinh nghiên cứu bằng cách dự đoán, quan sát hiện tượng, giải thích

- Hiđrô còn tác dụng với những oxit nào khác?
- Kết luận về tính chất hoá học của Hiđrô?
Bước 4: Học sinh báo cáo kết quả thí nghiệm.
Các nhóm bổ sung thêm, giáo viên chỉnh lý.
Bước 5: Kết luận và khắc sâu kiến thức.
- Ở nhiệt độ thường Hiđrô không tác dụng với CuO.
- Khi dẫn khí Hiđrô và CuO nung nóng, ta thấy thành ống có hơi nước
ngưng đọng và bột CuO màu đen chuyển dần thành bột đồng màu đỏ.
- Phản ứng được biểu diễn bằng PT hoá học sau
CuO + H
2

0
t
=
H
2
O + Cu
- Ngoài ra H
2
còn tác dụng với một số oxit kết luận khác như: PbO, HgO
- Kết luận: ở nhiệt độ thích hợp, khí Hiđrô không những hoá hợp được với
đơn chất oxi, mà nó còn có thể hoá hợp với nguyên tố oxi trong một số oxit kim
loại, những phản ứng này đều toả nhiệt.
- Giáo viên nêu câu hỏi gợi mở cho phần sau:
Trong phản ứng trên, chất nào đã chiếm nguyên tố oxi trong CuO, phần sau
các em sẽ nghiên cứu đến vai trò của Hiđrô trong phản ứng đó.
Với cách giảng dạy theo phương pháp trên tôi thấy rằng học sinh rất hào
hứng khi được học giờ hoá, các em đã có ý thức học tập tiến bộ hơn, say mê tìm
tòi, phát hiện kiến thức trong giờ học và liên hệ thực tiễn nhiều hơn.

động, hăng say, sáng tạo và tự giác.
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã kết hợp hài hoà nhiều phương pháp dạy
học và nhiều phương tiện dạy học. Trong đó sử dụng phương pháp thí nghiệm
nghiên cứu được coi là một thế mạnh trong giờ dạy hoá học. Hiệu quả giờ dạy đạt
ở mức độ cao hơn, học sinh có hứng thú học tập bộ môn tốt hơn.
V - BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Qua thực tế giảng dạy hoá học thông qua việc sử dụng tích cực phương
pháp thí nghiệm nghiên cứu và kết quả học tập của các em học sinh, tôi tự rút ra
một số kinh nghiệm sau:
- Giáo viên phải luôn tận tâm với nghề nghiệp, đầu tư thời gian để chuẩn bị
bài dạy.

9

- Kết hợp hài hoà các phương pháp dạy để gây hứng thú học tập cho học
sinh như: thảo luận nhóm, tự luận, trò chơi
- Tích cực tham gia các chuyên đề về phương pháp giảng dạy hoá, luôn cập
nhật các phương pháp dạy học mới.
- Phải có yêu cầu nghiêm khắc với học sinh khi làm thí nghiệm: nghiêm
túc, thận trọng, gọn gàng
- Thường xuyên thăm lớp, dự giờ đồng nghiệp.
- Giáo viên luôn có ý thức bồi dưỡng chuyên môn để nâng cao trình độ
bằng nhiều hình thức để bài giảng vừa phong phú, vừa sâu.
VI - KẾT LUẬN:
Trên đây là một số kinh nghiệm giảng dạy hoá học bằng phương pháp thí
nghiệm nghiên cứu của tôi trong những năm qua. Tôi nghĩ rằng những kinh
nghiệm của mình còn rất nhỏ bé và mới chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp tại
trường THCS Yen Bái. Song phần nào đó cũng có kết quả cao hơn so với trước
kia khi chưa có phương tiện dạy học trong mỗi giờ học. Tạo cho học sinh có hứng
thú học tập bộ môn rèn luyện nhiều kỹ năng cho học sinh đồng thời thông qua bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status